1
2
MỤC LỤC
Phát triển Khu kinh tế biển trong bối cảnh tái cơ cấu nền Kinh tế - Góc nhìn từ
tam nông 3
Đặc khu Kinh tế Sán Đầu Trung Quốc: Bài học Kinh nghiệm 7
Đánh giá mô hình Khu kinh tế ven biển: Thực tiễn ở Việt Nam và kinh nghiệm
Quốc tế: 14
Phương hướng hoàn thiện chính sách pháp luật về Khu kinh tế 40
Thực trạng phát triển và cơ chế chính sách đối với Khu kinh tế cửa khẩu biên giới
50
Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển Kinh tế - Xã
hội địa phương 56
Khu kinh tế mở Chu Lai và sự mở ra một thời kỳ phát triển các Khu kinh tế ở Việt
Nam 60
Campuchia. Việc hình thành các khu kinh tế biên mậu ở vùng xa trung tâm cả
nước, nơi có đông đồng bào dân tộc sinh sống, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ
phát triển xã hội còn lạc hậu, mức sống của đồng bào vào loại thấp nhất cả nước
đã phát huy tác dụng to lớn trong khu vực và các tỉnh có đường biên giới. Mô
hình khu kinh tế cửa khẩu trong những năm 80 của thế kỷ trước chủ yếu dựa vào
nội lực, lấy thương mại tiểu ngạch làm trọng tâm phát triển, lợi nhuận thu được
giai đoạn trước khi có Luật Ngân sách Nhà nước được chủ yếu để lại địa phương
để đầu tư cơ sở hạ tầng. Điển hình của mô hình này có thể nêu lên là: Tân Thanh
(Lạng Sơn), Móng Cái (Quảng Ninh), Cầu Treo (Hà Tĩnh), Lao Bảo (Quảng Trị),
Mộc Bài (Tây Ninh) và gần đây là Bờ Y (Kon Tum).
Vào giữa thập kỷ 90, tại các tỉnh đồng bằng phía Bắc và Nam Bộ đã hình
thành các khu công nghiệp, khu chế xuất. Các khu này lấy đầu tư sản xuất hàng
hóa là chủ yếu, các hoạt động thương mại chiếm tỉ trọng rất nhỏ, không đáng kể.
Về quy mô đây là những khu chiếm nhiều diện tích đất đai, có thể là từ đất nông
nghiệp hay các loại đất sản xuất khác. Đặc điểm của các khu kinh tế, khu công
4
nghiệp này là mật độ cơ sở sản xuất tập trung cao, các yêu cầu về cơ sở hạ tầng,
người lao động rất lớn. Chính trong quá trình xây dựng và đưa vào sử dụng, các
mâu thuẫn về đền bù giải phóng mặt bằng, cải cách thủ tục chính đã trở thành sức
ép, tạo động lực đổi mới hơn nữa hệ thống cơ chế chính sách hiện hành của chúng
ta. Có thể kể ra các thành công trong giai đoạn này như: Khu chế xuất Tân Thuận
(Thành phố Hồ Chí Minh), Khu công nghiệp Amata (Biên Hòa), Khu Nomura
(Hải Phòng), Khu công nghiệp Singapore (Bình Dương), Khu công nghiệp Sóng
Thần…
Ở giai đoạn 3 (tạm gọi là như vậy ) từ năm 2003 đến nay chúng ta tiếp tục
thành lập 15 khu kinh tế ven biển trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Đặc
điểm của phát triển giại đoạn này là gắn với biển và được bố trí dựa trên quy
hoạch phát triển tổng thể kinh tế, xã hội tới năm 2020 có tính đến năm 2030. Cự
với điểm nhấn là cụm cảng nước sâu Lạch Huyện và toàn bộ các địa phương Hà
Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên là khu vực hậu cần.
- Ở phía Nam chọn Bà Rịa- Vũng Tàu làm điểm đột phá với khu vực này
chọn CN dầu khí làm mũi nhọn, cùng với các cảng của thành phố Hồ Chí Minh sẽ
là cửa ngõ của cả vùng Đông Nam Bộ, vùng động lực phát triển kinh tế của cả
nước.
