MỤC LỤC
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ VIỆT NAM ................................................... 32
SANG HOA KỲ ....................................................................................................................... 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................98
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ giai đoạn
2001-2006..............................................................................................42
Biểu đồ 2: Cơ cấu sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ..............44
Bảng 1.1: Kim ngạch nhập khẩu đồ gỗ và nội thất của Hoa Kỳ mã HTS 94
giai đoạn 2001-2006. ..................................................................................
Bảng 1.2: Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng đồ gỗ mã HS-9403 của Mỹ
giai đoạn 2001-2006 ...................................................................................
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam giai đoạn 1996-2006 ..................
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang EU ...........................................
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang Nhật Bản .................................
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang Hoa Kỳ ....................................
Bảng 2.5: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ trong tổng giá trị
xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam ....................................................................
Bảng 2.6: Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Hoa Kỳ ...............................................
Bảng 2.7: Thị phần các nước xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ ........................................
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, Đảng và nhà nước ta
đã xác định xuất khẩu là bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ổn định và
nâng cao đời sống nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội.
Trong vài năm trở lại đây, Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã trải qua
một giai đoạn phát triển với những đổi mới và tiến bộ không ngừng. Từ một nước
xuất khẩu gỗ nguyên liệu là chủ yếu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước xuất
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu:
+ Lý luận chung về xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ và các nhân tố ảnh hưởng
đến xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ.
+ Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang Hoa Kỳ.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu xuất khẩu và đẩy mạnh xuất
khẩu đồ gỗ Việt Nam sang Hoa Kỳ giai đoạn 2001 đến 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
phương pháp nghiên cứu cơ bản. Đồng thời trong từng nội dung cụ thể, luận văn sử
dụng các phương pháp thống kê, diễn giải và so sánh, dự đoán và phân tích tổng hợp
để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được chia
làm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa
Kỳ.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ của
Việt Nam sang Hoa Kỳ.
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ
VIỆT NAM SANG HOA KỲ
1.1 ĐỒ GỖ VÀ KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ CỦA VIỆT NAM
1.1.1 Những đặc điểm của sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu
Đồ gỗ là tư liệu tiêu dùng truyền thống và rất gần gũi với cuộc sống loài người.
Đồ gỗ là sản phẩm rất gần gũi với cuộc sống với con người trong suốt quá trình
phát triển của lịch sử cho đến nay và là tư liệu tiêu dùng rất quen thuộc. Theo những
tài liệu đáng tin cậy, ngay từ thời kỳ đồ đá, người ta đã biết dùng cây gỗ để tạo dựng
nơi ở của mình, chế tác gỗ thành những công cụ sinh hoạt, lao động, vũ khí đi săn và
gỗ.
Tuy nhiên, khi thế giới loài người đã đạt đến sự phát triển cao như ngày nay, sự
giao thoa văn hoá trong xu hướng hội nhập, tự do hoá thương mại toàn cầu, đồ gỗ
không còn dừng lại ở các vật phẩm tiêu dùng thông thường mà được nâng lên thành
những tác phẩm kiến trúc nghệ thuật, điêu khắc riêng có của từng quốc gia, từng khu
vực.
Đồ gỗ là sản phẩm vừa truyền thống, vừa hiện đại
Trong cuộc sống hiện đại, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ, đặc
biệt là cách mạng công nghệ thông tin đã làm thay đổi căn bản cuộc sống loài người.
Bên cạnh xu hướng ưa thích các sản phẩm công nghệ cao như máy vi tính, điện thoại
di động, các thiết bị thông minh, tự động hoá, con người càng muốn bảo toàn những
giá trị tinh hoa truyền thống của các sản phẩm gỗ.
Đồ gỗ vừa mang tính gần gũi với thiên nhiên lại mang đậm nét nghệ thuật sang
trọng và quyến rũ. Cuộc sống càng hiện đại con người lại càng muốn quay về với
thiên nhiên. Sản phẩm gỗ đáp ứng được cùng một lúc nhiều nhu cầu của con người
trong cuộc sống hiện đại: thân thiện, gần gũi với thiên nhiên mà lại sang trọng, hiện
đại, nghệ thuật có tính thẩm mỹ và văn hoá cao.
4
Đồ gỗ đang là mặt hàng có mức tăng trưởng cao và có sức hút mạnh mẽ trên
thị trường thế giới.
Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ trên thế giới đang gia tăng rất nhanh,
bình quân 8%/năm. Các thị trường tiêu thụ gỗ lớn nhất thế giới tập trung ở các quốc
gia phát triển gồm Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Hiện Hoa Kỳ là quốc gia tiêu thụ đồ gỗ
nhiều nhất thế giới, tiếp theo là Đức, Pháp, Anh và Nhật Bản.
Trước tình hình đó, ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ của thế giới đang phát
triển rất nhanh, cả về số lượng và chất lượng. Các quốc gia sản xuất đồ gỗ hàng đầu
thế giới hiện nay là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Đức...Các nước Đông
Nam Á là Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Thái Lan...cũng đang nổi lên là quốc gia
xuất khẩu đồ gỗ tiêu biểu của thế giới.
1.1.2 Những lợi thế và tiềm năng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam
phú với rất nhiều loại gỗ quý. Tuy không thể so sánh về quy mô với những cánh rừng
nhiệt đới rậm rạp của Indonesia, Malaysia nhưng lợi thế về rừng của Việt Nam hơn
hẳn Trung Quốc, và nếu xét về chủng loại, chất lượng thì cũng không thua kém gì
rừng Indonesia, Malaysia.Năm 1943, tổng diện tích rừng nước ta vào khoảng 14,3
triệu ha.
Đặc điểm của gỗ rừng tự nhiên là gỗ cứng, màu sắc, hoa văn đẹp, độ bền cao
rất thích hợp cho sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ. Tuy nhiên, những năm gần đây Ngành
hàng này phát triển quá “nóng” nên tài nguyên rừng nhanh chóng bị cạn kiệt. Theo
cục phát triển Lâm nghiệp Việt Nam: năm 2001, tổng diện tích rừng chỉ còn khoảng
11,3 triệu ha, với trữ lượng hơn 550 triệu m
3
gỗ và 750 tỷ cây tre nứa, độ che phủ
33,2% và diện tích đất không có rừng vào khoảng 8 triệu ha. Theo tính toán của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để đạt được 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm gỗ cần tới 3 triệu m
3
gỗ tròn nguyên liệu / năm. Nhưng nhà nước ta đã giới hạn
khai thác gỗ rừng tự nhiên chỉ khoảng 300.000 m
3
gỗ mỗi năm trong giai đoạn từ
2000-2010 để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Những năm gần đây do gia
tăng mạnh xuất khẩu nhà nước đã cho phép khai thác tới 900.000 m
3
như vậy vẫn
thiếu hụt khoảng trên 2 triệu m
3
gỗ tròn. Bởi vậy nguồn nguyên liệu cho sản phẩm gỗ
6
xuất khẩu chuyển hướng từ chỗ dựa vào rừng tự nhiên là chính sang dựa vào nguồn
gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng. Gỗ rừng trồng có đặc điểm là lớn nhanh, năng suất
loại gỗ quý như trắc bá, lim, giáng hương, cẩm lai, sao, sến, táu…Song giá trị chủ
yếu kết tinh trong sản phẩm gỗ mỹ nghệ lại nằm trong lao động nghệ thuật của các
nghệ nhân làm ra các sản phẩm. Đó là những nét văn hoa trạm trổ, nét sơn mài, khảm
đồi mồi trên sản phẩm, nét vân gỗ được bàn tay khéo léo của người thợ thể hiện trên
sản phẩm. Đồ gỗ mỹ nghệ của Việt Nam được khách hàng đánh giá là độc đáo, tinh
xảo rất đặc trưng, có sức quyến rũ, đậm đà bản sắc văn hoá Việt.
1.1.2.4Vị trí địa lý, khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho phát triển rừng (rừng tự
nhiên và rừng trồng)
Vùng Tây nguyên rộng lớn với đất đỏ bazan dọc theo dãy Trường Sơn rất thuận
lợi cho tăng trưởng và tái tạo rừng, cho nên nguồn rừng tự nhiên mặc dù trữ lượng
không cao song do tiềm năng lớn đối với phát triển rừng trồng trong thời gian ngắn
nhất là cây cao su, cây pơ-mu, chỉ cần 4 năm tăng trưởng là có thể khai thác trong khi
tại Bắc Âu phải cần tới 30 năm.
