Tieu luan TAI CHINH HANH VI - Pdf 11



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
-
-
-
-
-
-




-
-
-
-

THÁNG 04 NĂM 2012

 Nhận xét của Giảng viên:


3

Lê Thị Ngọc Mai

4

Nguyễn Đình Nam

5

Nguyễn Thị Kim Hoàng

6

Bùi Thị Thanh Hương

7

Mai Thị Lệ Huyền

8

Nguyễn Thị Kim Oanh

9

Vương Văn Thuận

10

3. Tài chính hành vi là gì? 8
Ba điều kiện tồn tại của tài chính hành vi? 10
Các trường phái về tâm lý học và ứng dụng trong tài chính hành vi 10
Các nguồn tài liệu chính dùng làm cơ sở lý thuyết cho bài 11
CHƯƠNG II
BA LUẬN CỨ VỀ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
2.1 Hành vi không hợp lý 13
2.1.1 Lý thuyết triển vọng (prospect theory) 13
Tính toán bất hợp lý (Mental Accounting) 16
Tự điều chỉnh (Self-Control) 16
2.1.2 Sự tự nghiệm hay thuật toán (Heuristics) và xu hướng lệch lạc (Bias) 16
Tự nghiệm hay thuật toán (heuristics) và xu hướng lệch lạc (Bias) 17
a/ Sự quen thuộc và các tự nghiệm có liên quan 17
Sự quen thuộc (familiar) 18
E ngại sự mơ hồ (ambiguous aversion) 19
Tự nghiệm đa dạng hoá (diversification heuristic) 20
Không thích sự thay đổi và hiệu ứng coi trọng tài sản sở hữu 20
b/ Tình huống điển hình (representativeness) và các xu hướng lệch lạc liên quan (relative
representativeness) 21
Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness) 21
Tự nghiệm sẵn có (availability heuristics), tức thì (recency bias) và nổi trội (salience bias) 21
Sự neo vào - “Anchoring” 22
2.1.3 Tâm lý con người (Psychological Human) 23
Lý thuyết tiếc nuối (regret theory) 24

2
Tâm lý sợ mất mát (loss aversion) 24
Quá tự tin (overconfidence) và phản ứng thái quá hay bi quan (overreaction or underreaction)
24
Sự ước lượng sai (miscalibration): 25

a. Thay đổi tên công ty: 49
b. Phát hành cổ phiếu và mua lại: 49
c. Cổ tức 49
2. Ảnh hưởng của tài chính hành vi trong quản trị doanh nghiệp. 50
a. Không từ bỏ dự án kém hiệu quả 50
b. Ảnh hưởng cảm xúc cá nhân đến các lựa chọn. 51
c. Hoạt động đầu tư 51
PHỤ LỤC
CÁC BÀI VIẾT NGHIÊN CỨU CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
Bài 1: Bong bóng và sụp đổ - Đại khủng hoảng 1929 1
Bài 2: Khủng hoảng Hoa Tu-líp 3
Bài 3: Bong bóng và sụp đổ - Sụp đổ thị trường chứng khoán 1987 4
Bài 4: Bong bóng và sụp đổ - Bong bóng South Sea 6
Bài 5: "Bong bóng" cổ phiếu trên Nasdaq 9
Bài 6: Khủng hoảng Kinh tế Châu Á 1997 - Một góc nhìn 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
cuộc khủng hoảng tài chính 1987 và khủng hoảng tài chính 2008, dường như người ta đặt dấu hỏi
lên các quy luật mà trước giờ chúng ta đang nghiên cứu dựa trên rủi ro và tỷ suất sinh lợi vốn dĩ khá
“lạnh lùng”.
Khi nhắc tới lịch sử của Lý thuyết tài chính hành vi, người ta thường nhắc tới khởi đầu từ nghiên
cứu đầu tay của nhà tâm lý học người Pháp, Jean-Gabriel De Tarde (1843 – 1904), về ứng dụng
tâm lý học vào khoa học kinh tế với tác phẩm “La psychologie économique” xuất bản năm 1903 và
George Charles Selden với tác phẩm “Psychology of the Stock Market” xuất bản năm 1912. Sau đó,
mãi tới năm 1973, tài chính hành vi mới có những bước tiến đáng kể khi mà hai nhà tâm lý học tài
năng Amos Tversky và Daniel Kahneman đưa ra những thuật toán sẵn có (availability heuristic) để
ước lượng tần suất nhóm hay xác suất của các sự kiện bằng thuật toán này. Tversky và Daniel
Kahneman đã đưa ra 03 thuật toán được ứng dụng nhiều trong việc đưa ra quyết định trong tình
trạng không chắc chắn:
- Tính đại diện – “representative”: Khi ai đó yêu cầu đánh giá xác xuất mà một sự vật hay sự
kiện A phụ thuộc vào cách thức và mức độ xảy ra của sự vật và sự kiện B, những xác suất