- Khu vực miền Trung sẽ chọn khu Dung Quất, Chu Lai làm cửa ngõ đột
phá với cửa ngõ nối quốc tế là cảng Đà Nẵng.
- Trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế cả nước chúng ta dự báo ngành CN
dệt may- da giày sẽ còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội
nước ta. Thực tế mấy năm gần đây xu hướng dịch chuyển cơ cấu sản xuất cũng
diễn ra tại các khu vực CN trọng điểm của cả nước chứ không chỉ diễn ra giữa các
nước có trình độ sản xuất khác nhau. Tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay
vùng phụ cận các doanh nghiệp dệt may không thể đầu tư mở rộng sản xuất vì
diện tích đất cũng hạn chế, các địa phương không còn áp dụng chính sách ưu đãi
như cách đây 10 năm, mặt khác sức ép về xã hội đối với các thành phố này từ
người lao động nhập cư làm việc trong ngành là rất lớn. Các doanh nghiệp phải
chuyển về đầu tư ở các vùng sản xuất nông nghiệp đang chiếm ưu thế, tương đối
thuận lợi về giao thông và đặc biệt có đội ngũ lao động dồi dào, thu nhập bình
quân từ nông nghiệp thấp, khi tham gia sản xuất công nghiệp không phải “ ly
hương”. Đây chính là điểm mạnh của các tỉnh thuần nông hiện nay so với các tỉnh
và thành phố đã phát triển công nghiệp với tỉ trọng lớn.
- Về phía nhà nước cần ưu tiên làm cơ sở hạ tầng ngoài “hàng rào” và áp
dụng phương thức công tư hợp tác (PPP) để kêu gọi vốn đầu tư cho khu kinh tế
biển, khu CN….Điều đặc biệt là quan niệm về khu KT biển không phải là khép
kín mà là một không gian kinh tế- xã hội hoàn chỉnh, không có các “chiến dịch”
giải phóng mặt bằng hàng vạn ha đất trồng lúa sang làm đất công nghiệp. Vấn đề
là phải hình thành phương thức giao đất làm khu công nghiệp, khu chế xuất ở
những vùng sản xuất nông nghiệp 2 vụ không hiệu quả, căn cứ vào chính sách
pháp luật đất đai của Nhà Nước để người nông dân góp đất như là một cổ phần để
7
ĐẶC KHU KINH TẾ SÁN ĐẦU TRUNG QUỐC:
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TS. Nguyễn Đức Kiên
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
1. Giới thiệu sơ lược về Khu kinh tế Sán Đầu
Sán Đầu là một trong các Đặc khu kinh tế được thành lập sớm nhất của
Trung Quốc với diện tích tự nhiên 2.064 km2, dân số 4,8 triệu người (số liệu
2000). Khu kinh tế Sán Đầu có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế đối
ngoại: từ Sán Đầu đi Hồng Công là 187 hải lý và đi Đài Loan có cự ly 180 hải lý.
Là cửa ngỏ của tam giác kinh tế Châu Giang nổi tiếng của Trung Quốc với 2 mô
hình đặc thù về kinh tế - chính trị là Hồng Công và Ma Cao. Hiện nay có hơn 3
triệu người Hoa kiều sinh sống và làm việc trên 40 nước và vùng lãnh thổ trên thế
giới có quê hương là Sán Đầu. Trong số gần 5 triệu cư dân đang sống và làm việc
tại Sán Đầu có hơn 2 triệu người có họ hàng, người thân đang sống tại hải ngoại.
nước.
- Tối ưu hoá môi trường đầu tư mềm, phục vụ tốt cho doanh nghiệp. Sán
Đầu đã thành lập Trung tâm phục vụ quản lý đầu tư xí nghiệp để cung cấp thông
tin và làm dịch vụ từ đầu đến cuối cho doanh nghiệp nước ngoài. Nhà đầu tư nước
ngoài muốn đầu tư vào Sán Đầu không phải qua nhiều cửa, chỉ cần liên hệ với
Trung tâm này.
