1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: Quan hệ kinh tế thương mại
Việt Nam- Hàn Quốc, thực trạng,
triển vọng và giải pháp.” 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Danh mục các bảng 6
Nam - Hàn Quốc 29
1.3.1. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy quan hệ
Việt Nam-Hàn Quốc phát triển toàn diện 29
1.3.2. Thúc đẩy cải cách hành chính 30
1.3.3. Thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế 31
1.3.4. Thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh 32
1.3.5. Những tác động không thuận chiều 33
Chương II 34
THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI 34
VIỆT NAM- HÀN QUỐC TỪ 1992 ĐẾN NAY. 34
2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam- Hàn Quốc 36
2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu 38
2.1.2 Về Xuất khẩu 40
2.1.3 Về nhập khẩu 46
2.1.4 Đánh giá về quan hệ thương mại Việt Nam- Quốc 49
2.1.4.1 Ưu điểm 49
2.1.4.2 Nhược điểm 53
2.2 Quan hệ hợp tác trong đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc
vào Việt Nam 553
2.2.1 Về quy mô và tốc độ tăng 56
2.2.2 Về hình thức đầu tư 60
2.2.3 Cơ cấu đầu tư theo ngành 63
3.4.3) Đổi mới và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 114
3.4.4) Giải pháp về thuế 116
3.4.5) Hoàn thiện về môi trường đầu tư 116
KẾT LUẬN 121
Danh mục tài liệu tham khảo 122
4
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ sau đổi mới kinh tế đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn
quan tâm đến việc mở rộng mối quan hệ nhiều mặt với các quốc gia, các
khu vực trên thế giới khi xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang trở thành
xu thế tất yếu của thời đại. So với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới, quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc phát triển nhanh hơn và trên nhiều
lĩnh vực khác nhau do có được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ hai
nước. Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm
1992 đến nay, trải qua hơn một thập kỷ phát triển, mối quan hệ kinh tế
giữa hai nước đã có những bước phát triển đáng tự hào, Hàn Quốc hiện
đang đứng thứ 5 trong tổng số trên 100 nước có quan hệ buôn bán với
Việt Nam và là nước đầu tư lớn thứ nhất vào Việt Nam.Nhưng bên cạnh
đó vẫn còn nhiều tồn tại trong quan hệ kinh tế giữa hai nước hiện nay
đó là sự mất cân đối quá lớn trong cán cân thương mại giữa hai nước,
Việt Nam luôn bị nhập siêu và mức nhập siêu có xu hướng ngày càng
tăng. Mặt khác, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài khá lớn từ Hàn Quốc, mà lĩnh vực đầu tư chủ yếu là: nhà ở,
xây dựng khu đô thị, khách sạn, chung cư. Trong khi đó, lĩnh vực sản
xuất công nghệ cao còn chiếm tỷ tọng nhỏ trong cơ cấu đầu tư, hơn nữa
Hùng- Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Kinh tế Đa phương, Bộ Ngoại giao đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này. Đây mới là bước đầu
em làm quen với công tác nghiên cứu, do đó không thể tránh khỏi những thiếu
sót trong việc triển khai đề tài. Em mong nhận được sự thông cảm của quý
Thầy Cô và các bạn sinh viên.