1
Theory of Behaviroural Finance and its application to propery market – Dr.Rohit Kishore, University of Western
Sydney, Australia
2
Behavioural Finance – Martin Sewell - 2007
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
2

xảy ra được đánh giá bằng mức độ mà A là đại diện của B, tức là mức độ của A tương đồng
với B
- Tính sẵn có –“availability”: Khi ai đó được yêu cầu đánh giá tần suất của nhóm hay khả năng
xảy ra của một sự kiện, họ làm vậy bằng cách làm đơn giản hóa những trường hợp hay sự
kiện có thể được mang ra để bàn luận.

Kahneman va Tversky công bố phần bổ sung lý thuyết triển vọng của họ bằng “lý thuyết
triển vọng lũy tiến” (cumulative prospect theory). Hệ phương pháp luận mới này đã tận dụng
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
3

tính lũy tiến hơn là mức độ quyết định riêng biệt đến sự không chắc chắn cũng như những rủi
ro kỳ vọng với bất kỳ mức độ hệ quả nào. Nó cũng tính đến mức độ tăng thêm khác nhau của
thu nhập và mất đi. Hình: Mô tả mức độ xác suất giữa giá trị nhận được (w
+
) và giá trị mất đi (w
-
) trong lý thuyết
triển vọng lũy tiến
- Năm 1995, Grinblatt, Titman và Wermers đã phân tích hành vi của các “quỹ mở” (mutual
fund)
3
, ông đã tìm thấy bằng chứng của những chiến lược đầu tư đòn bẩy (momentum
strategies) và hiện tượng đầu cơ đầu cơ (hedge)
- Năm 1997, bằng nghiên cứu thực nghiệm, Basu đã tìm ra được “tính bảo thủ” (conservatism)
mà nhờ đó ông đã giải thích được vì sao mà thị trường phản ứng với tin xấu nhanh hơn
những tin tốt.
- Sang năm 1999, Camerer và Lavallo đã tìm thấy một cách thực chứng rằng “sự quá tự tin”
(overconfidence) và “sự quá lạc quan” (optimism) dẫn đến những lối kinh doanh quá mức.
Wermer (1999) đã nghiên cứu thêm về “đầu cơ” (hedge) và nhận thấy rằng khuynh hướng
đầu cơ có dấu hiệu tăng cao nhất trong giao dịch ở những cổ phiếu nhỏ và những nguồn tiền