Ngân hàng phát triển quốc gia đạt cấp tín dụng AA. Công nghiệp điện tử
của Sán Đầu xếp hàng thứ 9 trong 100 tỉnh, thành có giá trị điện tử của Trung
Quốc và được xếp vào trong 50 tỉnh, thành mạnh về lực lượng tổng hợp. Môi
trường cơ sở hạ tầng được xếp vào hàng 40 tỉnh, thành hàng đầu và cũng dành
nhiều danh hiệu thành phố môi trường tốt, du lịch tốt, thành phố y tế, vệ sinh sạch
sẽ.
Đẩy mạnh thực hiện phương châm: bên ngoài toàn diện, đa phương mạnh.
Nội dung công tác đa phương như sau:
i)- Lấy Hoa kiều để thu hút, khêu gợi tình cảm quê hương của những
người Hoa kiều góp phần xây dựng đất nước.
ii)- Lấy thương để nhập thương: lấy những thương gia đã đầu tư vào đây
về tuyên truyền thương gia mới vào, giới thiệu bạn của bạn.
iii)- Từ đối tác chuyển sang thành thương gia đầu tư: sau khi buôn bán tốt,
đầu tư sản xuất, xuất khẩu.
- Tiến hành những công việc cải cách môi trường đầu tư cả trong Khu kinh
tế và bên ngoài. Quảng bá, tuyên truyền đầu tư ở trong và ngoài nước, chẳng hạn
như tổ chức hội chợ, tuyên truyền.
Chế độ xét duyệt các dự án đầu tư phải thực hiện công khai. Điều kiện chỉ
cần trong đăng ký đầu tư xác định là dự án không cần chính quyền phân bổ tài
nguyên, không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái thì có thể đăng ký được ngay.
9
Có nghĩa là những dự án không cần đến đất, tài nguyên hoặc là không cần những
xe ô tô phải báo cáo, xe máy không hạn chế nhưng phải xem giành được tư cách
sản xuất xe máy nhãn hiệu gì. Nói chung, dự án lĩnh vực mà địa phương phê
duyệt ngày càng ít đi.
10
Tiêu chí phân cấp cho đặc khu, tỉnh phân cấp cho đặc khu là căn cứ chính
sách do trung ương quy định, tức là phải nghĩ tới phân bổ tài nguyên; bố trí sức
sản xuất; sự phát triển của miền Đông, miền Tây.
Với tiêu chí phân cấp như vậy, tuỳ trường hợp, từng vấn đề cụ thể, phần lớn
không có phản ảnh gì. Hiện nay còn một số lĩnh vực ví dụ như vấn đề quản lý đất
đai đang có thắc mắc là để thành phố quản lý hay để cho cấp quận/huyện quản lý.
Cấp quận/huyện quản lý thì hiệu quả sử dụng đất sẽ cao hơn nhưng sẽ tăng sức ép
rất lớn cho quy hoạch chung của đô thị, của thành phố; bảo vệ môi trường cũng là
một vấn đề. Một mặt phải nghĩ tới hiệu quả kinh tế, mặt khác cũng phải nghĩ tới
hiệu quả xã hội. Phải cố gắng tìm ra điểm có thể giữ cân bằng giữa hiệu quả kinh
tế với phát triển bền vững. Đứng trên khía cạnh toàn cục, Thành ủy chủ trương
những gì mà có thể phân quyền được xuống dưới thì cứ mạnh dạn phân quyền. Ví
dụ như về vấn đề đất đai, miễn là những dự án xây dựng, khai thác đất đai của
quận/huyện không mâu thuẫn với quy hoạch chung của thành phố thì cho họ tự do
làm.
