How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang 1
MỤC LỤC
Tóm tt: 2
I. Khung thể chế 3
Nguồn gốc của việc thiếu kỷ luật về tài khóa của cấp địa phương 3
Vai trò của sự mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc 6
Phân loại các biện pháp kiểm soát 6
II. Phân tích thực nghiệm 12
Dữ liệu 12
Các biến kiểm soát 13
Phương pháp tiếp cận chung 15
Kết quả 17
Vấn đề nội sinh tiềm tàng của việc kiểm soát vay nợ địa phương 20
III. Kết luận và đề xuất 22
PHỤ LỤC: NGUỒN DỮ LIỆU 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang 2
chúng.
Bài nghiên cứu này cố gắng thu hẹp khoảng cách đó bằng một phân tích xuyên quốc
gia với một lượng lớn mẫu các quốc gia. Bài viết tập trung vào các tác động lên những khoản
thâm hụt ngân sách địa phương qua các phương pháp tiếp cận khác nhau nhằm kiểm soát vấn
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang 3
đề vay nợ của chính quyền địa phương, và cố gắng xác định các yếu tố quyết định tính hiệu
quả của từng tổ chức thể chế.
I. Khung thể chế
Nguồn gốc của việc thiếu kỷ luật về tài khóa của cấp địa phương
Wildasin (2004) lập luận rằng nếu các khoản chuyển giao liên chính quyền không tốn
chi phí và chi phí vay nợ đều giống nhau ở tất cả các cấp chính quyền, thì cấu trúc vay nợ liên
chính quyền sẽ không phải là vấn đề. Tuy nhiên, có nhiều lý do để tin rằng các khoản chuyển
giao liên chính quyền thì phải tốn chi phí, và chính quyền địa phương có thể có xu hướng chi
vượt mức trong khi số thuế thu được dưới mục tiêu, và vay nợ nhiều hơn cả các chính quyền
cấp quốc gia. Những lý do này có thể phát sinh từ vấn đề “tài sản chung” (common pool),
những ràng buộc ngân sách mềm, sự cạnh tranh liên vùng, nhiệm vụ liên bang không được tài
trợ, hoặc chu kỳ bầu cử ngắn.
Vấn đề “Tài sản chung” (Common pool)
Vấn đề “Tài sản chung” bắt nguồn từ việc phân tách các chi phí và lợi ích của chi tiêu
công. Nếu một dự án công cộng chỉ mang lại lợi ích chủ yếu cho một cơ quan nào đó cụ thể
nhưng lại nhận được tài trợ thông qua một “tài sản chung” là những khoản thuế trong cả
nước, cơ quan đó chỉ phải trả một phần nhỏ trong các khoản chi phí của dự án trong khi
cam kết không bao giờ sửa đổi các khoản phân bổ chuyển giao trước đó, có nghĩa là, đi đến
một chính sách không có gói cứu trợ. Mặc dù một chính sách có thể đạt được tối ưu trong
thời gian dài, nhưng rất khó để có thể cam kết điều này trong ngắn hạn, đặc biệt là nếu nó liên
quan đến một khoản vỡ nợ địa phương trầm trọng hoặc một sự cắt giảm trong việc cung cấp
các dịch vụ công cộng cơ bản - trường học đóng cửa hoặc các khoản lương hưu chưa được
thanh toán. Persson và Tabellini (1996) và Bordignon, Manasse, và Tabellini (2001) chính
thức chỉ ra rằng chính phủ một quốc gia dường như có khả năng tìm thấy lợi ích cho mình khi
cứu trợ cho một khu vực trải qua thời kỳ khủng hoảng về tài chính để tối đa hóa phúc lợi xã
hội của liên bang. Ngoài ra, sự mất khả năng chi trả của một khu vực có thể làm tăng chi phí
vay mượn đối với tất cả các khu vực khác trong một liên bang, nên những khu vực lân cận có
thể sẽ quan tâm đến việc cung cấp các gói chuyển giao cứu trợ cho khu vực đang mất khả
năng chi trả.