ra 06 thuật toán hay sự trải nghiệm chung gồm: sự ảnh hưởng (affect
4
), tính sẵn có
(availability), tính hệ quả (causality), tính trôi chảy (fluency), tính tương đồng (similarity) và
tính bất ngờ (surprise) và 06 thuật toán kinh nghiệm riêng gồm phân phối (attribution), thay
thế (substitution), sự tổn thương (outrage), nguyên mẫu (prototype), sự thừa nhận
(recognition), lựa chọn bằng thích thú (choose by liking) và lựa chọn mặc định (choose by
default). Trong tác phẩm của các tác giả, đã thay thế 02 nhân tố của tài chính hành vi là
“Lệch lạc trong tình huống điển hình”- representativeness bằng tính phân phối và thay thế
(attribution-substitution) và sự neo kéo – nhận định (anchoring and judgement) bằng “thuật
toán hiệu ứng” (the affect heuristic)
- Sau cuộc đại khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, mà điển hình là cuộc khủng hoảng
“bong bóng” nhà đất tại Mỹ đã khiến người ta phải quan tâm nhiều đến lý thuyết này nhằm
giải thích những hiện tượng bất thường của kinh tế mà các lý thuyết trước đây chưa chỉ ra
được
Một trong những tranh luận gay gắt nhất là lý thuyết thị trường hiệu quả, đó là nhiều người đã đổ lỗi
cho cuộc khủng hoảng tài chính là do lý thuyết thị trường hiệu quả và cũng có quan điểm bảo vệ nó
vì người ta vốn đã không cho thị trường là hiệu quả (Meir Statman).
Dưới đây chúng ta nghiên cứu về 03 trụ cột của thị trường hiệu quả từ đó đưa ra luận điểm về tài
chính hành vi.
2. Ba trụ cột của lý thuyết thị trường hiệu quả (The efficient market hypothesis) làm nảy sinh lý
thuyết tài chính hành vi (behaviour finance)
Không có lịch sử rõ ràng về Lý thuyết thị trường hiệu quả, nhưng người ta vẫn coi Eugena Fama
5

người khởi đầu cho lý thuyết này, khi ông cho xuất bản bài viết nổi tiếng trên tờ tạp trí The Journal

4
The affect heuristic: Liên quan đến “sự tốt” (goodness) và “sự xấu” (badness)
5

quả cúa nó.
Sáu bài học của thị trường hiệu quả là:
 Bài học 1: Thị trường không có trí nhớ (Markets have no memory)
 Bài học 2: Hãy tin vào giá thị trường (Trust market prices)
 Bài học 3: Hãy đọc sâu (Read the entrails)
 Bài học 4: Không có các ảo tưởng tài chính (There are no financial illusions)
 Bài học 5: Phương án tự làm lấy (The do it yourself alternative)
 Bài học 6: Đã xem một cổ phần, hãy xem tất cả (Seen one stock, seen them all)

6
Page 1056 – A survey of behavioral finance – Nicolas Barberis (University of Chicago)
7
Nguyên bản trong “A survey of behavioral finance”- Nicolas Barberis (2003), page 1056, “This is the discounted sum
of expected future cash flows, where in forming expectations, investors correctly process all available information, and
where the discount rate is consistent with a normatively acceptable preference specifications”. Từ “normatively
acceptable preference specifications” có lẽ tác giả ám chỉ các mô hình mang tính chuẩn tắc để xác định tỷ suất sinh lợi
trong mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận, như CAPM, kinh doanh chênh lệch giá (APT), cung cầu thị trường,…Như thế, có
thể hiểu giá trị cơ bản chính là giá trị nội tại (Intrinsic value) của công ty hay tài sản dựa trên nhận thức cơ bản về giá trị
thực của nó bao gồm các khía cạnh của doanh nghiệp, trong cả những nhân tố hữu hình và vô hình. Giá trị này có thể
hoặc không thể (may or may not) là giá trị thị trường. Nhà đầu tư theo giá trị sử dụng các công cụ phân tích khác nhau để
tìm giá trị nội tại với hy vọng tìm kiếm khoản đầu tư mà giá trị nội tại có sai lệch với giá thị trường (current market
value) (Theo từ điển investopedia.com)
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
6