6
Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Hàn Quốc
giai đoạn 1983-1992
44
B
ảng 2.7: Các mặt h
àng nh
ập khẩu chính của Việt Nam từ H
àn Qu
ốc
46
Bảng 2.8 : Top mười đối tác có tổng vốn đầu tư cao nhất 55
Bảng 2.9 : Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc tại
Việt Nam( 1991-2006)
56
B
ảng 2.10:Một số dự án đầu t
ư l
ớn của H
àn Qu
ốc tại Việt Nam tr
ư
ớc
đây
58
Bảng 2.11: Một số dự án hàng đầu của Hàn Quốc tại Việt Nam hiệnnay
60
Bảng 2.12: Đầu tư FDI của Hàn Quốc vào các địa phương trong cả
nước 2006
NGHĨA TIẾNG ANH NGHĨA TIẾNG VIỆT
ASEAN
Association of Southeast Asia
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Hàn Quốc giai đoạn 1993-2006
Biểu đồ 2.4: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc
giai đoạn 1993-2006
45
Biểu đồ 2.5: Thể hiện tỷ lệ vốn đầu tư của Hàn Quốc trong tổng
số vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2006
55
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ tăng của vốn đầu tư nước ngoài từ Hàn Quốc
vào Việt Nam giai đoạn 1996-2006
57
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam theo
ngành k
inh t
ế
62
Biểu đồ 2.8: Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu của Hàn Quốc vào Việt
Nam năm 2006
62
9
AFTA
ASEAN
Fr
ee Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
KOTRA
Korea Trade- Investment
Promotion Agency
Phòng xúc tiến thương mại và đầu tư
Hàn Quốc
JETRO
Japan Extenal Trade
Organization
Tổ chức xúc tiến thương mại
Nhật Bản CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC HỘI NHẬP TỚI QUAN HỆ KINH TẾ
VIỆT NAM- HÀN QUỐC
101.1 - Hội nhập kinh tế - khái niệm và bản chất
1.1.1. Hội nhập kinh tế - vấn đề mang tính khách quan của các nền kinh tế
hiện nay
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu của nền
kinh tế thế giới, từ thấp đến cao, từ quy mô hẹp đến quy mô ngày càng rộng
lớn hơn, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa, khu
vực hóa và quốc tế hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động
mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Trước đây, tính chất xã
lợi ích phát triển tối ưu của quốc gia. Việt Nam cũng không thể nằm ngoài
quá trình này. Trong điều kiện hội nhập, các quốc gia dù giàu có hoặc phát
triển đến đâu cũng không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu của
chính mình. Trình độ phát triển càng cao càng phụ thuộc với mức độ nhiều
hơn vào thị trường thế giới. Đó là một vấn đề có tính quy luật. Những quốc
gia chậm trễ trong hội nhập kinh tế quốc tế thường phải trả giá bằng chính sự
tụt hậu của mình, ngược lại những nước vội vã không phát huy nội lực, không
chủ động hội nhập cũng đã bị trả giá. Bởi vậy, để hội nhập có hiệu quả, cần
phải có quan điểm nhận thức đúng đắn, nhất quán, cơ chế chính sách thích
hợp, tận dụng tốt cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, giảm thách thức, hạn chế rủi ro
trong quá trình tiến lên của mình.
1.1.2. Khái niệm
Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiện trong vài thập
kỷ gần đây. Nhưng cho đến nay vẫn đang tồn tại các cách hiểu khác nhau về
hội nhập kinh tế quốc tế. Có loại ý kiến cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là
sự phản ánh quá trình các thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng,
ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương và toàn cầu ngày
càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế
quốc gia và quốc tế. Loại ý kiến khác lại cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế là
12
quá trình loại bỏ dần các hàng rào thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và
di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước.
Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm
tương đối phổ biến được nhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: Hội
nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ
chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước
thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối. Nói một
cách khái quát nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực
trương và có những quyết định mạnh dạn.
Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số
mặt sau đây:
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế quốc gia với nhau và với nền kinh tế thế giới. Nó vừa là
quá trình hợp tác cùng phát triển, vừa là quá trình đấu tranh rất phức tạp,
đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của
mình vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các
cường quốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia;
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần các
rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa
kinh tế;
Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh
nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có
những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường;
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công cuộc
cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với
mỗi nước trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là các
chính sách và phương thức quản lý vĩ mô.
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự tạo dựng các nhân tố và điều kiện
mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở
trình độ phát triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất.
14
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực
trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công
nghệ và các kinh nghiệm quản lý.
