TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Đề tài : Tương lai của đồng ền chung châu Âu
trong bối cảnh khủng hoảng nợ công khu vực.
LỚP : CH21H
Nhóm 2 : NGUYỄN QUỐC DŨNG
PHÙNG HỮU HẢI
ĐẶNG THU HẰNG
VŨ THỊ BÍCH HẠNH
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
PHAN HẢI HIỆP
MỤC LỤC
1. Khái niệm tiền tệ: 4
2. Khái quát về đồng tiền chung Châu Âu (EUR) và các giai đoạn phát triển 6
PHẦN II: CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỒNG EUR 12
1. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 12
1.1. Các tiêu chí đánh giá nợ công 12
1.2. Tình hình nợ công của các nước ở Châu Âu 13
1.3. Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 14
1.4. Hy Lạp, nền kinh tế trên bờ vực phá sản của Châu Âu 15
2. Những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công đến vị thể của đồng Euro? 16
2.1. Sự suy yếu của các nền kinh tế Châu Âu 16
PHẦN III: TƯƠNG LAI VÀ TRIỂN VỌNG CỦA ĐỒNG EUR 22
2. Các giải pháp tăng cường vị thế EUR 25
PHẦN 5: BÀI HỌC RÚT RA TỪ KHU VỰC ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU CHO KHU VỰC CHÂU Á 26
KẾT LUẬN 30
MỞ ĐẦU
Thực trạng nợ công châu Âu qua những con số
14/27 nước thuộc Liên minh châu Âu (có cả Anh và Pháp) có tỷ lệ nợ tương đương hơn 60%
GDP, mức giới hạn an toàn mà Liên minh châu Âu đưa ra.
Hy Lạp không phải nước duy nhất đương đầu với khủng hoảng tín dụng và nợ.
tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời
kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi.
• Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người ta có thể
nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Chính vì thế những tờ giấy bạc do ngân hàng trung
ương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy chất lượng cao nào khác.
• Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao cho người bán
được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loại tiền có mệnh giá
lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của
phương thức hàng đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về
số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ khác cũng cần thiết
không kém.
• Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trị cũng
như mới có ích trong trao đổi. Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền, chính vì vậy những
tờ giấy bạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền
chắc.
• Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang theo, tiền tệ
phải dễ vận chuyển. Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và những đồng xu có kích thước, trọng
lượng rất vừa phải chứ tiền giấy không được in khổ rộng ví dụ như khổ A4.
• Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì nếu có thể
kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ giá trị và không
được chấp nhận trong lưu thông nữa. Vì thế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạc
được dùng làm tiền tệ và ngày nay ngân hàng trung ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiền
giấy và tiền xu.
• Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau không phân
biệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND được làm ra cách đây 2 năm cũng có giá
trị như một đồng xu như thế vừa mới được đưa vào lưu thông. Có như vậy tiền tệ mới thực hiện
chức năng là đơn vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi.
Làm thế nào để đồng tiền của một quốc gia nào trở thành một ngoại tệ mạnh
• - Đảm báo cho đồng tiền thực hiện đúng chức năng của nó: là phương tiện trao đổi hàng
hóa, dịch vụ.
một trong những đồng tiền chủ chốt với vai trò và vị thế không ngừng được nâng cao trên các thị
trường tài chính quốc tế.
