Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot - Pdf 11

1
2
KIẾN NGHỊ
DIỄN ĐÀN KINH TẾ MÙA XUÂN 2012
Kinh tế Việt Nam năm 2012:
Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
T
rong hơn 25 năm qua, kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới
đến nay, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào
việc liên tục gia tăng các yếu tố đầu vào, mà cụ thể là vốn, lao động
và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Chẳng hạn, mức đóng góp của
vốn vào tăng trưởng lên tới 70,3% GDP trong giai đoạn 1986-1988,
sau đó giảm xuống còn 63,0% vào các năm 1997-1999 trước khi
tăng trở lại lên 68,0% trong thời kỳ 2000-2007, thậm chí còn lên tới
gần 84,1% vào năm 2009. Số lượng lao động tham gia hoạt động
kinh tế cũng tăng mạnh, song đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lại
ngày càng giảm, từ 41,7% trong giai đoạn 1986-1988 giảm xuống
còn 21,0% trong thời kỳ 1997-1999 và chỉ còn 18,0% trong thời kỳ
2000-2007, trước khi phục hồi nhẹ lên 28,5% vào năm 2009.
Mặc dù mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng đã phát
huy tác dụng tích cực và có hiệu quả nhất định, giúp mang lại nhiều
thành tựu phát triển kinh tế trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới,
giải phóng các nguồn lực sản xuất, nhưng việc duy trì quá lâu mô
hình tăng trưởng này đã khiến cho những yếu kém nội tại của nền
kinh tế với cơ cấu kinh tế không hợp lý, hiệu quả thấp bị tích tụ, dồn
3
nén đã gây nên nhiều hạn chế, yếu kém. Những nhược điểm cơ bản
của mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế này đã được bộc lộ từ sau
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, và trở nên rõ nét nhất
khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và trầm trọng
hơn dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ cuối

và một số Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn
phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ;
các Bộ, ngành hữu quan; đại diện Thường trực Hội đồng Nhân dân,
Uỷ ban Nhân dân, Đoàn ĐBQH TP. Đà Nẵng và một số tỉnh lân cận;
các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học trong và ngoài nước; đại
diện các đối tác phát triển, các tổ chức quốc tế như UNDP, WB, IMF,
UK; đại diện một số tập đoàn kinh tế nhà nước và đông đảo các cơ
quan thông tin, báo chí
1
.
Các bài viết của các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế và các ý
kiến phát biểu, trao đổi của các đại biểu tại Diễn đàn đều tập trung
làm rõ những vấn đề chung và đặc biệt là các giải pháp về tái cơ
cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Về các vấn
đề chung, các ý kiến đề nghị thống nhất nhận thức về mục đích, yêu
cầu, quan điểm, nội dung, chi phí cần có để tái cơ cấu nền kinh tế,
mối quan hệ giữa tái cơ cấu nền kinh tế với đổi mới mô hình tăng
trưởng, mối quan hệ giữa tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và tái cơ cấu
3 lĩnh vực trọng tâm cũng như mối quan hệ giữa đề án tổng thể và
các đề án do các bộ, ngành chuẩn bị; mối quan hệ giữa tái cơ cấu ở
cấp độ hệ thống (vĩ mô) và tái cơ cấu ở cấp độ doanh nghiệp (vi mô);
điểm chung và sự khác biệt giữa tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội v.v
Ý kiến chung cho rằng “mô hình tăng trưởng là cách thức mà một
nền kinh tế tạo ra tăng trưởng”. Tăng trưởng có thể đạt được thông qua
1
Có hơn 140 đại biểu tham dự.
5
4 “nguồn” chính là: (i) gia tăng đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên
(input increase); hoặc gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực thông