Ba trụ cột của lý thuyết thị trường hiệu quả và giới hạn của nó làm nảy sinh lý thuyết tài chính
hành vi
(

nhà đầu tư bất thường với phán đoán sai thường có xu hướng chung – nghĩa là người ta thường đi
chệch khỏi sự kỳ vọng của mình theo cùng một phương thức tương tự nhau. Hay hành vi bất thường
của họ có tính tương quan nhau thì đây là vấn đế đáng để bàn! Nó có thể đẩy giá xa hơn nữa so với
giá trị cơ bản. Tuy nhiên, trong thị trường hiệu quả vẫn tồn tại trụ cột 3 có thể “hóa giải” hoặc ngặn
chặn điều này và đưa giá trở về giá trị cơ bản, giá trị thực ban đầu. Đó là nghiệp vụ kinh doanh
chênh lệch giá.

8
Tham khảo “Market Rationally: Efficient Market Hypothesis versus Market Anomalies” – Kadir Can Yalcin – Page 28-
29 và Behavioral finance: Psychology, Decision-Making, and Markets” – Ackert & Deaves, page 105 – 112
9
Cụm từ “irrational investors” tạm dịch là nhà đầu tư bất thường hay nhà đầu tư bất hợp lý. Họ không theo bất kỳ quy
luật nào của thị trường như những nhà đầu tư không ngoan hay duy lý (rational investors)
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
7

2.3/ Trụ cột 3: Kinh doanh chênh lệch giá không bị giới hạn
Nếu các nhà đầu tư bất thường có hành vi phi lý, các hoạt động này lại có tương quan cao với nhau.
Thì theo lý thuyết thị trường hiệu quả, các nhà đầu tư khôn ngoan nhìn thấy được việc định giá sai
này, họ sẽ dùng nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage
10
), với giả thiết không bị giới hạn
kinh doanh chênh lệch giá, để điều chỉnh việc định giá sai và xóa bỏ hành động bất thường của nhà
đầu tư. Từ đó, họ vừa tìm được lợi nhận vừa đưa giá chứng khoán bị định giá sai về trạng thái giá trị
thực ban đầu. Bằng cách mua chứng khoán rẻ và bán chứng khoán mắc. Kết quả là thị trường vẫn
giữ nguyên tính hiệu quả. Thị trường hiệu quả cho rằng việc kinh doanh chênh lệch giá nó sẽ không
tốn chi phí và gánh chịu rủi ro.
Để minh hoạ cho việc kinh doanh chênh lệch giá hoạt động như thế nào, chúng ta bắt đầu với ví dụ

lợi nhuận từ sự khác biệt về giá. Nghĩa là một giao dịch mà lợi nhuận được tạo ra bằng cách phát hiện sự khác
biệt về giá của những công cụ tài chính tương đồng hay y hệt nhau, trên các thị trường khác nhau hay các
dạng khác nhau. Kinh doanh chênh lệch giá là kết quả của thị trường không hoàn hảo, nó cung cấp một kỹ
thuật để đảm bảo rằng giá không bị định sai trầm trọng so với giá trị thực trong một khoảng thời gian dài.
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
8