Kể từ khi ra đời, giá trị của đồng EUR so với các đồng tiền chủ chốt (USD, GBP, JPY) đã
không ngừng tăng lên. Tính toán theo số liệu của Reuters cho thấy, đồng EUR đã tăng 13,6% so
với đồng USD trong giai đoạn 13 năm kể từ khi ra đời (tính đến ngày 25/6/2012). Tuy nhiên,
trong giai đoạn 1999-2012, có thể nhận thấy rõ 3 giai đoạn biến động của đồng EUR: (i) Giai
đoạn 1999-2001 (giá trị đồng Euro giảm liên tục); (ii) Giai đoạn 2002-2008 (giá trị đồng Euro
tăng mạnh); và (iii) Giai đoạn 2008-2012 (đồng Euro biến động mạnh sau khủng hoảng tài chính
toàn cầu. (Hình 1,2,3)
Hình 1. Các giai đoạn biến động tỷ giá EUR/USD kể từ khi đồng Euro ra đời
(Nguồn: Reuters)
Hình2. Biến động tỷ giá EUR/GBP, 1999-2012 Hình
3. Biến
động tỷ
giá
EUR/JPY,
1999-2012
(Nguồn: Reuters)
(i) Giai đoạn 1999-2001 (đồng Euro giảm giá, nhưng vai trò quốc tế cũng từng
bước được định hình):
Trong giai đoạn này, đồng Euro được sử dụng như là một đơn vị hạch toán trên các thị
trường tài chính, thay thế cho Đơn vị tiền tệ châu Âu cũ (ECU) theo tỷ lệ trao đổi là 1:1. Kể từ
1/1/1999, trái phiếu nhà nước được phát hành bằng đồng Euro và việc chuyển khoản giữa các
ngân hàng được thực hiện bằng đồng tiền quốc gia hoặc bằng đồng Euro.
Mặc dù vậy, việc tiếp nhận đồng Euro trong thanh toán thương mại quốc tế ở giai đoạn đầu
khi đồng tiền này mới ra đời còn rất khó khăn do đồng Euro không tồn tại trên thực tế dưới dạng
tiền mặt. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế - xã hội của châu Âu trong giai đoạn 1999-2001 vẫn còn
nhiều khó khăn và khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn thấp. Các yếu tố trên khiến đồng
Euro giảm giá mạnh so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt (USD, GBP, JPY, CHF, CAD) trong 3
năm đầu khi mới ra đời. Trong giai đoạn 1999-2001, đồng Euro giảm giá 26,5% so với Đôla Mỹ,
(như thâm hụt ngân sách quốc gia dưới 3% GDP, nợ công dưới 60% GDP, minh bạch về ngân
sách ), đồng Euro đã tạo sự tin cậy khá cao trong giới tài chính quốc tế kể từ khi ra đời vào
ngày 1/1/1999. Tuy nhiên, kể từ khi Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha rơi vào cuộc khủng
hoảng nợ công, cùng với tình trạng nợ công ngày càng xấu đi ở các nước thành viên khác, thì giá
trị và sức mạnh của đồng Euro đã bị suy giảm.
Hình 4. Chỉ số giá EUR giai đoạn 2009-2012
(Ghi chú: Chỉ số giá EUR đo lường sự biến động của đồng EUR so với một rổ tiền tệ gồm
6 loại: USD, JPY, GBP, CAD, CHF, SEK.)
Tính chung trong vòng hơn 3 năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (từ đầu năm 2009 đến
25/6/2012), chỉ số giá EUR đã giảm 16,1% (Hình 4). Đồng Euro giảm giá 8,6% so với Đôla Mỹ,
giảm 15,8% so với Bảng Anh, giảm 20,5% so với Yên Nhật, giảm 19,7% so với Franc Thụy Sỹ
và giảm 24,5% so với Đôla Canada trong giai đoạn 2009-2012. Đặc biệt, chỉ trong vòng 1 năm
trở lại đây (6/2011-6/2012), chỉ số giá đồng Euro giảm 9,8%, trong đó, đồng Euro giảm 12,3%
so với Đôla Mỹ, giảm 10% so với Bảng Anh, giảm 13,7% so với Yên Nhật. (Tính toán từ số liệu
của Reuters đến ngày 25/6/2012).