1.1.2.5Môi trường đầu tư và kinh doanh chung
Mức độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua gia tăng đáng
kể, song song đó là những biện pháp, chính sách tích cực nhằm cải thiện môi trường
đầu tư trong nước. Chỉ tính riêng trong năm 2005, Việt Nam đã sửa đổi và thông qua
29 luật.
Các chỉ tiêu kinh tế khác của Việt Nam cũng khá tốt. Vốn đầu tư trực tiếp của
nước ngoài chiếm tới 20% các nguồn vốn đầu tư cần thiết của Việt Nam. Tốc độ tăng
trưởng GDP của quốc gia đảm bảo đạt trung bình năm trên 7,5%, lạm phát khống chế
dưới hai con số, bội chi ngân sách nhà nước kiểm soát dưới 5% GDP, kim ngạch xuất
khẩu đạt gần 60% GDP… theo đánh giá khách quan Việt Nam đã đang và sẽ trở
thành một đối tác ít rủi ro hơn đối với đối tác doanh nhân các nước.
1.1.2.6 Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đang trong giai đoạn tăng
8
trưởng nhanh
Đồ gỗ đã trở thành một trong 6 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất quốc
gia, đưa Việt Nam thành một trong 4 quốc gia xuất khẩu hàng gỗ chế biến lớn nhất ở
khu vực Đông Nam Á.
trên 80% có số vốn hoạt động dưới 30 tỷ đồng, số lao động dưới 300 người (xét theo
qui định của Chính phủ). Tuy nhiên các doanh nghiệp này rất năng động, linh hoạt
nắm bắt nhu cầu thị trường.
Xét về trình độ chế biến, tình hình chung là các doanh nghiệp đang tập trung
đầu tư hiện đại hóa quy trình công nghệ chế biến, kết hợp giữa thủ công và cơ khí
dựa vào phương thức thuê mua tài chính Leasing, tuy hiện nay chưa đáp ứng được
những đơn đặt hàng lớn trên 100 container 40 feet/tháng/doanh nghiệp nhưng cũng
thoả mãn được phần nhiều yêu cầu về chất lượng, mẫu mã sản phẩm.
Xét về cơ cấu sản phẩm gỗ chế biến hướng tập trung vào nâng cao tỷ trọng sản
phẩm có giá trị gia tăng cao, trình độ gia công cao hơn với kỹ thuật áp dụng công
nghệ tẩm, sấy trang bị đạt tiêu chuẩn đặt ra của nhà nhập khẩu, chuyên môn hóa theo
4 nhóm: mộc ngoài trời, mộc trong nhà, mộc mỹ nghệ, dăm gỗ.
Sắp tới đây Việt Nam sẽ triển khai sản xuất ván nhân tạo để làm hàng xuất khẩu
với nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất 54.000m3 sản phẩm/năm, MDF Sơn La
15.000m3, MDF Bình Thuận 10.000m3, nhà máy ván dăm Thái Nguyên.
Như vậy, mục tiêu đến 2010 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 5,5 tỷ
USD là hoàn toàn có tính khả thi.
1.2 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ
1.2.1 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu đồ gỗ
Trước khi tiến hành hoạt động xuất khẩu đồ gỗ, bao giờ doanh nghiệp cũng
phải nghiên cứu thị trường xuất khẩu cho sản phẩm của mình. Đây là việc làm hết
sức quan trọng và cần thiết bởi mặt hàng đồ gỗ đòi hỏi cao về thẩm mỹ cũng như đòi
hỏi phải phù hợp với các giá trị văn hoá, xã hội, khí hậu…Mục đích của việc nghiên
cứu thị trường xuất khẩu là để tìm ra triển vọng bán hàng cho mặt hàng đồ gỗ và
phương pháp để thực hiện mục tiêu xuất khẩu đó. Đây là quá trình thu thập thông tin,
10
số liệu về thị trường, so sánh, phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận. Những
kết luận này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cung cấp để thoả mãn nhu cầu
của thị trường, đồng thời, giúp doanh nghiệp biết được xu hướng và sự biến đổi nhu
cầu, thị hiếu của khách hàng cũng như phản ứng của họ đối với đồ gỗ của doanh
đến xung đột và để giải quyết, các bên phải tiến hành đàm phán với nhau.