1.2 Nội dung của các quan hệ kinh tế quốc tế( đặc biệt là quan hệ
thương. Hàng hoá vật chất là những hàng hóa tồn tại dưới dạng vật chất,
định lượng được, dự trữ được như hàng hoá lương thực thực phẩm và
phi lương thực thực phẩm. Trong trao đổi, người mua và người bán mua
bán với nhau quyền sở hữu và sử dụng hàng hoá. Do có sự cách biệt về
địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên giới từ nước xuất
khẩu sang nước nhập khẩu. Cùng với các nghiệp vụ mua, bán hàng hoá
có cả dịch vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo quản, bảo hành, bảo hiểm,
thanh toán quốc tế…
Trao đổi quốc tế về hàng hoá và dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ
quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ. Hàng hoá
dịch vụ là những hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó định
lượng được, không dự trữ được. Quá trình cung cấp diễn ra đồng thời
với quá trình tiêu thụ (sử dụng) hàng hoá dịch vụ. Trong trao đổi người
bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (người nhận dịch vụ) mua
bán với nhau về quyền sử dụng hàng hoá dịch vụ. Do sự cách biệt về địa
lý giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ, hàng hoá dịch vụ có thể
di chuyển hoặc không di chuyển qua biên giới.
Bốn là, phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa
người mua và người bán là đồng tiền có khả năng chuyển đổi.
Những đặc điểm phát triển thương mại quốc tế hiện nay:
Một là, thương mại quốc tế đang phát triển với quy mô lớn, tốc độ
tăng nhanh. Năm 2000, tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế đạt 10%,
cao hơn 2 lần so với 4,3% năm 1999 và hơn 2,5 lần so với mức 3,8%
16
năm 1998. Những năm gần đây, sản xuất quốc tế mở rộng mạnh mẽ là
do các liên kết kinh tế quốc tế được tăng cường trên khắp các châu lục.
Sự phát triển liên kết kinh tế quốc tế đã giúp thương mại hàng hoá quốc
tế tăng nhanh. Trao đổi hàng hoá quốc tế ngày càng thuận lợi nhờ
phương tiện thông tin và giao thông vận tải phát triển. Điều kiện buôn
hướng kinh tế được các nước lựa chọn. Ngày nay, tất cả các nước đều có
thương mại quốc tế, song thương mại quốc tế phát triển chủ yếu tập
trung ở các nước công nghiệp phát triển. Hai vấn đề này phản ánh lực
lượng sản xuất của thế giới phát triển đáng kể và tiềm lực kinh tế của
các nước công nghiệp ngày một tăng, ưu thế ngày càng lớn.
Bốn là, các trung tâm thương mại quốc tế đã và đang hình thành. Trên
thế giới có 3 trung tâm kinh tế lớn là Mỹ - Canada, Tây Âu và Đông Bắc á,
ngoài ra còn các khối, ASEAN, Trung Mỹ, Tây Phi… đã và đang hình thành.
Nhìn chung, các trung tâm, từng khối kinh tế đang và ngày càng hoàn thiện,
tận dụng các mối quan hệ thuận lợi của nhau về địa lý, tính văn hoá dân tộc,
về lợi ích, khắc phục các mâu thuẫn, bất đồng, tăng cường đoàn kết, nhằm
phát triển kinh tế và thương mại, mở rộng quan hệ kinh tế với các trung tâm,
các khối bên ngoài để cùng phát triển.