Cùng với sự suy giảm về giá trị, vai trò và vị thế quốc tế của đồng Euro cũng chịu tác động
tiêu cực. Bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động hơn kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn
cầu cũng như cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu lan rộng khiến các nước có xu hướng đa dạng
hóa dự trữ ngoại hối nhằm giảm bớt rủi ro. Điều này khiến tỷ trọng dự trữ bằng đồng Euro giảm
từ mức 27,7% (năm 2009) xuống mức 25% vào cuối năm 2011, mặc dù vẫn là đồng tiền dự trữ
quốc tế lớn thứ hai trên thế giới, sau Đôla Mỹ. Trong khi đó, cơ cấu dự trữ của các đồng tiền
khác tăng từ mức 2% (năm 2007) lên 3,9% vào cuối năm 2011 trong bối cảnh các nước tìm kiếm
việc đa dạng hóa rủi ro sau khủng hoảng. (Bảng 1)
Bảng 1. Cơ cấu dự trữ ngoại hối toàn cầu theo loại tiền
Năm
199
9
200
5
200
5,
6
Đôla Mỹ (%) 71,0 66,9 65,5 64,1
64
,1
62
,0
61
,8
62
,1
Đồng Euro (%) 17,9 24,1 25,1 26,3
26
,4
27
,7
26
,0
25
,0
Yên Nhật (%) 6,4 3,6 3,1 2,9
3,
1
2,
9
3,
7
3,
7
Bảng Anh (%) 2,9 3,6 4,4 4,7
thành viên, trong khi đó trần nợ công vẫn duy trì ở mức 3% GDP, kèm theo điều luật mới quy
định nếu nước nào vi phạm sẽ tự động bị trừng phạt nặng nề.
Một giải pháp khác cũng được thông qua nhằm cứu nguy cho Khu vực đồng Euro đó là
thành lập quỹ cứu trợ thường trực của khu vực có quy mô 500 tỷ EUR với tên gọi là Cơ chế Ổn
định châu Âu (ESM), dự kiến có hiệu lực vào tháng 7/2012. ESM sẽ được cấp một giấy phép
hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, giúp ESM có thể tiếp cận thanh khoản của Ngân hàng
Trung ương châu Âu (ECB), nâng cao khả năng của cơ chế này đối phó với cuộc khủng hoảng
nợ của khu vực đồng Euro. ESM cũng có khả năng trực tiếp tái cấp vốn cho các ngân hàng. Mặc
dù vậy, để thỏa thuận này được ký kết vào năm tới với sự tham gia của 17 nước thành viên và 9
nước còn lại sẽ không phải là vấn đề đơn giản, nếu không muốn nói là quá khó khăn. Do đó,
đồng Euro sẽ còn phải đối mặt với nguy cơ tan rã trong năm 2012 nếu cuộc khủng hoảng nợ
công không được kiểm soát và các nước trong khu vực không ký kết được thỏa thuận chung
Kỳ vọng về đồng tiền chung Châu Âu
- Đối với khu vực đồng Euro (Eurozone), đồng tiền chung ra đời đã thúc đẩy sự phát triển
thương mại giữa các quốc gia thành viên, giúp tối đa hóa lợi ích trao đổi thương mại trong khu
vực nhờ vào việc giảm thiểu biến động tỷ giá và hạn chế chi phí giao dịch liên quan đến chuyển
đổi các đồng tiền khác nhau. Việc niêm yết một đồng tiền chung cũng giúp thị trường tài chính
hoạt động hiệu quả hơn, các chính phủ và doanh nghiệp cũng giảm được chi phí tiếp cận với các
nguồn vốn trên thị trường tài chính.
- Giảm thiểu rủi ro về tỷ giá hối đoái
Với đồng tiền chung Châu Âu, người ta cũng tin rằng giá cả của sản phẩm và dịch vụ sẽ
không còn chênh lệch nhau nhiều nữa. Điều này dẫn đến cạnh tranh mạnh hơn giữa các doanh
nghiệp và vì thế sẽ làm giảm lạm phát và tăng sức mua của người tiêu thụ.
PHẦN II: CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỒNG EUR
1. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
1.1. Các tiêu chí đánh giá nợ công
Theo WB (2002) thì nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ
được Chính phủ bảo lãnh. Với định nghĩa như thế này, nếu như hiểu nợ của Chính phủ bao gồm
nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương thì có thể thấy định nghĩa của
WB giống với định nghĩa được đưa ra trong Luật quản lý nợ công của Việt Nam.