Đàm phán thương mại là quá trình trao đổi ý kiến của các chủ thể trong một
xung đột nhằm đi tới thống nhất cách nhận định, thống nhất quan niệm, thống nhất
cách xử lý các vấn đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán giữa hai hoặc nhiều bên.
Những vấn đề thường trở thành nội dung của các cuộc đàm phán trong xuất khẩu đồ
gỗ là: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng,bao bì đóng gói, giao hàng, giá cả,
thanh toán, bảo hiểm, bảo hành, khiếu nại, phạt và bồi thường thiệt hại, trọng tải,các
trường hợp bất khả kháng. Từ các cuộc đàm phán đó, các bên đi tới thống nhất về các
điều khoản trong hợp đồng xuất khẩu đồ gỗ và tiếp tục tiến hành việc soạn thảo và ký
kết hợp đồng kinh tế.
1.2.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu đồ gỗ
Sau khi hợp đồng mua bán đồ gỗ đã được ký kết, doanh nghiệp xuất khẩu phải
tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu đồ gỗ, doanh
nghiệp xuất khẩu phải tiến hành các công việc sau đây:
- Giục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ):
Tín dụng chứng từ là sự thoả thuận mà một ngân hàng theo yêu cầu của bên
mua, cam kết sẽ trả tiền cho bên bán hoặc cho bất cứ người nào theo lệnh của bên
bán, khi bên bán xuất trình đầy đủ các chứng từ và thực hiện đầy đủ các yêu cầu
được quy định trong một văn bản gọi là thư tín dụng – L/C.
- Chuẩn bị hàng hoá: Thực hiện cam kết trong hợp đồng xuất khẩu đồ gỗ, chủ
hàng xuất khẩu phải tiến hành chuẩn bị hàng xuất khẩu. Căn cứ để chuẩn bị hàng là
hợp đồng đã ký với nước ngoài hoặc L/C. Công việc chuẩn bị này gồm các khâu chủ
yếu sau:
+ Thu mua nguyên liệu: Do đặc điểm của mặt hàng đồ gỗ là sản phẩm của
ngành công nghiệp chế biến, nên để có được sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu, đòi
12
hỏi trước tiên đối với doanh nghiệp là phải có đủ số lượng nguyên liệu (gỗ) cần
thiết.
+ Tổ chức chế biến đồ gỗ xuất khẩu.
đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng, bố trí phương tiện
đem hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu, lấy biên lai thuyền phó và đổi lấy vận đơn
đường biển.
- Làm thủ tục thanh toán.
Kết thúc giao hàng người bán sẽ phải làm các thủ tục thanh toán theo đúng yêu
cầu của ngân hàng phù hợp với phương thức thanh toán lựa chọn. Công việc này chủ
yếu liên quan đến lập bộ chứng từ thanh toán và xuất trình chứng từ thanh toán cho
ngân hàng trong thời hạn quy định.
1.2.5 Đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng xuất khẩu đồ gỗ
Việc đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng xuất khẩu đồ gỗ góp phần giúp doanh
nghiệp xuất khẩu xác định chính xác hiệu quả của hoạt động xuất khẩu cũng như rút
kinh nghiệm về những hạn chế và nhược điểm gặp phải trong quá trình thực hiện hợp
đồng xuất khẩu. Mặt khác, qua việc đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng, các doanh
nghiệp xuất khẩu sẽ có được những hiểu biết và đánh giá được khả năng của phía đối
tác trong thực hiện hợp đồng.Những kết luận rút ra từ việc đánh giá rất hữu ích và
cần thiết cho doanh nghiệp trong việc chuẩn bị và thực hiện các hợp đồng xuất khẩu
tiếp theo.
1.3 THỊ TRƯỜNG ĐỒ GỖ HOA KỲ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG
ĐẾN XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ SANG HOA KỲ
1.3.1 Nghiên cứu khái quát về thị trường đồ gỗ Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. Tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) đạt gần 13 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 31% GDP toàn cầu. Kim ngạch
xuất, nhập khẩu của Hoa Kỳ chiếm khoảng 25% GDP, lớn nhất thế giới. Năm 2006,
Hoa Kỳ xuất khẩu hàng hoá trị giá hơn 1 nghìn tỷ USD, nhập khẩu trị giá 1,8 nghìn
tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ liên tục tăng trong các năm gần đây,
đạt 3,5% năm 2006, tăng 4 lần so với 0,8% năm 2001.