- Nghĩa là cứ 1USD bạn lời được 2.8543 JPY. Nếu số USD bạn có càng lớn thì số tiền JPY lời
của bạn nhận được sẽ rất lớn. Cứ như thế bạn sẽ trở nên rất giàu có sau khi bạn đổi số tiền lời
này ra USD và đã trả lãi, gốc (nếu có).
Vì quá nhiều người nhìn thấy cơ hội này, người ta lao vào kiếm tiền, và từ đó làm cho cung nhỏ hơn
cầu, người ta nhận ra giá trị thực và giá được điều chỉnh lại giá trị cơ bản.
Nhưng thực tế có giới hạn cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá không? Và nếu cả 03 trụ cột này
đều bị đánh bại thì người ta sẽ hoài nghi về tính hiệu quả của thị trường.
Bằng những nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường người ta phát hiện ra rằng có những thời điểm
cả 03 trụ cột này không thể giải thích được thực tế thị trường. Và đôi khi sự định giá sai này không
những không được điều chỉnh về giá trị cơ bản mà nó còn bị đẩy đi rất xa, nhiều khi cũng được xem
là nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng tài chính.
Qua hàm ý trên dường như lý thuyết thị trường hiệu quả không đủ để giải thích kết quả thực nghiệm
trên thị trường và dường như “thị trường thì có thể hiệu quả nhưng con người thì không hiệu quả”,
mà chủ thể tham gia sthị trường chính là con người.
Trước thực tế của các cuộc khủng khoảng tài chính và sự “nổi loạn” của thị trường tài chính người ta
đòi hỏi một lý thuyết hay một công trình nghiên cứu khác bổ sung cho thị trường hiệu quả vì trong
một số trường hợp nhất định (được trình bày trong Chương II) thì thị trường hiệu quả không còn
phát huy tác dụng của nó nữa.
Năm 2002, lần đầu tiên trong lịch sử giải thưởng Nobel kinh tế được trao cho một nhà tâm lý học,
thay vì trước đây chỉ là các nhà kinh tế học, đó là Daniel Kahneman vì sự đóng góp của ông trong
kinh tế học hành vi nhất là lý thuyết triển vọng (prospect theory), với hợp tác giúp đỡ của Amos

Có thể diễn giải tài chính hành vi (Behaviour Finance) thông hình ảnh sau thông qua các yếu tố chi
phối đến nó như sau: Hình minh họa các yếu tố tác động đến tài chính hành vi
- Tâm lý học (Psychology): là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư tưởng của
con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động). Tâm lý học cũng chú tâm đến
sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và
tinh thần của con người
- Xã hội học (Sociology): là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung với đặc thù
của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác định về mặt lịch sử; là khoa học về các
cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong các hoạt động của cá
nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp, tôn giáo, văn hóa và các dân tộc.
- Tài chính (Finance): là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới
hình thức giá trị, có thể đại diện bằng các mô hình, lý thuyết tài chính.

11
Lý thuyết tài chính truyền thống (standard therories of finance) bao gồm những lý thuyết về nguyên lý mua bán
(arbitrage) của Miller và Modigliani, các yếu tố danh mục của Markowitz, lý thuyết định giá của Sharpe, Lintner và
Black, lý thuyết về định giá quyền chọn của Black, Scholes và Merton, … chúng đều được xem xét trong thị trường
hiệu quả và giải thích có tính quy chuẩn cao.
12
Là một nhà kinh tế người Mỹ đồng đoạt giải Nobel về kinh tế năm 1990 (cùng với M.Miller và W.F.Sharp). Công việc
quan trọng mà ông thực hiện trong những năm 1950 đã đặt nền móng cho học thuyết hiện đại về danh mục đầu tư, mà
mô hình được nhắc tới nhiều nhất là mô hình CAPM (xem phần phụ lục)
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
10


-Lý thuyết triển vọng (prospect theory)

Hiệu ứng ưa thích sự chắc chắn và lý
thuyết triển vọng liên quan đến các
vấn đề không ưa thích rủi ro và thích
mạo hiểm khi bị lỗ hơn khi đang lời
trong tài chính
Tâm lý nhận thức
Do Uric Neiser sáng
lập năm 1967,
nghiên cứu về cách
mà suy nghĩ của con
người điều khiển
hành vi của họ
-Hội chứng tự tôn (touchy feely syndrome), lý
thuyết nuối tiếc (regret theory)
-Mâu thuẫn về nhận thức (cognitive
dissonance)
-Định nghĩa hẹp, tính toán bất hợp lý
-Bù đắp chi phí đã bỏ ra
-Quá tự tin
-Lệch lạc trong nhận thức về quá khứ
(hindsight bias) khẳng định quá mức
Đây là trường phái đóng góp lớn cho
tài chính, ngoài những hiệu ứng đã đề
cập ở trên, hiệu ứng mâu thuẫn về
nhận thức, bù đắp chi phí bỏ ra, lý
thuyết tiếc nuối giúp giải thích vì sao
chúng ta thường nắm giữ mãi các
khoản lỗ và cứ lỗ liên tục.