1.2.1.3 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế
- Thương mại quốc tế có vai trò rất quan trọng trong phát triển và tăng
trưởng kinh tế. Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả tới tăng trưởng kinh
tế. (1), (2), (3), (4) Giáo trình kinh tế phát triển, trang 303, 305. Mối quan hệ
này được thể hiện ở các khía cạnh: Xuất khẩu cho phép khai thác được các lợi
thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo qui mô, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất;
nhập khẩu bổ sung được hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu
dùng; xuất nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như: thúc đẩy trao
đổi thông tin, dịch vụ, tăng cường kiến thức marketing cho các doanh nghiệp
18
nội địa và lôi kéo họ vào mạng lưới phân phối toàn cầu. Tất cả các yếu tố này
sẽ đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
- Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, thương mại quốc tế giữ vị trí quan
trọng, nó tạo điều kiện phát huy được lợi thế của từng nước trên thị trường
quốc tế. Kết quả hoạt động thương mại quốc tế của một nước được đánh giá
qua cân đối thu chi ngoại tệ dưới hình thức “cán cân thanh toán xuất nhập
khác nhau về FDI. Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi,
ban hành ngày 12/11/1996 tại điều 2 chương I:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư trực tiếp nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến
hành hoạtđộng đầu tư theo quy định của luật này”.
Bộ luật tự do hoá chu chuyển vốn do tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế (OECD) ban hành thì lại nhấn mạnh về mục tiêu của FDI theo đó
“ FDI được hiểu là các loại đầu tư nhằm tạo ra quan hệ kinh tế lâu dài
với một doanh nghiệp ”.
Xét dưới góc độ vốn đầu tư, FDI lại được nhận xét là “ một loại
hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là
người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Cũng có ý
kiến khác nhau cho rằng “đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư
quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh
vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối
tượng mà họ bỏ vốn đầu tư”. Có thể nói mỗi nhà kinh tế định nghĩa về
FDI theo một cách khác nhau tuỳ theo khía cạnh mà họ tiếp xúc.
Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái
niệm về FDI, song từ những khái niệm trên có thể đưa ra một khái niệm
tổng quát nhất, đó là:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để
tạo lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư. Trong đó, nhà
đầu tư nước ngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn
20
đầu tư và giữ quyền quản lí, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn
nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở
tuân theo quy định của luật đầu tư nước ngoài của nước sở tại.
1.2.2.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đối với nước đi đầu tư:
trình công nghiệp hoá đất nước.
Thông qua FDI các công ty đã chuyển giao kĩ thuật công nghệ
sang các nước chủ nhà. Nhờ sự chuyển giao này mà các nước chủ nhà
có thể thu hút được kĩ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lí
kinh doanh và năng lực Marketing, đội ngũ lao động được đào tạo và
bồi dưỡng về nhiều mặt.
Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ hiện đại, FDI sẽ tác
động mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ
cấu cùng, cơ cấu lao động, cơ cấu kĩ thuật, cơ cấu sản phẩm sẽ được
biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.
Nhờ có kĩ thuật và công nghệ hiện đại mà các nước chủ nhà có
điều kiện khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế. Thông
qua FDI, các nước chủ nhà sẽ có thêm điều kiện mở rộng quan hệ kinh
tế quốc tế.
FDI làm cho các tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của đất nước
có điều kiện để khai thác, điều đó tác động mạnh mẽ đến việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, mặt khác tiếp nhận đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà
không phải lo trả nợ mà thông qua FDI nước chủ nhà có điều kiện xâm
nhập thị trường thế giới. Các công ty thuộc các nước đang phát triển khó
hoặc ít có cơ hội thâm nhập vào thị trường quốc tế, với sự liên doanh,
liên kết với các công ty đa quốc gia các công ty thuộc các nước đang
phát triển sẽ có điều kiện vươn tới các thị trường nước ngoài. Có thể nói
22
đây là cách thức nhanh và có hiệu quả nhất giúp các công ty của nước
nhận đầu tư đến với thị trường nước ngoài và thực hiện kinh doanh quốc
tế.
Mặc dù có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nguồn vốn
FDI không phải là không có những tác động tiêu cực. Nó chỉ có thể phát
thu nhập bình quân đầu người thấp, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém, tích
luỹ nội bộ nền kinh tế thấp, cơ cấu kinh tế lạc hậu, về cơ bản vẫn là một nước
nông công nghiệp với gần 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Một hiện tượng có thể coi là căn bệnh nan y của các nước đang phát
triển là thiếu vốn và Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ ấy. Về tiết
kiệm, mặc dù ta có nguồn lực dồi dào song lại không có điều kiện sử dụng
nguồn lực ấy vì thiếu vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang
thiết bị máy móc, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến nguồn vốn trong nước
chỉ có thể đáp ứng được 2/3 nhu cầu vốn cho phát triển, còn lại ta phải huy
động vốn từ các nguồn ở bên ngoài. Trong đó cùng với ODA thì FDI là một
trong hai nguồn vốn quan trọng hàng đầu.