Sip cũng đã bị đẩy tới bờ vực để nhận gói cứu trợ.
Từ cuối năm 2009, lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ quốc gia gia tăng giữa các nhà đầu tư
liên quan đến một số nước châu Âu, mối lo sợ này tăng lên vào đầu năm 2010. Các quốc gia có
vấn đề về nợ công trong khu vực châu Âu bao gồm các thành viên Hy Lạp, Ireland, Ý, Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha, và cũng có một số khu vực châu Âu không thuộc Liên minh châu Âu.
Iceland, đất nước trải qua cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong năm 2008 khi toàn bộ hệ
thống ngân hàng quốc tế của nó sụp đổ, ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng nợ công. Trong
Liên minh châu Âu, đặc biệt là ở các nước nơi các khoản nợ công tăng mạnh do kế hoạch giải
cứu ngân hàng, khủng hoảng niềm tin dấy lên với việc mở rộng lây lan lãi suất trái phiếu và bảo
hiểm rủi ro giao dịch hoán đổi tín dụng mặc định giữa các nước này và các nước thành viên EU
khác, quan trọng nhất là Đức. Ngày 2/5/2010, các nước thành viên khu vực đồng euro và Quỹ
Tiền tệ Quốc tế đã thông qua khoản vay 110 tỷ euro cho Hy Lạp, với điều kiện nước này phải
thực thi các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt. Ngày 09/05/2010, Bộ trưởng Bộ Tài
chính châu Âu đã thông qua gói giải cứu trị giá 750 tỷ euro nhằm đảm bảo sự ổn định tài chính ở
khu vực châu Âu, và lập ra Ủy ban Ổn định Tài chính châu Âu. Tiếp theo đó là gói cứu trợ trị giá
85 tỷ euro cho Ireland vào tháng 11 năm 2010 và 78 tỷ euro cho Bồ Đào Nha vào tháng 5 năm
2011. Cuộc khủng hoảng nợ công đã đe dọa sự tồn tại của đồng tiền euro, gây ảnh hưởng nền tài
chính toàn cầu
1.3. Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
Nguyên nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng này chính là do dư âm từ cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu cuối năm 2007 đánh mạnh vào nền kinh tế tại các quốc gia phát triển. Sự suy
thoái kinh tế khiến cho các quốc gia phải thực hiện các biện pháp kích thích kinh tế thông qua
việc tăng chi và giảm thu ngân sách, khiến cho ngân sách chính phủ thâm hụt mạnh.
Những chính sách tăng trưởng tại các quốc gia này không đi kèm với một chính sách tài
khóa bề vững và sự mất cân đối trong việc vay nợ của mình. Hy Lạp, kể từ khi gia nhập khối
đồng tiền chung Eurozone vào năm 2011 cho đến khủng hoảng tài chính năm 2008 , mức thâm
hụt ngân sách được công bố trung bình vào khoảng 5% mỗi năm, trong khi con số này của cả
khối Eurozone chỉ là khoảng 2% (IMF, 2009). Chính vì thế, Hy Lạp đã không thể duy trì được
những chỉ số theo quy định chuẩn của Ủy ban kinh tế và tiền tệ của EU (EMU), với mức trần
thâm hụt ngân sách là 3% và nợ nước ngoài là 60%. Tuy nhiên, Hy Lạp không phải là quốc gia
chung châu Âu (Eurozone). Hiện tại, vấn đề nợ công quá cao và sự yếu kém của nền kinh tế do
khủng hoảng tài chính khiến Hy Lạp đang đối diện với rủi ro lớn mà khó có thể giải quyết trong
ngắn hạn. Rủi ro này xuất phát từ nợ công cao do thâm hụt ngân sách cao, kéo dài, và thêm vào
đó một tỷ lệ lớn khoản nợ này là các khoản vay từ nước ngoài.