trong nhiều ngành sản xuất kinh doanh và được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi khác.
6
dụng hiệu quả hơn và qua đó sẽ làm thay đổi cơ cấu ngành, cơ cấu
vùng, cơ cấu thành phần kinh tế hiện được coi là có nhiều bất cập ở
nước ta, đồng thời nâng cao hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp,
đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu cuối cùng của quá trình
tái cơ cấu nền kinh tế là hình thành được một mô hình tăng trưởng
mới với cơ cấu kinh tế hợp lý, nền kinh tế ổn định về vĩ mô và có
năng lực cạnh tranh, phát triển chất lượng, hiệu quả và bền vững.
Một số ý kiến khác cho rằng mục tiêu chung của việc tái cơ
cấu là thay đổi thể chế, cơ chế, công cụ phân bố, quản lý và sử dụng
nguồn lực quốc gia theo mô hình tăng trưởng mới với cơ cấu kinh
tế hợp lý hơn, hiệu quả hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững và phù hợp với xu hướng toàn
cầu hóa. Để đạt được mục tiêu chung này, những chỉ tiêu cụ thể được
xác định trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2011-2020. Mô hình tăng trưởng mới cần phải huy động mọi nguồn
lực xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động,
hạ giá thành sản phẩm, mở rộng thị trường, đồng thời giải quyết hài
hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, thực hiện
tăng trưởng xanh và bảo đảm an sinh xã hội.
Như vậy có thể nói, tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình
tăng trưởng luôn luôn gắn kết hữu cơ với nhau, tác động lẫn nhau
trong đó mô hình tăng trưởng có vai trò dẫn dắt, chi phối quá trình
tái cơ cấu nền kinh tế. Ngược lại, tái cơ cấu nền kinh tế là điều kiện
tiên quyết để đổi mới mô hình tăng trưởng.
Để đạt được mục đích nêu trên, trong trung hạn chúng ta cần
đạt được các mục tiêu trung gian như tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm
là tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp với trọng tâm là
các tập đoàn và tổng công ty nhà nước; và tái cơ cấu hệ thống các tổ

bền vững. Để có thể tái cơ cấu đòi hỏi phải có nguồn lực về tài chính
(để xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại, cơ cấu lại
những ngân hàng yếu kém, hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn, phá sản,
hỗ trợ người lao động mất việc làm, dừng triển khai các dự án đang
đầu tư dở dang v.v…) và phải tính toán cụ thể những tác động không
thuận về kinh tế, xã hội mà quá trình này có thể gây ra. Trong khi
đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy cũng hướng tới một cơ cấu kinh
tế hợp lý hơn nhưng là một quá trình thay đổi tuần tự, tự nhiên và
thường kéo dài trong nhiều thập kỷ, chẳng hạn như quá trình giảm tỷ
trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ của cả thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
“Tái phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả và nâng cao hiệu
quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà
nước” chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt nội dung cũng như các giải
pháp tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu thị trường tài chính, tái cơ cấu
doanh nghiệp hay bất cứ lĩnh vực nào khác. Các giải pháp trong
từng đề án đều phải nhắm tới mục tiêu tái phân bổ nguồn lực hiệu
quả hơn ở cấp vĩ mô cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp. Với cách tiếp cận như vậy, từ hơn
34 bài viết của các chuyên gia kinh tế, nhà khoa học và hơn 40 ý
kiến phát biểu tại Diễn đàn, chúng tôi xin chắt lọc lựa chọn đưa ra
12 nhóm kiến nghị và giải pháp chính về tái cơ cấu nền kinh tế, tập
trung vào tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
9
và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và thị trường tài chính
phi ngân hàng, qua đó sẽ tác động lan tỏa tới tái cơ cấu tổng thể nền
kinh tế trong thời gian tới
4
.
I. NHỮNG KIẾN NGHỊ CHUNG

của khu vực FDI đã làm tăng tỷ lệ đóng góp của khu vực
tư nhân trong GDP lên tới gần 70%. Vì vậy, Nhà nước
cần xác định lại vai trò của mình với hai tư cách, một là
thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân; hai là
thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tất cả các
thành phần kinh tế. Đồng thời, phân biệt rõ vai trò của
Nhà nước và vai trò của thị trường. Thị trường vận động
theo những quy luật kinh tế khách quan chứ không đơn
thuần nằm dưới và chịu sự chi phối có tính tùy định của
Nhà nước. Chỉ trên cơ sở “phân nhiệm” mạch lạc giữa
Nhà nước và thị trường thì Nhà nước mới có thể quyết
định nên làm gì và không nên làm gì.
Về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước:• Để tái cơ cấu
kinh tế thành công, việc đổi mới tư duy về vai trò chủ
đạo của kinh tế nhà nước thông qua việc xác định rõ
vai trò và chức năng của kinh tế nhà nước nói chung và
doanh nghiệp nhà nước nói riêng là điều hết sức quan
trọng và cấp bách. Ý kiến của nhiều nhà khoa học tại hội
thảo đề nghị xem xét lại một cách căn bản vai trò “chủ
đạo” của khu vực kinh tế nhà nước mà nòng cốt là hệ
thống doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể là, vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước không nên hiểu và diễn giải thành
DNNN, nhất là tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải giữ
vị trí chi phối trong các ngành kinh tế và lĩnh vực then
chốt của nền kinh tế và độc quyền trên nhiều lĩnh vực.
11
Cần xác định rõ phạm vi hoạt động của kinh tế nhà nước
để tạo dư địa cho sự phát triển của các thành phần kinh
tế khác.
Về vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của doanh nghiệp nhà •