14
HIện nay, Hoa Kỳ là nước nhập khẩu gỗ, sản phẩm gỗ và đồ gỗ nội thất hàng đầu
thế giới, hàng năm nước này nhập một khối lượng trên 40 tỷ USD đồ gỗ và gỗ nội thất.
Năm 2002 Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng gần 16 tỷ USD gỗ và sản phẩm gỗ (HTS44) và 27
Các quốc gia xuất khẩu chủ yếu gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường Mỹ bao gồm:
Trung Quốc chiếm phần lớn thị phần (khoảng 37%), Canada đứng thứ hai (18%) và
Mehico đứng thứ ba (17%).
Không chỉ nhập khẩu, Mỹ cũng là nước xuất khẩu gỗ và đồ gỗ hàng đầu thế
giới và ngành công nghiệp gỗ của Mỹ cũng rất năng động. Tổng số các công ty chế
biến gỗ ở Mỹ lên tới 86.000 công ty, trong đó có khoảng 19.000 công ty sản xuất gỗ,
53.000 công ty sản xuất đồ gỗ và 14.000 công ty chế tạo nội thất. Oregon là bang sản
xuất đồ gỗ lớn nhất của Mỹ, trong khi bang North Caronia là bang sản xuất đồ gỗ nội
thất lớn nhất. Ngành công nghiệp gỗ của Mỹ rất chủ động trong việc xuất khẩu và
kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 5-6 tỷ USD. Tuy nhiên, trong những
năm gần đây, mức độ năng động của ngành công nghiệp gỗ bị giảm sút, nguyên nhân
chủ yếu là vì hàng hoá Mỹ bị đội giá do giá lao động cao và tỷ giá đô la Mỹ ngày
càng cao so với nhiều đồng tiền khác.
1.3.2 Xu hướng tiêu dùng đồ gỗ của người Mỹ
Người Mỹ không quan tâm nhiều đến chất liệu, màu sắc có tự nhiên hay không,
họ cần hoàn thiện sản phẩm một cách chu đáo, phong cách trang trí đơn giản và màu
sắc thích hợp, thể hiện qua cách đánh bóng, độ mịn bề mặt, bản lề và các phụ kiện
chắc chắn, độ khít sản phẩm, đóng mở tiện lợi dễ dàng.
Phong cách trang trí đóng một vai trò hết sức quan trọng để họ quyết định có
nên mua hay không. Hầu hết thiết kế nhà của người Mỹ đều mang phong cách hiện
đại nên đồ trang trí nội thất cũng phải phù hợp với phong cách đó. Hàng đồ gỗ chạm
khảm hoa lá hiếm khi thấy xuất hiện trên thị trường Mỹ, thậm chí những đường cong,
đường uốn cũng phải được giảm thiểu một cách tối đa. Trang trí chủ yếu là các
đường thẳng chìm hoặc nổi và các nắm tay cầm to hình tròn bằng gỗ hoặc bằng đồng.
Tất cả đều đi thành bộ với nhau như giường, bàn ghế, tủ áo quần, tủ đựng thuốc…
Một số sản phẩm rất được ưa chuộng gần đây là các loại tủ nhiều ngăn (4-6 ngăn) có
tay cầm hình tròn, khung ảnh và khung gương to bản…
Nói chung thị trường Mỹ không quá khó tính và nhiều khi mẫu mã sản phẩm đã
16
cũ kỹ đối với bang này nhưng lại bán rất chạy khi chuyển đến bang khác. Ngoài ra,
nhập khẩu sẽ được lưu và thuế nhập khẩu ước tính phải được thanh toán trong vòng
10 ngày làm việc kể từ lúc giải phóng hàng hoá ở trạm hải quan được chỉ định.
Đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ, các thủ tục rời bến được cho là quá nhiều
khó khăn cho các nhà xuất khẩu. Hải quan Mỹ đã thay đổi phân loại gỗ dán (HS
4412) và nhiều loại đã bị tăng thuế từ 0% lên 8%. Còn với hàng gỗ nội thất (HS94),
thủ tục hải quan không quá khó khăn. Việc nhập khẩu hàng gỗ và gỗ nội thất phụ
thuộc vào phạm vi điều chỉnh của các quy định chung như được xác định trong các
bộ luật của các quy định liên bang (các văn bản nhập khẩu- 19 CRF 141; điều tra Hải
quan – 19 CFR 151 và thuế Hải quan 19 CFR –159).