Khi được phân quyền như thế, quận/huyện sẽ năng động hơn, tính tích cực
cao hơn, hiệu quả cao hơn. Trên cơ sở hiệu quả đó, ngân sách giữ lại của
quận/huyện vẫn đảm bảo lợi ích tối đa cho địa phương, cho cấp dưới nhưng mà
phải trên cơ sở đảm bảo một số lượng nhất định. Chẳng hạn như năm 2003, quận
nộp cho Tỉnh 5 triệu tệ thì năm 2004 chắc chắn phải nộp 5 triệu, chí ít là 5 triệu
tệ; phần tăng thêm thì địa phương giữ lại nhiều hơn, nộp ít hơn.
Tỉnh phê duyệt quy hoạch thành phố, đặc khu, nhưng những quy hoạch, kế
hoạch đưa ra chỉ mang tính chỉ đạo, là mục tiêu phấn đấu.
5. Chính sách cán bộ của Sán Đầu
Về kinh phí của học viên: 1/2 lấy từ ngân sách thành phố, còn 1/2 thu từ
học phí mà sinh viên nộp, tỉnh Quảng Đông cũng có trợ cấp học bổng cho sinh
viên.
Trường rất may mắn, là trường công lập nhưng được sự đóng góp tài trợ rất
lớn của tư nhân. Một Sán Kiều đã tài trợ cho trường 2 tỷ HK$.
Chính vì có sự hỗ trợ của hội nghị khách hàng, Trường có thế mạnh, thu
hút được nhiều nhân tài làm giảng viên. Trường có một Phó Hiệu trưởng của Mỹ
đến làm trợ lý Hiệu trưởng. Ngoài ra có nhiều Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng là
người Trung Quốc từ nơi khác đến. Trường đã thu hút được sinh viên xuất sắc nơi
khác. Để thu hút sinh viên xuất sắc của các tỉnh, Trương đã thành lập quĩ khen
thưởng sinh viên mới xuất sắc, mức thưởng từ 10 đến 30 nghìn tệ. Nếu mức
thưởng là 30 nghìn tệ thì đủ chi tiêu cho 4 năm học.
7. Phương hướng phát triển Sán Đầu
Sự phát triển của thành phố tương đối nhanh, vì là đặc khu kinh tế. Quy
hoạch phát triển 5 năm tới của thành phố chủ yếu là xuất phát từ khía cạnh hiện đại
hoá. Bước đi phát triển trong những năm sắp tới là cố gắng nâng cấp công nghiệp
hoá, tăng nhanh đô thị hoá, đẩy mạnh hiện đại hoá, tập trung thực hiện các nhiệm
vụ:
Hình thành 3 trung tâm:
12
- Trung tâm thông tin,
- Trung tâm vận chuyển hàng hoá
- Trung tâm khoa học - văn hoá.
Xây dựng 4 cơ sở:
- Cơ sở sản xuất các sản phẩm khoa học công nghệ cao
- Cơ sở làm các ngành đặc sắc, ngành truyền thống
- Cơ sở về thương mại, xuất khẩu và ngành công nghiệp chế tạo
- Cơ sở nông nghiệp sinh thái
Ba là, thành phố đông dân, đất hiếm.
Bốn là, cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt, thành phố phải hỗ trợ doanh
nghiệp trong tranh chấp thương mại phự hợp với cam kết WTO. Hàng xuất khẩu
của Sán Đầu có thuỷ sản, dụng cụ gia đình và túi nilông, trong đó khối lượng lớn
nhất là thủy sản, bị kiện bán phá giá. Nhưng sau khi vụ kiện thắng lợi, một công
ty xuất khẩu thuỷ sản Sán Đầu giành được thuế suất rất thấp (10%).