Cạnh tranh liên vùng
Nếu các khu vực cạnh tranh về vốn luân chuyển và lao động một cách tích cực, sự
cạnh tranh của họ có thể làm giảm gánh nặng thuế xét về tổng thể và tăng cường kỷ luật tài
khóa. Đồng thời, cạnh tranh như vậy có thể là động cơ khiến các khu vực định ra các mức
thuế suất thấp một cách không có hiệu quả hoặc chi tiêu quá mức đối với các dự án cơ sở hạ
tầng tài trợ bằng nợ vay. Cai và Treisman (2004) đề xuất rằng nếu các chính quyền khu vực
chỉ có trách nhiệm thu thuế và không thể thay đổi cơ sở thuế hoặc thuế suất, họ có thể có
động cơ không thực thi việc thu thuế trên lãnh thổ của họ, do đó làm giảm gánh nặng thuế
thực tế trong khu vực này.
Mặt khác, nếu các khu vực chia sẻ cùng một mức cơ sở thuế với chính quyền liên
bang, và cả hai cấp chính quyền đều có quyền trong việc ấn định thuế, mức cân bằng thuế có
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang 5
chính quyền trung ương.
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang 6
Vai trò của sự mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc
Oates (1972) lập luận rằng phân cấp chi tiêu công sẽ gia tăng hiệu quả. Chính quyền
địa phương có thể đánh giá nhu cầu của cộng đồng địa phương tốt hơn, phù hợp với nhiều sở
thích đa dạng khác nhau, và do đó phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn so với chính quyền trung
ương. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng có những thông tin cần thiết để lựa chọn
những dự án hiệu quả về mặt kinh tế hơn.
Tuy nhiên, phân cấp chi tiêu tạo ra sự chênh lệch giữa nguồn thu của các chính quyền
địa phương từ các khoản thuế bất động sản với trách nhiệm chi tiêu của họ. Chênh lệch này
được bù đắp bởi các khoản chuyển giao liên bang (từ nguồn thu thuế tập trung), chênh lệch
này được gọi là sự mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc, thường được đo bằng tỷ lệ chuyển
giao trên tổng thu ngân sách địa phương.
Sự mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc có xu hướng làm trầm trọng thêm vấn đề rủi
ro đạo đức và các động cơ đối nghịch do vấn đề “tài sản chung”, những ràng buộc ngân sách
mềm và các yếu tố khác đã thảo luận trước đó tạo ra, dẫn đến sự yếu kém trong kỷ luật tài
khóa địa phương và sự cần thiết phải kiểm soát việc vay nợ địa phương. Nếu các khoản
chuyển giao phục vụ mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách địa phương bất kể những lý do tìm
ẩn do có sự không phù hợp giữa thu và chi của chính quyền địa phương thì sự mất cân bằng
tài khóa theo chiều dọc cao ngụ ý một tỷ lệ cao của chi tiêu khu vực được tài trợ từ “tài sản
chung” và những hạn chế ngân sách mềm của chính quyền địa phương. Hơn nữa, chính
quyền địa phương với sự mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc cao có thể tranh cãi rằng chính
chính quyền địa phương một đặc quyền vay (ví dụ, yêu cầu về thành phần của danh mục đầu
tư). Thứ hai, cần thông tin đầy đủ về dư nợ của người đi vay và thông tin về khả năng trả nợ
của họ phải đến được với những người cho vay tiềm năng. Thứ ba, không nên tự nghĩ rằng sẽ
nhận được các gói cứu trợ của chính quyền trung ương nếu có trường hợp mất khả năng trả
nợ xảy ra. Cuối cùng, người đi vay phải có các tổ chức đảm bảo đáp ứng đầy đủ chính sách
phù hợp với tín hiệu thị trường.
Những ràng buộc mang tính hành chính
Ở một số nước, chính phủ trung ương được trao quyền kiểm soát trực tiếp việc vay nợ
của địa phương. Kiểm soát này có thể có các hình thức khác nhau, bao gồm các thiết lập giới
hạn hàng năm (hoặc thường xuyên hơn) về tổng nợ của từng cơ quan địa phương (như ở
Lithuania kể từ năm 2001), xử lý đặc biệt hoặc cấm vay nợ nước ngoài (như ở Mexico), đánh
giá và ủy quyền các hoạt động vay nợ cá nhân (bao gồm chấp thuận các điều khoản và điều
kiện như ở Ấn Độ hay Bolivia), hoặc tập trung nợ vay của tất cả các cấp chính quyền rồi sau
đó cho các chính quyền địa phương vay lại (như ở Latvia và Indonesia).