Tiết kiệm trong nước thấp, vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công. Kinh tế Hy Lạp tăng trưởng
mạnh, bình quân ở mức 4.2%/năm trong giai đoạn 2002-2007. Lợi tức trái phiếu liên tục giảm
nhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu (EU), tạo điều kiện cho chính phủ Hy Lạp tăng cường
vay nợ tài trợ cho chi tiêu công. Thêm vào đó, tiết kiệm nội địa của nước này cũng sụt giảm
nhanh chóng. Những năm cuối của của thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân chỉ ở
mức 11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý và Tây Ban Nha.
Do vậy, đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài.
Chi tiêu kích thích kinh tế sau khủng hoảng năm 2008 làm trầm trọng thêm vấn đề. Năm
2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các ngành công nghiệp chủ
chốt của nước này. Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm
2009. Kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà
nước bị co hẹp mạnh. Trong khi đó Hy Lạp lại phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh
tế. Tính đến tháng 01/2010, nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế
được dự báo có thể vượt mức 120% GDP.
Tương lai của Hy lạp và xu hướng các nước nợ công trong liên minh EU?
Hy Lạp là một nền kinh tế nhỏ, hàng năm chỉ đóng góp khoảng 2% vào GDP của khu vực
đồng tiền chung châu Âu. Tuy vậy, nếu Hy Lạp mất khả năng thanh toán thì hậu quả sẽ lan rộng
khắp châu Âu và có thể gây nên một cuộc khủng hoảng nợ trên quy mô lớn. Vì thế các nước
quyết tâm cứu nền kinh tế Hy Lạp thoát khỏi khủng hoảng.
EU thông qua gói cứu trợ 110 tỷ Euro (tương đương 136 tỷ USD). EU đã lập quỹ chống
khủng hoảng trị giá 750 tỷ Euro (gần 1,000 tỷ USD), trong đó có 250 tỷ Euro từ nguồn IMF,
dành cho các nước EU để ngăn chặn cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp đe dọa sự ổn định của các
thị trường tài chính toàn cầu.
Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thông báo mở lại các dịch vụ hoán đổi tiền tệ để
NHTW châu Âu (ECB) tiếp cận dễ dàng hơn các nguồn tài chính bằng đồng USD. Ngoài ra,
ECB cũng đã bắt đầu mua vào trái phiếu của các nước EU trên thị trường thứ cấp, nhằm tăng
hoạt của vùng phía Nam tạo thành một loại tiền mới được đánh giá là mạnh mẽ hơn bất kỳ loại
tiền nào mà nó thay thế. Dưới sự quản lý của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tại
Frankfurt, đồng euro đã trở thành một đồng tiền dự trữ cạnh tranh với USD.
Mặc dù các quốc gia phía Bắc được cho là khôn ngoan, dù không phải lúc nào cũng giữ cho
thâm hụt ngân sách nằm trong mức kiểm soát, nhưng họ luôn quản lý nền kinh tế tồn tại được
trong sư suy thoái toàn cầu tồi tệ nhất từ trước đến nay. Ngược lại, sự hoang phí của các quốc gia
phía Bắc, cùng với hệ thống ngân hàng không hoàn thiện của mình, đã tạo ra một điểm nóng cho
cuộc khủng hoảng kéo dài 3.700 km từ Lisbon cho đến Nicosia.
Các cuộc khủng hoảng này sẽ xảy ra ngắn hơn rất nhiều nếu các quốc gia liên quan như Hy
Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Síp, Slovenia và tới đây có thể là Italy sở hữu đồng tiền của
riêng mình. Tuy nhiên, tất cả các nước kể trên đều sử đụng đồng euro, do đó, chính sách tiền tệ
của họ được thiết lập ở Frankfurt, tại ECB. Thay vì phá giá đồng tiền của họ để kích thích xuất
khẩu và dễ dàng trả nợ, tất cả các quốc gia này đã phải trải qua một số sự kết hợp của nền tài
chính thắt lưng buộc bụng, giảm phát, và đáng chú ý nhất là trong trường hợp của Cộng hòa Síp,
mất mát tài sản.
Thật dễ hiểu khi người dân ở miền nam châu Âu cảm thấy không hài lòng. Nếu nền kinh tế
xấu đi xuất phát thực sự từ những lý do có nguồn gốc ở trong nước, họ sẽ không thấy cay đắng.