-Hiệu ứng thuyết phục (persuasion effect)
-Hiệu ứng tự thuyết phục (seff-persuasion)
-Lệch lạc do tình huống điển hình
-Xu hướng tự bảo vệ (ego-defensive attitude)
-Hiệu ứng ước đoán sai (false consensus
effect)
-Lý thuyết phản kháng (somatic market
theory)
Đây là trường phái có tác động rất
lớn đến các lý thuyết tài chính, đưa ra
các luận điểm vì sao chúng ta có thể
mắc sai lầm từ nhiều tình huống khác
nhau, đặc biệt các lý thuyết phản
kháng, lý thuyết ước đoán sai, và
hiệu ứng tự thuyết phục, thuyết phục
đưa ra nhiều giải thích khả dĩ cho các
hiệu ứng bầy đàn và nguyên nhân
hiện tượng định giá sai kéo dài
Phân tâm học
(Psycho-analysis)
Do Sigmund Freud
sáng lập đầu thế kỷ
20, nghiên cứu về
các loại bệnh tâm
thần
-Hội chứng hoang tưởng (paranoid personality
disorder)
-Quá chú ý đến bản thân
(narcissistic personality disorder)
-Hội chứng phiền muộn, bi quan (depressed

Andrei Sheleifer và Robert W.Vishny
- Bài viết nghiên cứu “Tài chính hành vi – Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính” –
Hồ Quốc Tuấn -2007
- Bài viết nghiên cứu “The noise trader approach to finance” – Andrei shleifer and Lawrence
H.Summers. -1990`
- “Behavioral Finance – And the change of investor behavior during and after the speculative
bubble at the end of the 1990s”, Malena Johnson, Henrik Lindblom & Peter Platan, 2002
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
13

CHƯƠNG II
BA LUẬN CỨ VỀ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
2.1 Hành vi không hợp lý
Có rất nhiều trường phái tâm lý học nghiên cứu về con người như là Tâm lý học hành vi, Tâm lý học
cấu trúc, Phân tâm học, Tâm lý học nhân văn, Tâm lý học nhận thức, Tâm lý học hoạt động,… trong
đó tâm lý học hành vi và tâm lý học nhận thức giúp đưa ra nhiều luận điểm giải thích hành vi bất
hợp lý của con người trong xã hội nhất là trong thị trường tài chính. Nhận thức sai lệch sẽ dẫn đến
hành vi sai lệch, nhưng hành vi sai lệch thì chưa chắc do nhận thức sai, mà có thể do tính chủ quan
trong hành vi người thực hiện.
- Tâm lý học hành vi do John Broadus Watson (1878 – 1958) người Mỹ chủ trương không mô
tả hay giảng giải về các trạng thái ý thức của con người, mà chỉ cần nghiên cứu hành vi của
họ là đủ. Hành vi được quan niệm là tổng số các cử động bề ngoài được nảy sinh để đáp lại
một kích thích hay mong muốn nào đó của con người
- Tâm lý học nhận thức: Đại diện sáng giá cho trường phái này là Jean Piaget (1896 - 1980).
Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học nhận thức là hoạt động nhận thức của con người trong
mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và não bộ. Trường phái này đã phát hiện được nhiều
sự kiện khoa học có giá trị đạt tới một trình độ mới như tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ.
Có rất nhiều các biểu hiện về hành vi sai lệch hay bất thường của con người giúp giải thích hành vi

 Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Có 84% câu trả lời chon P1 đối với quyết định 1: chọn chắc chắn có $240  phù hợp với sự e ngại
rủi ro.
Và 87% chọn P4 đối với quyết định 2: chọn tham gia trò chơi may rủi  phù hợp với sự ưa thích rủi
ro, hay tâm lý “làm liều” của các nhà “chơi bài”.
 Kết luận 1: Con người đôi khi thể hiện sự e ngại rủi ro và đôi khi lại thể hiện sự ưa thích rủi
ro. Tùy thuộc vào bản chất của triển vọng mà họ nghĩ tới.