Các thủ tục hành chính cho thấy việc kiểm soát chặt chẽ hơn vấn đề vay nợ của địa
phương trong khi vẫn giữ một chính sách tài khóa linh hoạt. Các thủ tục này cũng đảm bảo
cho việc vay nợ nước ngoài của quốc gia liên kết chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô
khác. Tuy nhiên, việc chính quyền trung ương cho phép chính quyền địa phương chủ động đi
vay và chi tiêu riêng cho thấy có sự bảo lãnh công khai hoặc ngấm ngầm về nợ công của địa
phương và khu vực. Sau khi nhận được sự cho phép, chính quyền liên bang sau này có thể
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang 8
thấy rằng sẽ khó khăn hơn khi phải từ chối một gói cứu trợ khi điều đó có có khả năng đẩy
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang 9
phủ (ví dụ như các doanh nghiệp thuộc sở hữu của chính quyền địa phương), nợ có thể nhanh
chóng làm giảm ngân sách tích lũy. Ví dụ, khi Úc nới lỏng hạn chế về tài chính đối với các cơ
quan nửa chính phủ của địa phương trong năm 1982, các khoản nợ công của doanh nghiệp
cấp khu vực tăng gấp ba lần trong vòng hai năm tiếp theo, và quyết định thậm chí đã bị đảo
ngược vào năm 1984 (Craig, 1997).
Ở Đan Mạch và Hungary, các chính quyền địa phương sử dụng các hoạt động bán và
đi thuê lại để phá vỡ những hạn chế khi đi vay, buộc chính phủ trung ương Đan Mạch xem
xét lại định nghĩa của vay nợ bao gồm cả các thỏa thuận thuê và cho thuê (Jorgen và
Pedersen, 2002). Chính quyền địa phương ở Hoa Kỳ sớm đã khai thác thỏa thuận cho thuê
(Granof, 1984). Ahmad, Singh, và Fortuna (2004) lập luận rằng ngay cả ở Trung Quốc, nơi
mà các chính quyền khu vực phải cân bằng ngân sách và thường không thể đi vay, các chính
quyền cấp tỉnh đã xử lý để tích lũy các khoản nợ "ẩn" ngoài ngân sách đáng kể.
Các thỏa thuận hợp tác
Theo cách tiếp cận hợp tác, với nhiều dạng khác nhau đã tồn tại ở một số nước châu
Âu và Úc, một quá trình đàm phán giữa liên bang và các cấp chính quyền thấp hơn thiết kế
nên các biện pháp kiểm soát việc vay nợ địa phương. Các chính quyền địa phương tích cực
tham gia xây dựng các mục tiêu kinh tế vĩ mô và các thông số tài khóa quan trọng làm cơ sở
cho những mục tiêu này, do đó sẽ cùng nhau chịu trách nhiệm về thành tích chung. Quá trình
này dẫn đến một thỏa thuận về các mục tiêu thâm hụt ngân sách tổng thể, cũng như những
thỏa thuận trên các hạng mục chính của nguồn thu và nguồn chi. Các giới hạn cụ thể sau đó
được nhất trí cho các yêu cầu về tài trợ của từng cơ quan thẩm quyền địa phương.
vay nợ của chính quyền địa phương. Họ nhận ra rằng có vẻ sẽ không thành công nếu chỉ dựa
vào quy tắc thị trường để kiểm soát sự vay mượn của chính quyền địa phương. Hơn nữa, họ
cho rằng phương pháp kiểm soát nợ dựa trên một điều luật dường như được yêu thích hơn
những kiểm soát về mặt hành chính xét theo phương diện sự minh bạch và chắc chắn. Họ
cũng cho rằng những thỏa thuận hợp tác có thể là một sự phát triển mới đầy hứa hẹn của
những chính quyền địa phương trong việc xây dựng và thi hành những chương trình điều
chỉnh tài khóa trung hạn, và nhờ đó khuyến khích hơn trách nhiệm liên quan đến vấn đề ngân
sách.