Tất cả hàng hoá được nhập vào Mỹ phải được dán nhãn xuất xứ. Hải quan Mỹ
có một yêu cầu chung cho việc ghi nước xuất xứ vào tất cả các mặt hàng ngoại nhập
vào Mỹ. Các mặt hàng này phải được dãn nhãn dễ đọc với tên tiếng Anh của nước
xuất xứ trừ phi pháp luật có quy định khác. Trong các sản phẩm gỗ, chỉ gỗ xẻ, rào gỗ,
gỗ lát nền là không cần dán nhãn xuất xứ. Nhãn mác xuất xứ phải dễ đọc và phải dán
ở mặt dễ nhận thấy, đồng thời phải khó tẩy xoá và lâu bền cùng sản phẩm. Tuy nhiên
bất kỳ một biện pháp hợp lý trong dãn nhãn đều được chấp nhận kể cả mác dính. Chỉ
có một điều kiện duy nhất là mác dính đó phải luôn dính trên sản phẩm và chỉ có thể
bị phá huỷ bởi các hành động có chủ tâm.
Các hàng hoá được yêu cầu phải dán nhãn xuất xứ nếu nhập vào Mỹ mà không
có nhãn mác xuất xứ sẽ phải nộp thuế phụ thu hoặc bị phá huỷ theo yêu cầu điều của
hải quan trước khi đưa vào Mỹ. Các nhà xuất khẩu nên dán nhãn xuất xứ vào sản
phẩm một cách chính xác để tránh bị phạt và nộp phí bổ sung tại Hải quan. Thông
thường, trong các trường hợp này mức phạt vào khoảng 10% (áp dụng 19CFR 134)
1.3.3.2 Quy định về thuế và thuế nhập khẩu
Mức thuế ở Mỹ nói chung là thấp. Đối với đồ gỗ thuộc mã HS44, thuế quan
thay đổi từ 0-10,7%. Trên thực tế, thuế đánh vào gỗ dán cao nhất (8 và 10,7%). Thuế
suất được áp dụng cho hàng gỗ nội thất (mã HS 94) đa số là 0% và có một số mặt
hàng đệm giường bằng lông vịt có mức thuế 9 và 13% (HTS 94043080 và 94049085
là 13%).
Một số công ty sản xuất gỗ làm sàn nhà đã phàn nàn về gánh nặng thuế phụ thu
bao gồm các nhà sản xuất, phân phối, sử dụng và người tiêu dùng, hoạt động như một
uỷ ban thường trực về tiêu chuẩn gỗ thông của Mỹ (tiêu chuẩn sản phẩm tự nguyện
19
PS 20). Uỷ ban này cũng phụ trách quản lý các chương trình uỷ nhiệm phân loại cấp
bậc gỗ được sản xuất theo PS20. Hệ thống tiêu chuẩn gỗ của Mỹ (ALS) là một bộ
phận thống nhất của nền kinh tế công nghiệp gỗ, là cơ sở cho giao dịch thương mại
của tất cả các loại gỗ thông tại khu vực Bắc Mỹ. Hệ thông này cũng đưa ra các tiêu
chuẩn chấp thuận gỗ và giá trị kiểu dáng gỗ thông qua việc xây dựng một bộ luật
chung cho toàn liên bang.
Như đã ghi nhận ở trên, chức năng của hệ thống ALS là để đảm bảo các tiêu
chuẩn gỗ thông của Mỹ. Uỷ ban ALSC theo thủ tục phát triển các tiêuc chuẩn hàng
hoá một các tự nguyện của Bộ Thương mại Mỹ, thông qua quá trình đồng thuận sẽ
thiết lập các tiêu chuẩn kích cỡ, các khoản điều tra, các chính sách, các yêu cầu dán
nhãn phân loại và các chế tài cho chương trình chứng nhận. Các hoạt động trên được
Uỷ ban ALSC thực hiện hoặc thông qua khuôn khổ do ALSC, PS20 và Uỷ ban quy
tắc phân loại quốc gia(NGRC) thành lập. Uỷ ban NGRC là một cơ quan có thẩm
quyền hoạt động theo quyết định của ALSC trong một số lĩnh vực cụ thể liên quan
đến việc đảm bảo các quy tắc phân loại quốc gia cho hàng gỗ kích thước lớn.