Sán Đầu tăng phục vụ, hướng dẫn doanh nghiệp. Hướng dẫn doanh nghiệp
xây dựng những nhãn hiệu nổi tiếng và hướng dẫn doanh nghiệp ra nước ngoài
đăng ký nhãn hiệu của mình, làm cho doanh nghiệp tiếp cận, hoà nhập kinh tế, đi
vào kinh tế toàn cầu hoá. Sau khi hướng dẫn doanh nghiệp giành tư cách ISO
9000, trên cơ sở đó, hướng dẫn doanh nghiệp giành chứng nhận ISO 8000. Đó là
chứng nhận tiêu chuẩn xã hội, không những chú trọng chất lượng sản phẩm mà
còn chú trọng công nhân làm việc bao nhiêu thì nghỉ, về xã hội như thế nào; đó là
tiêu chuẩn quốc tế. Những doanh nghiệp đã giành được tiêu chuẩn quốc tế như
vậy thì xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài không gặp cản trở gì.
Để thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố mạnh về kinh tế, đó đề ra 5 chiến
lược:
- Tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của công nghiệp, lấy công nghiệp hoá để
dẫn dắt đô thị hoá.
- Tăng nhanh bước đi đô thị hoá của thành phố. Từng bước điều chỉnh địa
giới cấp hành chính thành phố, mở rộng phạm vi nội thành.
- Tiếp tục xây dựng kinh tế cởi mở, thúc đẩy thương mại, xuất nhập khẩu.
- Phát triển giáo dục;
- Phát triển hài hoà, vừa bảo vệ môi trường của thành phố vừa bảo đảm
tăng trưởng kinh tế./.
14
Là phòng “thí nghiệm” cho các chính sách và cách tiếp cận mới.
Về phương diện này, các đặc khu kinh tế của Trung Quốc là những ví dụ kinh
điển. Các chính sách đột phá về tài chính, pháp lý, lao động, và giá cả đã được
giới thiệu và thử nghiệm đầu tiên ở các đặc khu kinh tế (tiêu biểu là Thẩm Quyến)
trước khi được mở rộng cho phần còn lại của nền kinh tế.
Giải tỏa một phần áp lực của tăng dân số và nhu cầu việc làm. Với
khả năng thu hút nhiều đầu tư cả trong và ngoài nước, đặc biệt là FDI, các KKT
được kỳ vọng sẽ tạo ra một số lượng lớn việc làm, đặc biệt là trong những ngành
thuộc nhóm ưu tiên đầu tư.
1
Phần này dựa vào nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2008)
15
Mặc dù KKT, cùng với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu cảng tự do v.v.,
được nhiều nước sử dụng như một công cụ chính sách phát triển công nghiệp
quan trọng, song thực thế cho thấy mức độ thành công của các công cụ này rất
khác nhau, phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố (sẽ được thảo luận trong Phần III và
IV). Để đánh giá sự thành công (hay thất bại) của các khu này, người ta thường
xem xét các lợi ích và chi phí của chúng, nội dung cụ thể được trình bày sau đây.
2. Những lợi ích và chi phí của khu kinh tế
Những lợi ích kinh tế từ việc phát triển KKT bao gồm những lợi ích tĩnh và
lợi ích động. Những lợi ích tĩnh khá đơn giản và bao gồm:
Trực tiếp tạo việc làm
2
và thu nhập cho người lao động
o Số lượng lao động mới tạo ra được
o Tỷ trọng trong tổng lượng lao động quốc gia
o Thu nhập so với mức trung bình của các DN ngoài KKT
o Tỷ lệ giữa số việc làm gián tiếp và trực tiếp
Nâng cấp nền công nghiệp
o Sự đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu
o Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao
o Số lượng bằng phát minh sáng chế của các DN trong KKT
Chuyển giao công nghệ
o Mức độ áp dụng các công nghệ tiên tiến của các DN trong KKT
Nâng cấp kỹ năng quản lý và lao động
o Tỷ trọng lao động trình độ cao và có kỹ năng
o Tỷ trọng lao động phổ thông
“Tác động trình diễn” của những “thực hành tốt nhất” trong KKT
Liên kết và phát triển vùng
Việc phát triển các KKT cũng đòi hỏi một loạt các chi phí tài chính và kinh
tế, bao gồm:
Lương nhân viên nhà nước và các chi phí hoạt động khác
Kinh phí đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Các khoản miễn, giảm thuế
Bảng _: Các quan điểm tranh luận về khu kinh tế và công nghiệp
Chủ đề Phê bình Ủng hộ
Thu ngoại tệ KKT-KCN tập trung các
hoạt động kinh tế phụ thuộc
vào nhập khẩu với giá trị gia
tăng thấp.