Ter-Minassian, Albino-War và Singh (2004) đưa ra những kết luận tương tự qua các
kiểm nghiệm khác nhau trong thu nhập tài khoá địa phương trung bình đối với 15 quốc gia có
các chế độ vay mượn của địa phương không giống nhau. Họ kết luận các quy luật tài khoá tự
chúng có khuynh hướng phối hợp để đem đến những kết quả tốt hơn, phản ánh một cam kết
mạnh mẽ hơn với sự đúng đắn về tài khoá. Phương pháp này có hiệu quả tốt nhất khi có một
ít kinh nghiệm về các gói cứu trợ. Tuy nhiên, sự phân tích về những con số trung bình giản
đơn không thể kiểm soát một số lượng lớn các nhân tố ảnh hưởng tới sự cân bằng tài khóa địa
phương (ví dụ, sự mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc) và vì thế cần được tiến hành lại.
Rodden và Eskeland (2003) tóm tắt lại các tình huống khác và nhấn mạnh rằng cả sự giám sát
mạnh theo cấp bậc và cơ cấu thị trường mạnh, phải được áp dụng đúng để hạn chế việc vay
mượn địa phương một cách hiệu quả. Ngược lại, Rattse (2002), xem xét kinh nghiệm của các
quốc gia châu Âu, cho thấy rằng những chính quyền được phân cấp có thể đạt được sự ổn
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang
11
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang
12
II. Phân tích thực nghiệm
Dữ liệu
Nghiên cứu này cố gắng đánh giá liệu việc thiết lập những kiểm soát vay mượn địa
phương có dẫn đến những kết quả tài khoá riêng biệt hay không, trong đó các kết quả này
được đo lường như tỷ số tổng cán cân tài khóa địa phương so với doanh thu tài khóa. Chúng
tôi tập trung vào dài hạn, phân tích tác động trung bình của các đặc điểm về mặt thể chế và
những thỏa thuận liên bang của những cán cân tài khóa địa phương hợp nhất tính trong dài
dạn.
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu mới thu thập về chế độ vay mượn của địa phương và
kết quả tài khoá của 43 quốc gia (bao gồm cả các quốc gia công nghiệp và mới nổi, liên bang
và đơn nhất) trong giai đoạn 1982 – 2000. Dữ liệu lấy chủ yếu từ Cơ quan thống kê tài chính
của chính phủ IMF (Government Finance Statistics (GFS)). Nếu những mặt khác không được
nêu ra, cấp độ đầu tiên của chính quyền địa phương cung cấp dữ liệu cho mỗi quốc gia
Chúng ta phân loại tất cả các quốc gia dựa trên việc thiết lập các biện pháp kiểm soát
vấn đề vay nợ địa phương của các quốc gia đó (xem bảng 1) và xác định những thay đổi về
trong chính sách, nếu có. Nếu các quốc gia thay đổi chế độ vay nợ địa phương của mình
trong suốt thời kỳ mà dữ liệu có hiệu lực (ví dụ, Đức hoặc Hungary), chúng ta kết luận về nó
theo hai đơn vị chéo khác nhau để ứng với mỗi khoảng thời gian (trước và sau khi thay đổi
chế độ) ta có thể cung cấp một thước đo rõ ràng về vấn đề kiểm soát vay nợ địa phương. Đối
cáo tài chính và báo cáo ngân sách của chính quyền địa phương tạo điều kiện
thuận lợi cho việc kiểm soát các thực thi về ngân sách của họ, làm cho tính bắt
buột của các điều luật trở nên hiệu quả hơn. Von Hagen và Harden (1994) và
Poterba và von Hagen (1999) xác nhận rằng các thủ tục ngân sách minh bạch đã
góp phần cải thiện vấn đề kỷ luật tài khoá những năm 1980 và đầu những năm
1990. Nghiên cứu này sử dụng biến giả đại diện cho các chuẩn mực chung.
3. Nhm trong qun lý, cai tr:
Tham nhũng (được đo lường bằng cách sử dụng chỉ số nhận thức dựa trên một cuộc
khảo sát) có thể có một tác động tiêu cực (hay gián tiếp) lên kỷ luật tài khoá địa
phương, và như vậy, nó có mối liên hệ với các thể chế tài khoá yếu kém.