Tuy nhiên, hiện nay, họ đang cảm thấy sự khó khăn trong nền kinh tế của quốc gia mình là do
các quan chức, chính trị gia ở Frankfurt, Brussels và các thủ đô phía Bắc. Cách đây không lâu,
một số quan chức và các chính trị gia – những người thu hút miền nam tham gia vào eurozone,
thường rất ít chú ý đến các tình huống tài chính có vấn đề của chính họ.
Chính sự chia cắt trong nội bộ chính trị của các quốc gia miền bắc là một trong những lý do
khiến cho cuộc khủng hoảng tiền nợ của khối bắt đầu và lan rộng. Yếu tố quyền lực chính trị
mỏng dần, không còn tập trung ở Hy Lạp, Tây Ban Nha khiến các mắt xích eurozone bắt đầu rạn
nứt.
Hậu quả của những thiếu sót trong chính trị của eurozone không giới hạn với các nước miền
nam châu Âu. Tại Anh, Đảng Bảo thủ đã sử dụng ảnh hưởng của đồng euro để hùng biện cho sức
mạnh của mình hiện bị hoài nghi và tạo áp lực bởi thành viên của các bên phản đối đang ngày
càng mạnh lên. Ngay cả ở Đức, quốc gia then chốt của eurozone, cũng đã đưa ra đề nghị hủy bỏ
đồng tiền chung, chỉ giữ lại khối liên minh về chính trị.
trị giá khoảng 440 tỷ Euro (tương đương 610 tỷ USD) với thời hạn hoạt động 3 năm nhưng đến
tháng 3/2011, các nước mới chỉ đóng góp được 50%. Trong khi đó, các Bộ trưởng tài chính của
27 nước thành viên EU lại quyết định tăng gấp đôi khả năng cho vay thực tế của Quỹ. Đức và
Pháp là những quốc gia đóng góp nhiều nhất cho Quỹ EFSF, nhất trí ủng hộ việc mở rộng Quỹ
nhưng với điều kiện phải dùng quỹ để mua trái phiếu chính phủ của các nước sử dụng đồng Euro
trên thị trường mở. Tuy nhiên, yêu cầu này của Đức và Pháp lại gặp phải sự chống đối của các
nền kinh tế khác trong khu vực, bởi lẽ họ cho rằng, biện pháp này có thể làm chệch hướng các nỗ
lực giám sát của Ủy ban châu Âu (EC).
Các Bộ trưởng Tài chính châu Âu ngày 21/3/2012 đã đạt được sự đồng thuận về các phương
thức của ESM - Cơ chế ổn định châu Âu, một dạng quỹ cứu trợ tài chính thường trực với số vốn
cơ bản lên tới 700 tỷ Euro nhằm tránh tái diễn các cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai.
Quỹ cứu trợ dài hạn EMS đã bắt đầu đi vào hoạt động (10/2012). Theo giới lãnh đạo tài chính
Eurozone, EMS là một phần của kế hoạch tổng thể nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động tài chính
ở Eurozone và hỗ trợ các nước thành viên gặp khó khăn tài chính. Tuy nhiên, theo IMF, nếu các
nước trong khu vực không nỗ lực “thắt lưng buộc bụng”, thì EMS vẫn không thể san bằng núi nợ
công ở châu Âu.
Thứ hai, sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa các nước thành viên. Sau một số
năm gia nhập EU, khoảng cách và sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này
không những không thu hẹp mà còn nới rộng hơn, trong khi các nước Nam Âu tăng trưởng rất
chậm, thì Đức nhanh chóng trở thành “đầu tàu kinh tế” của châu Âu. Thực tế này đòi hỏi ECB
phải đưa ra được chính sách tiền tệ phù hợp cho các nền kinh tế trong khu vực. Tuy nhiên, việc
tìm được một chính sách tiền tệ như thế là rất khó khăn.