công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế hay để giải quyết các vấn đề xã hội và không sử
dụng DNNN làm đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
thông qua hình thức thâm dụng vốn đầu tư lớn (nhưng
hiện đang dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và đặc biệt là
kém hiệu quả).
Về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân:• Đa số ý kiến đề
nghị thay đổi và khẳng định coi kinh tế tư nhân là “động
lực chủ yếu” hay “động lực quan trọng” của tăng trưởng
kinh tế. Có thay đổi như nói trên, thì mới có bứt phá
trong phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của nền kinh
tế thị trường hiện đại. Đổi mới tư duy về vai trò “động
lực” của khu vực kinh tế tư nhân sẽ có ý nghĩa rất quan
trọng góp phần làm thay đổi tư duy trong thiết kế và
hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của các cơ quan có
thẩm quyền của Chính phủ, tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng
tới các nguồn lực phát triển quốc gia, thiết lập một môi
trường kinh doanh bình đẳng để buộc các doanh nghiệp
nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng với các loại hình
doanh nghiệp khác theo đúng cơ chế thị trường. Các học
thuyết kinh tế hiện đại đều cho rằng bình đẳng về cơ
hội tiếp cận và sử dụng nguồn lực phát triển quốc gia và
quyền kinh doanh giữa các khu vực kinh tế sẽ giúp nâng
cao hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ, qua đó góp
13
phần quan trọng không chỉ thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh
tế, mà còn hỗ trợ chuyển đổi thành công sang mô hình
tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều sâu, hướng tới
tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Kiến nghị 2: Cải cách thể chế là tiền đề quan trọng để các

triển. Để đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô
hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu, tạo cơ sở và điều kiện phân
bổ các nguồn lực phát triển một cách hiệu quả nhất, cải cách thể chế
kinh tế ở nước ta trong giai đoạn tới cần được đẩy mạnh và tập trung
chủ yếu vào những nội dung sau:
Sửa đổi Hiến pháp 1992: Các thể chế kinh tế nền tảng •
đều được quy định trong Hiến pháp, bắt đầu từ các định
hướng chính sách đối với các thành phần kinh tế, chế độ
sở hữu, các quyền tự do kinh doanh của người dân và
cơ cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước thực thi quyền lực
công cộng. Sửa đổi Hiến pháp 1992 lần này là cơ hội lớn
để điều chỉnh các thể chế kinh tế vì cứ khoảng một thập
kỷ mới lặp lại một lần.
Sửa đổi các đạo luật về tổ chức các cơ quan nhà nước: •
Trên cơ sở Hiến pháp sau khi được sửa đổi, các luật về
tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân, Viện
Kiểm sát Nhân dân và tổ chức chính quyền địa phương
cũng như các luật về hoạt động giám sát có liên quan
cần được sửa đổi phù hợp để các cơ quan dân cử có một
vai trò đáng kể hơn, ví dụ trong các lĩnh vực quản lý đầu
tư công, quản lý công sản, quản lý đất đai. Đây là cơ
hội thiết kế lại các thiết chế chính trị phục vụ cho việc
15
chuyển đổi nền kinh tế theo mô hình mới dựa trên tự do
kinh doanh và cạnh tranh, đề cao hơn sở hữu tư nhân và
giám sát hiệu quả hơn khu vực kinh tế nhà nước.
Sửa đổi các luật về sở hữu, nhất là Luật Đất đai theo •
hướng bảo đảm việc sử dụng đất mang tính ổn định, dài
hạn bằng việc xác định rõ chủ thể sở hữu theo Hiến pháp,
phân biệt rõ quyền của người sử dụng trong việc chuyển

nhất trong đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế.
Nghiên cứu thành lập Ủy ban độc lập về Tái cơ cấu nền •
kinh tế hoặc bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho Hội đồng
quốc gia về Năng lực cạnh tranh và trao cho cơ quan
này những quyền hạn đặc biệt về tái cơ cấu nền kinh tế.
Nhiều chuyên gia cho rằng gốc rễ của cải cách, cải tổ,
đổi mới hay tái cơ cấu v.v vẫn là một sự thay đổi mạnh
mẽ thể chế để có thể thay đổi căn bản cách thức quản lý,
điều hành nền kinh tế, cách thức phân bổ các nguồn lực
không hiệu quả hiện nay. Và kinh nghiệm ở nhiều nước
trên thế giới cho thấy để có thể thực thi những thay đổi
về thể chế mang tính đột phá như vậy nhất thiết cần một
thiết chế đặc biệt. Việc hình thành một thiết chế mới
không có nghĩa là phủ nhận vai trò của các thiết chế hiện
hữu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng
Nhà nước v.v ) mà lý do đơn giản là những cơ quan này
không có đủ thẩm quyền và nhân lực cho những đòi hỏi
mới; ngoài ra, rất khó dùng chính những thiết chế cũ để
cải cách chính mình
5
.
5
Một số ví dụ điển hình về các cơ quan chuyên trách cho tái cơ cấu bao gồm Jakarta Initiati-
17
Hình thành, kiện toàn các thiết chế độc lập điều tiết thị •
trường như Ủy ban cạnh tranh, chống độc quyền, Ủy ban
chứng khoán v.v Tách các thiết chế này khỏi cơ cấu
của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước để hoạt
động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh lạm dụng
biện pháp hành chính để can thiệp vào thị trường.

nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven đô được các nhà đầu tư thành
thị mua hoặc thuê để đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả. Hiện nay, lao
động nông thôn di cư ra làm việc tại đô thị, nhưng vẫn giữ đất ở quê
mà không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho những người ở lại
nên không tăng được hiệu quả sử dụng đất. Rất nhiều nông dân sản
xuất không hiệu quả, kiếm thu nhập chủ yếu từ các hoạt động phi
nông nghiệp, phi chính thức nhưng vẫn muốn giữ đất để bảo hiểm
rủi ro do thiếu hệ thống an sinh xã hội chính thức tại nông thôn. Nhà
nước chưa thực hiện tốt vai trò điều tiết nguồn lợi từ đất thông qua
xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đầu tư kết cấu hạ tầng;
chưa đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và
nhà đầu tư. Trong đó, phần địa tô tăng lên do quy hoạch, đầu tư kết
cấu hạ tầng của Nhà nước chủ yếu rơi vào túi của nhà đầu tư.
Do đó, việc phân bổ nguồn lực nói chung, đặc biệt là nguồn lực
đất đai cần được đổi mới theo hướng sau:
Đất là tài sản đặc biệt chỉ có thể sử dụng và khai thác có •
hiệu quả nhờ vào sự quản lý và đầu tư ổn định, lâu dài
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phải được bảo đảm an
toàn dài hạn bằng việc xác định rõ chủ sở hữu, quyền
của chủ sở hữu, quyền, nghĩa vụ của người sử dụng,
xác lập quy hoạch, ước tính giá trị thì mới có thể tạo ra
động lực để các chủ thể quản lý và sử dụng khai thác
một cách hiệu quả.
19
Cương quyết chấm dứt thái độ hy sinh nông nghiệp, •
nông thôn để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa. Cần
giãn phát triển công nghiệp, đô thị về nông thôn; tăng
đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn cho các tỉnh phải giữ
diện tích đất trồng lúa theo quy hoạch vì mục đích bảo
đảm an ninh lương thực quốc gia.

nhà nước của nước ta hiện nay vẫn cao hơn nhiều so
với các nước (khoảng 28%) và do vậy giảm khả năng
tích lũy, đầu tư của người dân. Cần giảm dần tỷ lệ này
tới mức hợp lý hơn6. Thực hiện công khai hóa các danh
mục công trình, dự án, quy trình và cơ chế khuyến khích
đầu tư của Nhà nước để định hướng cho các nhà đầu tư
trong và ngoài nước lựa chọn, làm cơ sở cho việc huy
động các nguồn vốn.
Hợp tác công - tư (PPP) có vị trí quan trọng trong cơ chế •
huy động tài chính từ đất đai để đầu tư cho cơ sở hạ tầng.
Thiết lập mô hình tài chính cho các dự án đầu tư công để
kết hợp các nguồn vốn nhà nước, nguồn vốn tư nhân và
sự hỗ trợ của các nhà tài trợ trong cùng một dự án đồng
thời tăng cường hiệu quả cơ chế giám sát đầu tư công,
trong đó tài chính liên quan đến đất đai có thể được coi
là cơ hội lớn nhất để thực hiện PPP trong lĩnh vực đầu tư
vào cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng đô thị như các tuyến
đường vành đai v.v Chênh lệch địa tô là lợi ích kinh tế
mà nhà đầu tư tư nhân được hưởng từ hạ tầng công ích
được đầu tư theo hình thức PPP.
6
Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 nêu rõ
tỷ lệ huy động thuế và phí vào ngân sách không vượt quá 22-23%.
21
Nguồn vốn đầu tư từ NSNN và các nguồn vốn khác của •
Nhà nước ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng
vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng có vai trò “vốn mồi”, kích
thích, tạo “cú hích” để thúc đẩy và thu hút các nguồn vốn
thuộc các thành phần kinh tế khác. Cần tái cơ cấu nguồn
vốn này theo hướng ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực khó hoặc