Thậm chí nếu các tiêu chuẩn của ALDS có vẻ như không bắt buộc thì các nhà
xuất khẩu hàng vào Mỹ cũng nên xem xét việc tôn trọng các tiêu chuẩn của Mỹ để
tiêu thụ hàng hoá của mình tại Mỹ. Việc tôn trọng các tiêu chuẩn này sẽ gây ra các
chi phí bổ sung cho các công ty xuất khẩu, bởi vì họ sẽ phải tiền hành những bước
thử nghiệm mới và phải lắp đặt máy móc mới.
Theo chính sách đối với gỗ ngoại nhập của ALSC, các văn phòng công ty nước
ngoài có thể được chứng nhận, phân loại hàng gỗ. Đối với gỗ có nguồn gốc nước
ngoài được phân loại theo hệ thống ALSC. Việc phân loại phải được thực hiện trên
cơ sở các thủ tục đã được ALSC quy định và các quy định phân cấp quốc gia cho gỗ
có kích thước lớn hoặc quy tắc phân loại do Văn phòng hoạch định quy tắc Mỹ ban
hành.
Cùng với chương trình chứng nhận gỗ chưa được xử lý, Uỷ ban ALSC cũng
này có thể tham khảo trên website của Uỷ ban Thương mại liên bang. Các quy định
21
này không bắt buộc phải tuân thủ đối với thủ tục Hải quan nhưng phải tuân thủ nếu
muốn bán hàng tại Mỹ.
Bên cạnh đó, đạo luật các chất có khả năng gây hại của Liên bang còn bổ sung
một số yêu cầu đối với hàng gỗ gia dụng dùng cho trẻ em (giường). Các nhà nhập
khẩu hàng nhồi đệm cần phải chú ý rằng một số nước đã quy định dán nhãn bổ sung
đối với đồ gỗ cho trẻ em hoặc các dạng khác của đồ gỗ nội thất.
1.3.3.5 Phân tích luật pháp
Các quy định của Mỹ về gỗ và đồ gỗ như sau:
HTS 44: gỗ và sản phẩm gỗ: Bao gồm gỗ củi, gỗ đốt lấy than, gỗ cây, gỗ vun,
mạt gỗ, gỗ làm đưòng ray, gỗ xẻ, gỗ băm, gỗ lạng, gỗ ván ép, gỗ ép từ vụn gỗ, gỗ
làm khung, gỗ đóng thùng hàng, gỗ mỏ, gỗ xây dựng, v.v.vvà các đồ dùng dụng cụ
bằng gỗ, như mắc áo, đồ gỗ nhà bếp.v.v..
Đối với danh mục này việc nhập khẩu phải:
+ Phù hơp với quy định của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) về giám định hàng
tại cảng đến.
+ Phù hợp với luật liên bang về sâu bệnh ở cây.
+ Phù hợp với luật cách ly và kiểm dịch.
+ Phù hợp với quy định của Hội đồng thương mại liên bang (FTC) và Hội
đồng an toàn tiêu dùng (nếu là hàng tiêu dùng)
+ Phù hợp với các quy định về lập hoá đơn (đối với một số hàng gỗ)
+ Phù hợp với các quy định của FWS về giấy phép nhập khẩu, giấy phép xuất
khẩu của nước xuất xứ, các quy định về tài liệu giao hàng và hồ sơ theo dõi (nếu là
gỗ quý hiếm).
+ Nhập vào cửa khẩu/cảng theo địa chỉ của FWS và phù hợp với các quy định
của FWS và Hải quan về việc thông báo hàng đến và giám định tại cảng đến (nếu
thuộc loại quý hiếm)
+ Nhập khẩu gỗ cây phải xin giấy phép của APHIS thuộc USDA.
+ Nhập khẩu gỗ quý hiếm phải ghi nhãn (Marking) rõ ràng bên ngoài container
+ Đối với đồ thắp sáng gia dụng phải phù hợp các tiêu chuẩn Underwriter’s
Laboratory (UL),do CPSC quản lý.
+ Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định của TFPIA xác
định về nguồn gốc vải.
Số văn bản Loại biện pháp sử dụng Các cơ quan nhà
23