Vấn đề 2:
 Quyết định 1: Giả sử bạn giàu có $300: bạn sẽ chọn lựa P5($100) và P6(0.5,$200)

 Chọn P5: bạn chắc chắn có $100+$300=$400.
 Chọn P6: may mắn bạn có $200+$300=$500 (xác suất 50%), không may mắn bạn không thay đổi
gì cả, vẫn có $300 như lúc đầu (xác suất 50%).

 Quyết định 2: Giả sử bạn giàu có $500, bạn sẽ chọn giữa P7(-$100) và P8(0.5, -$200)

 Chọn P7: bạn chắc chắn còn lại $400 (sau khi mất $100).
 Chọn P8: may mắn bạn giữ nguyên số tiền ban đầu $500 (xác suất 50%), không may mắn bạn chỉ
còn $300 (tức mất $200).
 Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Có 72% chọn P5  thể hiện sự e ngại rủi ro
- Và 64% chọn P8  thể hiện sự ưa thích rủi ro.
Cho thấy, thái độ đối với rủi ro không tương đồng với việc được và mất. Khi được thì người ta e
ngại rủi ro hơn, còn khi mất thì người ta thường thích rủi ro hơn, nghĩa là sự thay đổi của mức tài sản
họ thực sự nhận được, chứng không phải giá trị tài sản (mức giàu có) cuối cùng. Con người đánh giá
kết quả dựa trên một điểm tham chiếu, điểm tham chiếu này thường là mức tài sản ban đầu. Trong
khi đó, lý thuyết hữu dụng kỳ vọng giả định con người đánh giá kết quả dựa trên mức giàu có cuối
cùng.


hướng sợ mất mát (loss aversion) hơn trong miền lời và chập nhận rủi ro hay “làm liều hơn”
trong miền lỗ.
- Hàm giá trị được xác định dưới dạng lời và lỗ liên quan đến điểm tham chiếu, chứ không
phải dưới dạng giá trị tài sản tuyệt đối cuối cùng.
Chẳng hạn như tình huống người chơi bài bạc. Khi họ lời, họ thường có khuynh hướng nghỉ chơi
sớm, để chắc chắn có tiền. Khi họ lỗ, họ thường có khuynh hướng “làm liều” hơn, chơi tiếp và chấp
nhận rủi ro lỗ hơn, với hi vọng tìm lại được vốn.

15
Bài viết “Prospect Theory: An anlaysis of decision under risk”, Kahneman và Tversky (Tháng 3/1979), page 279 và
“A survey of behavioral finance” , Nicholas Barberis, 2003, page 1070
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
16

Lý thuyết triển vọng này có thể dẫn đến một hiệu ứng, đó là sự tính toán bất hợp lý (mental
accouting)
Tính toán bất hợp lý (Mental Accounting)
Tính toán bất hợp lý là một phần trong lý thuyết triển vọng. Nó mô tả khuynh hướng của mọi người
trong việc đặt những sự kiện cụ thể vào những tính toán bất hợp lý dựa trên thói quen hời hợi, thói
quen thiển cận (Shiller, 1998). Ý tưởng chính dưới quan điểm về “sự tính toán bất hợp lý” (mental
accounting) là người ta có khuynh hướng phân chia những loại trò chơi khác nhau vào từng mảng/tài
khoản riêng biệt và bỏ qua sự tương tác giữa chúng.
Chẳng hạn như
16
một gia đình phân chia tiền cho ăn uống thành 02 phần riêng biệt, phần chi tại nhà
và phần ăn cuối tuần tại nhà hàng, và không đặt chúng trong một mối liên hệ. Khi chi tiêu cho đồ ăn
tại nhà, họ thường không mua hải sản cao cấp (tôm hùm chẳng hạn) vì nghĩ rằng nó mắc và chỉ ăn
thịt bình thường; nhưng khi ăn tại nhà hàng, người này lại gọi tôm hùm, thay vì ăn một bữa thịt bình