phân cấp cho các địa phương là một nhu cầu cần thiết, là một bước
chuyển hoạt động quản lý nhà nước của các Bộ ngành ở trung ương
từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho
thấy tình trạng phân cấp chưa tương xứng với năng lực của chính
quyền cấp dưới, phân cấp quá đà, quá nhanh, phân cấp mạnh nhưng
thiếu sự kiểm tra, hướng dẫn có hiệu lực từ trung ương là một vấn đề
lớn đang đặt ra hiện nay.
Đối với đầu tư công, cạnh tranh giữa các tỉnh, thành dẫn tới việc
các tỉnh, thành có thể làm những việc vượt thẩm quyền
7
, quyết định
dự án đầu tư, nhưng nguồn vốn lại đề nghị Trung ương bố trí. Hệ quả
là các dự án do địa phương quyết định quá nhiều, nhưng nguồn vốn
đầu tư từ ngân sách lại hạn hẹp và bị dàn trải. Không ít dự án bị thiếu
vốn, thực hiện cầm chừng, kéo dài, chậm đưa vào sử dụng, do vậy
hiệu quả ngày càng giảm.
Những hạn chế, bất cập trong việc phân cấp quản lý đầu tư xuất
phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó đặc biệt là: (i) thiếu các điều
kiện bảo đảm phân cấp hiệu quả như chưa phân định rạch ròi quyền
và trách nhiệm quản lý của từng cấp (trung ương, địa phương); năng
lực chưa tương xứng của các địa phương trong việc lựa chọn, quyết
định và quản lý các dự án đầu tư, vai trò của các Bộ, ngành trong việc
giám sát quyết định đầu tư của các địa phương; (ii) thiếu cơ chế phối
7
Từ 2006 đến nay phần lớn dự án đầu tư công được phân cấp cho ngành và địa phương và
việc quyết định đầu tư công đã tách rời việc bố trí vốn.
23
hợp, cụ thể là ở cấp trung ương vai trò nhạc trưởng của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư không còn như trước
8

Riêng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã cấp phép 18 dự án sản xuất thép (trong khi lợi thế là tỉnh
ven biển, du lịch), trong đó tỉnh và khu công nghiệp đều được quyền cấp dự án, do đó đã
vượt quá quy hoạch của Bộ Công Thương chỉ cho phép 6-7 dự án.
24
kết và chuyên môn hóa cao, các trường đại học, bệnh
viện lớn trong phạm vi vùng, khu vực.
Phân định rạch ròi quyền và trách nhiệm quản lý của •
từng cấp, nâng cao năng lực của các địa phương trong
việc lựa chọn, quyết định và quản lý các dự án đầu tư;
tăng cường vai trò giám sát của các Bộ, ngành trung
ương trong việc giám sát quyết định đầu tư của các địa
phương. Đối với các dự án sử dụng vốn từ Trung ương
cần có sự phê duyệt và giám sát từ cấp có thẩm quyền ở
Trung ương để tránh tình trạng các địa phương lập dự án
tràn lan để giữ chỗ và xin ngân sách Trung ương. Việc
phê duyệt cần bảo đảm một số tiêu chí cần thiết, trong
đó có tính thiết thực với sự phát triển của địa phương và
không phá vỡ các quy hoạch tổng thể khác
10
.
Phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường sự tham gia của các •
tổ chức xã hội, cộng đồng và người dân trong giám sát
hiệu quả và chất lượng đầu tư công.
Kiến nghị 6: Xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể, quy trình
hợp lý, chặt chẽ cho việc lựa chọn, giám sát và đánh giá các dự
án đầu tư công.
Thực tế cho thấy, không ít dự án đầu tư công hiện đang lãng
phí, không hiệu quả, đặc biệt việc chậm tiến độ
11
là một trong những

hành, thực hiện rà soát, đánh giá lại tất cả các dự án (đang thực hiện
hoặc trong quy hoạch); phân loại dự án theo thứ tự ưu tiên thực hiện,
loại bỏ các dự án không còn đáp ứng các tiêu chí đặt ra. Theo Nghị
định 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 của Chính phủ về Giám sát
và đánh giá đầu tư công, thì “đánh giá tác động” là đánh giá được
thực hiện vào thời điểm thích hợp sau năm thứ 3 kể từ ngày đưa dự
án vào vận hành, nhằm làm rõ hiệu quả, tính bền vững và tác động
kinh tế - xã hội của dự án so với mục tiêu đặt ra ban đầu.
thì có tới 3.386 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,78% số dự án thực hiện trong kỳ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status