Sự độc lập của ngân hàng trung ương (được đo lường bởi chỉ số Cukieman’s (1992))
yêu cầu một sự ràng buộc ngân sách mạnh hơn ở tất cả các cấp chính quyền và có thể
cải thiện các kết quả tài khoá.
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang
14
4. Chi phí liên quan t n: lãi suất thực tế thấp hơn, lạm phát cao hơn và
chi tiêu cho dịch vụ nợ thấp hơn (được đo lường bởi tỷ số Chi phí trả cho việc vay
nợ trên tổng thu nhập quốc gia) làm cho việc vay mượn trở nên rẻ hơn và vì thế
có thể khuyến khích thâm hụt ngân sách nhiều hơn.
5. Các bin chính tr:
Một biến giả cho dân chủ nghị viện: Persson và Tabellini (2003) tìm thấy bằng chứng
về các sự khác biệt đáng kể trong hành vi tài khoá của các chính quyền trong nền dân
Trang
15
8. Các bin v c:
Kích thước chính phủ: là tỷ lệ chi tiêu chính phủ/GDP có thể ảnh hưởng tới cán cân
tài khoá, bởi vì các chính phủ lớn hơn sẽ khó khăn hơn trong việc cân bằng ngân sách
của họ.
Khu vực: Rodden (2002) đưa ra 1 báo cáo rằng các quốc gia càng lớn (xét về mặt khu
vực) trung bình có thặng dư tài khoá nhiều hơn.
9. Cu trúc liên bang:
Biến giả cấu trúc liên bang, vì nó có ảnh hưởng tới năng lực đàm phán của các vùng,
làm giảm sự nghiêm ngặt trong tài khoá.
Kích cỡ trung bình của cơ quan có thẩm quyền địa phương (được đo lường bằng tỷ lệ
giữa chi tiêu trung bình của chính quyền địa phương/GDP), bởi vì cơ quan có thẩm
quyền lớn thì dễ dàng hơn trong vay mượn và có thể đảm nhận được các dự án đầu tư
có quy mô lớn cần sự hỗ trợ từ các nguồn lực tài chính bên ngoài.
Bất cân bằng theo chiều ngang (chênh lệch giữa các khu vực trong thu nhập bình quân
đầu người và chi tiêu ngân sách) gọi là các chương trình cân bằng hoá, các chương
trình này sẽ đem lại sự tin cậy cao hơn trong các khoản chuyển giao liên bang.
Phương pháp tiếp cận chung
Phần này nghiên cứu tác động lâu dài của việc kiểm soát vấn đề vay nợ địa phương.
Kiểm soát việc vay nợ địa phương này nhằm giải quyết vấn đề thiếu kỷ luật tài khóa của các
địa phương nói trên. Bởi vì những vấn đề trên ngày càng trở nên nghiêm trọng khi sự mất cân
bằng tài khóa theo chiều dọc ngày càng lớn (như đã thảo luận ở phần I), mọi người mong
rằng việc kiểm soát nợ sẽ mang lại tác động biên cao trong tình trạng mất cân bằng ngân sách
theo chiều dọc cao như trong cuộc nghiên cứu. Để có đươc khả năng này, ta giả định hiệu quả
biên phụ thuộc vào mức độ mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc và được biểu hiện thông
qua mô hình tuyến tính sau:
kỳ hạn tương tác thể hiện mức độ mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc và biến giả đại diện
cho mỗi chế độ. Những thiết lập về các biến giả đặc trưng cho mỗi chế độ và kỳ hạn tương
tác kết hợp với nhau tạo ra những tác động biên như được mô tả ở phương trình (1).
Với:
i: quốc gia i
t: năm
SS: cân bằng tài khóa của chính quyền địa phương
Self, coop, central, admin: các biến giả thể hiện lần lượt: quy định tự thiết lập, các
thỏa thuận hợp tác, các quy định thiết lập tập trung và các kiểm soát hành chính.
Controls: vector của các biến kiểm soát.
là sai số.
Nhóm các quốc gia không có các quy tắc mà ta chọn là nhóm tham khảo để so sánh.