Thứ ba, thiếu ý chí chính trị chung trong giải pháp ứng phó khủng hoảng nợ công. Điều mà
châu Âu cần là phải thiết lập các thể chế, các cơ chế phát triển để đảm bảo tính ổn định của đồng
tiền châu Âu. Khu vực Eurozone không thể tiền tệ hóa số nợ công như trường hợp của Nhật Bản
(do châu Âu bao gồm nhiều Chính phủ và nhiều lợi ích quốc gia khác nhau). Dù ECB có khả
năng chấm dứt khủng hoảng nhưng họ không thể hành động chỉ dựa trên lợi ích của những quốc
gia đang gặp khó khăn (Italia, Hy Lạp…). Đó là lý do khiến cho giải pháp nợ công của khu vực
đồng Euro gặp nhiều khó khăn. Khủng hoảng nợ công châu Âu không phải là một cuộc khủng
hoảng kinh tế mà là cuộc khủng hoảng chính trị bởi lẽ tiền tệ hóa số nợ công ở châu Âu đã gặp
Giải pháp này chỉ tạo thêm hoảng loạn trên thị trường thay vì trấn an dư luận và các nhà đầu tư.
Trên thực tế, nhiều ngân hàng châu Âu không thiếu vốn để phải huy động thêm vốn. Các cơ quan
tài chính chỉ tạm đóng van tín dụng để chờ Liên minh châu Âu có giải pháp rõ ràng trong chính
sách giải quyết khủng hoảng.
Tóm lại, triển vọng kinh tế và sự ổn định tài chính cũng như cuộc khủng hoảng nợ công
nghiêm trọng hiện nay của châu Âu đang là mối đe dọa lớn nhất đối với sự phục hồi kinh tế toàn
cầu. Để giải quyết những bất ổn này, châu Âu cần có giải pháp toàn diện gồm cả tài chính công,
sức cạnh tranh của nền kinh tế và cơ chế ổn định trong tương lai. Tuy nhiên, giải pháp này sẽ
không thể đạt được nếu từng quốc gia châu Âu vẫn tiếp tục đặt lợi ích cá nhân lớn hơn mục tiêu
chung của khu vực. Nghĩa là, EU cần đoàn kết hơn nữa, hy sinh quyền lợi riêng, vì lợi ích chung
toàn khối, mới mong sớm thoát khỏi “bão” nợ công.
2.2. Sự suy yếu của đồng tiền EUR
Trước đây, với những tiêu chí chặt chẽ để được tham gia khu vực Eurozone (như thâm hụt
ngân sách quốc gia dưới 3% GDP, nợ công dưới 60% GDP, minh bạch về ngân sách ), đồng
Euro đã tạo sự tin cậy khá cao trong giới tài chính quốc tế kể từ khi ra đời. Tuy nhiên, kể từ khi
Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công, cùng với tình trạng nợ
công ngày càng xấu đi ở các nước thành viên khác thì giá trị và sức mạnh của đồng Euro đã bị
suy giảm theo.
Tính từ đầu năm 2009 đến 25/6/2012, chỉ số giá Euro đã giảm 16,1%. Đồng Euro giảm giá
8,6% so với USD, giảm 15,8% so với GBP, giảm 20,5% so với JPY, giảm 19,7% so với CHF và
giảm 24,5% so với CAD trong giai đoạn 2009-2012. Đặc biệt, chỉ trong vòng 1 năm trở lại đây,
chỉ số giá đồng Euro giảm 9,8%, trong đó, đồng Euro giảm 12,3% so với USD, giảm 10% so với
GBP, giảm 13,7% so với JPY.
Cùng với sự suy giảm về giá trị, vai trò và vị thế quốc tế của đồng Euro cũng chịu tác động
tiêu cực. Tỷ trọng dự trữ bằng đồng Euro giảm từ mức 27,7% vào năm 2009 xuống mức 25%
vào cuối năm 2011, dù vẫn là đồng tiền dự trữ quốc tế lớn thứ hai trên thế giới.