Đảng ta đã xác định Việt Nam trong quá trình trở thành một nước công
nghiệp phải có những bước đi tuần tự hợp với quy luật phát triển, đồng thời
tranh thủ thời cơ thuận lợi “ đi tắt, đón đầu” trong những ngành, lĩnh vực cho
phép nhằm bắt kịp xu thế của thời đại. Một trong những thời cơ đó là tận dụng
những lợi thế của nguồn vốn FDI. Theo Nghị quyết số 09/2001/NQ-CP của
chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả FDI thời kì 2001-2005
là đề ra mục tiêu thu hút khoảng 12 tỷ USD vốn đăng kí của các dự án cấp
giấy phép mới và 11 tỷ USD vốn thực hiện. Tóm lại, FDI không chỉ giúp ta
thoả mãn nhu cầu về vốn đầu tư mà kèm theo đó còn là sự du nhập của khoa
học công nghệ hiện đại, của trình độ quản lí tiên tiến, của những đỉnh cao trí
thức nhân loại.
24
1.2.3. Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và ngoại thương: của
các nước đang phát triển
1.2.3.1. Tác động trực tiếp
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia ngày càng trở nên quan trọng. Đối
với các nước đang phát triển FDI còn có ý nghĩa hơn vì nó cung cấp vốn và
và nó đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy xuất khẩu của nước chủ nhà.
Chiến lược hướng ngoại hay còn gọi là chiến lược hướng vào xuất khẩu đã
được các nước đang phát triển áp dụng một cách rộng rãi, trong đó các nền
kinh tế Đông á đóng vai trò tiên phong. Và vai trò không ngừng lớn mạnh của
các TNCs trong xuất khẩu hàng chế tạo của các nước đang phát triển và đó là
một xu hướng tất yếu quan trọng trong sự phát triển của đầu tư và thương mại
quốc tế. Với sự lớn mạnh của các TNCs, họ đã đưa các nước đang phát triển
cùng đi vào mạng lưới hoạt động quốc tế của họ, không chỉ với tư cách là
nguồn cung ứng nguyên vật liệu, mà còn là các nhà cung cấp các sản phẩm
chế tạo và các quy trình sản xuất đặc biệt, những sản phẩm mà trước đây các
TNCs cũng có nhưng nay không còn được sản xuất trong nước nữa. Bởi vậy,
xuất khẩu hàng chế tạo được coi là chiến lược phát triển mới ở các nước đang
phát triển. Và quá trình chuyên môn hoá sản xuất là yếu tố quan trọng để các
nước đang phát triển mở rộng xuất khẩu hàng chế tạo trong điều kiện có ít cơ
hội tiếp cận với các nguồn thu ngoại tệ khác. Mặt khác, xuất khẩu giúp các
nước đang phát triển bổ sung nguồn vốn để xây dựng kinh tế trong nước và
thu hút đầu tư nước ngoài.
Từ năm 1970 đến năm 1980, nhập khẩu hàng chế tạo tiêu dùng của các
nước OECD đã tăng 14,55 lần xét về giá trị danh nghĩa. Tổng nhập khẩu hàng
chế tạo từ các nước đang phát triển tăng 10,84 lần. Các nền kinh tế thành công
nhất là Hồng Kông, Đài Loan, và Hàn Quốc đã xuất khẩu một lượng lớn hàng
chế tạo tiêu dùng tới các OECD, chiếm 72% tổng xuất khẩu từ các nước đang
phát triển sang các nước OECD.