Theo Rodden (2002) thì còn có biến cân bằng ngân sách của chính quyền trung ương
(đo lường bằng tỷ số giữa thặng dư và thu nhập của chính quyền trung ương – biến CS trong
phương trình) được thêm vào vì nhiều lý do. Thứ nhất, cân bằng ngân sách trung bình của
chính quyền trung ương đại diện cho sự ưu tiên chung của xã hội đối chính sách tài khóa bền
vững. Thứ hai, những quốc gia có dữ liệu của chính quyền địa phương chỉ có thể sử dụng
trong vài năm, cân bằng tài khóa trung bình của chính quyền trung ương có sự tác động đến
chu kỳ kinh doanh. Thứ ba, sự biến động phần nào thu hút sự ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính nghiêm trọng mà cuộc khủng hoảng này có tác động đến kết quả tài khóa
trong việc giải quyết vấn đề về các ràng buộc ngân sách mềm trong dài hạn.
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang
18
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang
19
Hình 1 mô tả tác động biên của các thể chế vay mượn khác nhau lên kết quả tài khóa
của địa phương ở những cấp độ mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc khác nhau. Sự thật về
các quy định được thiết lập tập trung và các thỏa thuận hợp tác có thể gây nguy hại khi mất
cân bằng tài khóa bằng 0 không nên bị hiểu sai: bởi vì mất cân bằng tài khóa bằng 0 không
thể xảy ra. Những khu vực mà các quy định tự thiết lập được cho là tối ưu (mức mất cân bằng
tài khóa theo chiều dọc dưới 11%) chỉ gồm có 3 quốc gia nhưng các khu vực nơi quy định
được thiết lập tập trung đạt kết quả cao (mức mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc cao hơn
thiết lập tập trung (trong mẫu gồm 6 nền kinh tế mới nổi và 6 nước công nghiệp). Hệ số
dương và có ý nghĩa thống kê của biến tương tác vfi*central*emerge được thêm vào phương
trình (2) sẽ cung cấp các bằng chứng ủng hộ giả thuyết (emerge là biến giả thể hiện các nền
kinh tế mới nổi).
Kết quả thể hiện trong cột 4 bảng 2. Hình 2 minh họa tác động biên của các quy định
được thiết lập tập trung ở các nước công nghiệp và các nền kinh tế mới nổi theo các mức độ
mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc khác nhau. Kết quả cho thấy rằng tại các nền kinh tế
mới nổi, việc thi hành các quy định tài khóa tập trung thậm chí mạnh mẽ hơn bởi vì chúng bắt
đầu hoạt động tốt hơn các phương pháp tiếp cận khác ở những mức mất cân bằng tài khóa
theo chiều dọc thấp hơn một cách đáng kể, và tác động biên của chúng sẽ tăng nhanh hơn khi
mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc càng mở rộng.
Cuối cùng, bởi vì việc thiết lập biến giả lịch sử các gói cứu trợ trong nhiều trường hợp
dựa vào các quan điểm cá nhân về mục đích của các khoản chuyển giao liên chính quyền và
cách thức các khoản chuyển giao này được phân bổ, do đó chúng tôi đã ước lượng phương
trình (1) mà bỏ qua biến lịch sử cứu trợ tài chính. Kết quả thể hiện ở bảng phụ lục A.4 tương
đối giống với bảng 2.
Vấn đề nội sinh tiềm tàng của việc kiểm soát vay nợ địa phương
Những ước lượng trình bày trong hình 1 có thể bị sai lệch nếu việc kiểm soát vay nợ
địa phương không hoàn toàn do các yếu tố ngoại sinh. Mặc dù chế độ vay nợ địa phương có
tác động tới kết quả tài khóa trung bình của địa phương, nhưng tới lượt mình, kết quả tài khóa
lại tác động trở lại đến sự lựa chọn chế độ vay nợ địa phương. Các quốc gia với các chính
quyền địa phương có kỷ luật tài khóa kém hơn có thể phải áp dụng các quy định nghiêm ngặt
hơn, trong khi các quốc gia với kỷ luật tài khóa tốt có thể dựa vào kỷ luật thị trường. Thực tế
là hầu hết các quốc gia lựa chọn kiểm soát vay nợ địa phương trước giai đoạn tiến hành xem
xét, và do đó cân bằng tài khóa của địa phương trung bình không có thể tác động trực tiếp
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang
22
có liên quan tới kết quả tài khóa yếu kém của địa phương hiện nay thì liên quan đến các
phương pháp tiếp cận khác (trừ việc hợp tác khi sự mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc ở
mức độ cao). Thứ hai, tác động biên dương của các thỏa thuận hợp tác giảm dần khi sự mất
cân bằng tài khóa theo chiều dọc ngày càng lớn. Cả hai quan sát trên đều cho thấy các quốc
gia không áp đặt các giới hạn lên vấn đề vay nợ địa phương hoặc việc lựa chọn phương pháp
hợp tác về bản chất dành cho những chính quyền địa phương có kỷ luật tốt hơn, trong khi các
quốc gia có kỷ luật kém hơn lựa chọn các quy định tài khóa hoặc những biện pháp kiểm soát
về hành chính.