Lo ngại về khả năng đồng Euro sụp đổ đã lên đến đỉnh điểm trên thị trường tài chính quốc tế
khi các nhà đầu tư từ chối mua một số loại trái phiếu chính phủ châu Âu. Lãi suất trái phiếu
chính phủ nhiều nước thuộc Eurozone đã tăng lên mức cao kỷ lục trong những tháng cuối năm
2011. Lãi suất trái phiếu của Italia đã tăng lên mức 7,6-7,9%/năm ; Lãi suất trái phiếu chính phủ
58
56
54
55
(Nguồn: Reuters, ngày 25/6/2012)
Bảng 2. Dự báo về tỷ giá USD/EUR của Financial Forecast
Tỷ giá dự
báo bình quân
tháng
T5/20
12
T6/20
12
T7/20
12
T8/20
12
T9/20
12
T10/2
012
T11/2
012
EUR/USD 1,280
6
1,260 1,272 1,244 1,210 1,216 1,239
cho cả hệ thống ngân hàng châu Âu.
(ii) Hai là, Hiệp ước Maatstrict thiết lập một đồng tiền chung dựa trên liên minh tiền tệ và
các quy tắc ngăn chặn tình trạng mất cân bằng ở khu vực công, nhưng chưa tính đến các quy tắc
điều chỉnh đối với các thể chế tài chính ngân hàng của khu vực cũng như biến động trên thị
trường tiền tệ;
(iii) Ba là, khả năng thanh khoản và định mức tín nhiệm của các ngân hàng trong khu vực
đồng Euro đã và đang giảm sút, nguy cơ khủng hoảng ngân hàng tăng lên;
(iv) Bốn là, để vượt qua khủng hoảng, khu vực này cần điều chỉnh được tình trạng mất cân
bằng trong một thập kỷ qua để hướng đến cải cách tài chính bền vững hơn, lấy lại niềm tin của
các thị trường tài chính.
Nếu không vượt qua được những thách thức trên, khu vực Eurozone và đồng Euro có thể sẽ
phải đối mặt với sự tan rã trong những năm tới. Theo như nhận định của ông Joseph Stiglitz -
chuyên kinh tế đoạt giải Nobel thì: “Các chuyên gia kinh tế sẽ không còn phải thảo luận câu hỏi
liệu đồng Euro có sụp đổ hay không nữa mà là khi nào và bao giờ điều đó sẽ xảy ra”.
EU đang ngày càng yếu đuối, biểu hiện là 17 quốc gia trong eurozone đang khiến EU có
nguy cơ chìm sâu vào suy thoái.
Về lâu dài, các vấn đề nội bộ eurozone sẽ chỉ ngày càng tồi tệ hơn. Các quốc gia phía Nam
đã xây dựng được một chế độ lương hưu cho tương lai, và nền kinh tế của họ có xu hướng làm
các công việc đơn giản, khuyến khích tinh thần kinh doanh và đổi mới. Nói chung, họ phải đối
mặt với rủi ro lớn hơn và cơ hội nhỏ hơn so với các nước láng giềng phía bắc. Thậm chí, nếu
đồng euro sống sót sau khủng hoảng hiện tại, những triển vọng phát triển của họ tiếp tục mờ
nhạt.
Đồng euro được cho là mang lại cho các quốc gia trong EU xích lại gần nhau hơn, tạo điều
kiện thuận lợi cho thương mại và đồng bộ hóa chu kỳ kinh doanh. Nhưng vì thế, đồng euro cũng
kéo dài và đào sâu cuộc khủng hoảng kinh tế.
2. Các giải pháp tăng cường vị thế EUR
Nhằm tăng cường củng cố và bảo vệ đồng Euro, tại Hội nghị Thượng đỉnh EU tháng
12/2011, 26/27 thành viên EU (trừ Anh) đã đồng ý đưa ra một thỏa thuận mới về giám sát tài
chính chặt chẽ hơn. Theo đó, giới hạn thâm hụt cơ cấu sẽ ở mức 0,5% GDP của mỗi nước thành
viên, trong khi đó trần nợ công vẫn duy trì ở mức 3% GDP, kèm theo điều luật mới quy định nếu