Quốc gia có thể cải
thiện giá trị gia tăng
bằng chính sách
không phân biệt đối
xử.
Hoạt động công
thu hút FDI, và đa
số dự án FDI không
có tính di chuyển
cao.
Quyền lợi của
phụ nữ
KKT-KCN làm tăng sự
phân biệt đối xử với phụ nữ
khi trả lương cho họ thấp
hơn nam giới.
KKT-KCN là một
khu vực quan trọng
tạo ra việc làm và
tăng thu nhập cho
phụ nữ.
Quyền lao động KKT-KCN hạn chế quyền
cơ bản về lao động.
Hầu hết các KKT-
KCN quy định các
quyền về lao động
phù hợp với tiêu
chuẩn của Tổ chức
Lao động Quốc tế
(ILO).
Điều kiện làm
việc
KKT-KCN cho phép các
doanh nghiệp né tránh các
tiêu cực về xã hội từ thu hồi đất và chuyển đổi cuộc sống của người dân bị ảnh
hưởng, sự suy giảm chất lượng môi trường (do chính sách thu hút FDI bằng mọi
giá), và sự chèn lấn nguồn lực đối với khu vực kinh tế nội địa (do quá ưu tiên đầu
tư vào các KKT cũng như ưu đãi cho các DN trong KKT). Lưu ý rằng đây là
những chi phí của đất nước nhưng lại không thể thu hồi từ việc cung ứng dịch vụ
cho các DN bên trong KKT, và vì vậy đặt thêm gánh nặng đối với ngân sách nhà
nước và nguồn lực quốc gia.
Một vấn đề quan trọng liên quan đến việc phát triển các KKT là tác động
đến ngân sách. Nếu thành công thì các KKT sẽ góp phần cải thiện nguồn thu cho
chính phủ, nhưng nếu thất bại thì chúng sẽ trở thành một gánh nặng rất lớn cho
ngân sách. Như vậy, các KKT có thể là nguồn nuôi dưỡng nhưng cũng có thể là
gánh nặng đối với nền kinh tế. Những tác động chính của việc phát triển KKT đến
ngân sách được tóm tắt trong Bảng 1.
Bảng 1: Nguồn Thu và Chi phí của Chính phủ từ việc phát triển các
Khu Công nghiệp
Nguồn Thu
Thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu không có miễn, giảm thuế).
Thuế thu nhập cá nhân từ các lao động trực tiếp hay gián tiếp.
Các khoản phí, lệ phí dịch vụ.
Phí nhà đất (cho thuê hoặc bán đất công cho các nhà phát triển KKT-KCN).
Thuế nhập khẩu và các thuế khác thu từ việc bán hàng ra ngoài khu phi thuế
quan.
Các khoản thu phí từ việc cấp quyền khai thác các tiện ích khác (cảng, điện,
nước…).
Chi phí
Lương của công chức nhà nước để quản lý và điểu hành hoạt động của các
KKT-KCN.
Chi phí vốn của nhà nước cho các cơ sở hạ tầng kết nối bên ngoài KKT-
KCN (và các chi phí cơ sở hạ tầng và tiện ích bên trong KKT-KCN nếu do
khu vực công phát triển).
Hào (Bạc Liêu).
Giống như nhiều khu kinh tế trên thế giới, ngay từ đầu và cho đến hiện nay,
mục tiêu quan trọng nhất của việc xây dựng các KKT ở Việt Nam là để thử nghiệm
các mô hình, thể chế, và chính sách mới nhằm tạo ra các động lực phát triển có tính
đột phá, nhờ đó đem lại sức sống mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, và đẩy mạnh
xuất khẩu cho toàn nền kinh tế (xem Hộp 1).