16
Trích lược trong bài viết “Tài chính hành vi – Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính”, Hồ Quốc Tuấn, tạp trí
Phát triển kinh tế tháng 07/2007, trang 11 – 12
17
Đây là một trong rất nhiều quan điểm đầu tư của các nhà đầu tư. Một quan điểm khác như “cắt lỗ sớm và để lợi nhuận
tiếp tục” (Cutting losses and riding winners) hay tỷ lệ giữa lợi nhuận và rủi ro (risk-reward ratio)
Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
17

Luận điểm 1 thị trường hiệu quả là thị trường không có trí nhớ cho rằng, thị trường sẽ không ghi nhớ
sự việc ngày hôm nay để phản ánh vào giá của chứng khoán ngày mai. Nhưng thực tế thì mức giá
ngày hôm qua vẫn được ghi nhớ trong đầu con người, và những sự việc diễn ra trong quá khứ cũng
vậy.
Mà con người bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, tâm sinh lý, nhận thức, môi trường sống… Những điều
này, ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lý, nhận thức và hành vi con người. Nhận thức đúng dẫn đến hành
vi đúng (ngược lại thì chưa chắc đúng), mà nhận thức là một quá trình phản ánh tư duy, trí tuệ của
con người thông qua quá trình lâu dài của sự trải nghiệm cuộc sống chính họ. Sự trải nghiệm cuộc
sống ở mỗi người là khác nhau, vì thế họ có thể đưa ra những cách nhìn nhận vấn đề khác nhau. Hơn
nữa, tâm lý con người cũng ảnh hưởng nhiều tới quyết định của họ, người vui lạc quan thì nhìn vấn
đề theo hướng khách quan, thoải mái hơn. Người có tâm trạng buồn, bi quan thì nhìn vấn đề theo
hướng tiêu cực hơn. Chính vì thế, nó đã ảnh hưởng đến việc định giá sai và mong muốn điều chỉnh
việc định giá sai này về đúng giá trị nội tại của một tài sản nào đó.
Dưới đây là những nghiên cứu của nhóm về các thuận toán, sự trải nghiệm hay tự nghiệm
(heuristics) và những xu hướng lệch lạc (bias).
Trải nghiệm hay thuật toán (heuristics) và xu hướng lệch lạc (Bias)
Một số chỉ trích nhằm vào các mô hình cổ điển trong kinh tế và tài chính là chúng thường được xây
dựng như thể người ra quyết định có một bộ nhớ RAM

Tiểu luận: Lý thuyết Tài chính hành vi GS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhóm 4 – TCDN Đêm 1
Trang
19

Sự quen thuộc (familiar)
Con người ta thường có khuynh hướng phản ứng lặp lại với những tình huống mà họ cảm thấy quen
thuộc. Bởi vì, tâm lý con người thường cảm thấy an tâm với những điều quen thuộc (familiar) và
ghét sự rủi ro và mơ hồ. Rủi ro và sự mơ hồ làm cho họ không còn cảm giác an tâm, và sự ngờ vực
bao trùm tâm trí họ. Tất cả những điều trên cho thấy con người có khuynh hướng tìm kiếm sự an tâm
và “mở lòng” với cái gì họ biết hơn là cái xa lạ.
Chúng ta có thể thấy trong cuộc sống, bạn sẵn sàng nói chuyện ngày đêm đủ tất cả các loại từ cá
nhân cho đến xã hội với bạn bè, người thân,… nhưng khi gặp người lạ điều đó sẽ hạn chế lại, bạn trở
nợ co cụm hơn, trở nên “phòng thủ” hơn.
Còn kinh tế thì sao?
Một ví dụ về khoảng cách về văn hóa và ngôn ngữ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status