III. Kết luận và đề xuất
Việc đánh giá tác động của một khung thể chế lên kết quả tài khóa là một nhiệm vụ
mang tính thử thách. Khung thể chế điều chỉnh mối quan hệ tài khóa liên chính quyền thì
phức tạp và việc phân loại các quốc gia thường yêu cầu tiến hành một cách bài bản. Một số
quốc gia có thể sử dụng đồng thời một vài đặc tính thể chế, trong khi một số quốc gia khác có
thể lựa chọn các thể chế khác qua thời gian. Hơn nữa, những đặc điểm thể chế khác mà nó
cũng tác động đến chính sách tài khóa thì có thể được tiến hành cùng với khung tài khóa này
và việc giải quyết vấn đề này thì khá khó khăn. Việc sử dụng một bảng các biện pháp kiểm
soát (xem phụ lục Bảng A.2 và A.4) và các biến công cụ làm giảm đi việc lựa chọn tự định và
các vấn đề nội sinh, tuy nhiên, chúng ta không thể loại bỏ chúng một cách triệt để. Các
phương pháp kiểm soát vấn đề lựa chọn tự định, bán tham số (trên cơ sở điểm xu hướng –
propensity score-based) hoặc tham số (nhân tố ước lượng của Heckman), không may lại đặt
quan đến các biện pháp kiểm soát trên có vẻ làm giảm đi tính kỷ luật tài khóa về lâu
dài.
Việc thông qua những tiêu chuẩn báo cáo tài chính chung là điều cốt lõi cho sự thành
công của các thỏa thuận hợp tác và có thể làm gia tăng tính hiệu quả của các quy tắc
tài chính được thiết lập tập trung.
Tuy nhiên, các quy tắc tài khóa có thể có thể có nhiều hình thức khác nhau. Như đã
thảo luận, một vài quy tắc thiết lập nên mức trần cho các khoản nợ hay định ra mức thâm hụt
tài khóa mục tiêu. Thêm vào đó, những ràng buộc trong việc vay nợ có thể được thực thi theo
nhiều cách khác nhau. Ở một vài quốc gia, các thị trường tài chính sẽ xử lý những chính
quyền địa phương thiếu kỷ luật tài khóa. Những quốc gia khác ủng hộ phương pháp tiếp cận
theo hướng hợp tác hơn, theo đó các chính quyền địa phương đồng ý đặt ra các hình thức xử
lý và xử phạt về mặt hành chính lẫn tài chính. Các cấp chính quyền cao hơn có thể có quyền
đưa ra việc xử phạt đối với những chính quyền địa phương không tuân thủ quy định. Một vài
How Should Subnational Government Borrrowing Be Regulated? Some Cross-Country Empirical Evidence
Alexander Plekhanov and Raju Singh
Trang
24
quốc gia thậm chí có thể tiến hành các thủ tục phá sản đối với trường hợp mà chính quyền địa
phương lâm vào tình trạng khủng hoảng, nhằm tránh phải cứu trợ tài chính và đạt được một
tiến trình giải quyết minh bạch hơn. Cuối cùng, hệ thống chuyển giao có thể có nhiều hình
thức khác nhau, và ở một mức độ mất cân bằng tài khóa theo chiều dọc nào đó có thể tạo ra
những động lực khác nhau. Giới hạn trong những dữ liệu hiện có, bài nghiên cứu này không
thể làm rõ được sự tương tác của những đặc tính thể chế quan trọng và điều này sẽ được tiếp
tục nghiên cứu sau.