Hộp 1. Mục tiêu phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai
Điều 3. KKTM Chu Lai được thành lập nhằm mục tiêu:
3
Áp dụng các thể chế, cơ chế chính sách mới, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh
bình đẳng, phù hợp với thông lệ quốc tế cho các loại hình kinh doanh của các tổ
chức kinh tế trong và ngoài nước, qua đó có thêm kinh nghiệm cho hội nhập kinh
tế quốc tế và khu vực;
3
Quyết định số 108/2003/QĐ-TTg ngày 5/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ.
20
Áp dụng các mô hình, động lực mới cho phát triển kinh tế, khắc phục những
vướng mắc trong chính sách và cơ chế quản lý kinh tế hiện hành, trong khi chưa
có điều kiện thực hiện trên phạm vi cả nước;
Phát triển sản xuất, tạo ra những sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh
cao, đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng ra thị trường thế giới;
Tạo việc làm, thúc đẩy việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;
Khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong giao
thương, dịch vụ quốc tế và trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Quảng Nam, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho toàn bộ khu
21
(industrial cluster) tuy là một xu hướng chủ đạo trong phát triển công nghiệp của
thế giới nhưng vẫn chưa được đưa vào các văn bản chính thức ở Việt Nam.
Chính phủ cũng quy định các điều kiện để thành lập và mở rộng khu kinh tế
(Hộp 2). Có hai vấn đề cần thảo luận liên quan đến những quy định này, đó là tính
hợp lý và việc áp dụng những điều kiện này trên thực tế.
Hộp 2: Điều kiện thành lập, mở rộng khu kinh tế
5
Điều 7. Điều kiện thành lập, mở rộng khu kinh tế
1. Điều kiện thành lập khu kinh tế:
a) Phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển khu kinh tế đã được phê duyệt;
b) Có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu
hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc
gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài;
có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật;
c) Có quy mô diện tích từ 10.000 ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp
của khu kinh tế;
d) Có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tư với quy mô lớn, quan trọng và có
tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực;
đ) Có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hưởng phát triển lan tỏa đến
các khu vực xung quanh;
e) Không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây ảnh hưởng
xấu và làm tổn hại đến các di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng cảnh, các quần
thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; phù hợp với bố trí quốc phòng
và đảm bảo quốc phòng, an ninh; có điều kiện đảm bảo yêu cầu về môi trường, môi
sinh và phát triển bền vững.
3. Điều kiện mở rộng khu kinh tế:
nguồn lực hạn chế và bên kía là mong muốn phát triển KKT quy mô rất lớn của quá
nhiều địa phương chắc chắn sẽ làm cho đa số các KKT không thể phát triển được.
Thứ hai, Chính phủ quy định rằng một KKT sẽ chỉ được mở rộng khi toàn
bộ hệ thống kết cấu hạ tầng khu kinh tế đã được đầu tư hoàn chỉnh theo quy hoạch
và ít nhất 70% diện tính đất của các khu chức năng trong khu kinh tế đã có chủ
đầu tư. Thế nhưng trên thực tế, mặc dù không có cơ sở nào chứng tỏ rằng KKT
Dung Quất sẽ thỏa mãn cả hai điều kiện này trong một tương lai không xa nhưng
vẫn được mở rộng hơn 4 lần, từ 10.300 ha theo quy hoạch ban đầu lên tới 45.332
ha
6
theo Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất đến năm
2025.
Để thực hiện được mục tiêu phát triển KKT đầy tham vọng trong khi nguồn
lực hữu hạn, nhà nước (cả trung ương và địa phương) không có cách nào khác
ngoài việc tài trợ trực tiếp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng KKT, đồng thời đưa ra
những ưu đãi đặc biệt, thậm chí trợ cấp bằng nhiều hình thức cho các nhà đầu tư
vào KKT (xem Hộp 3).
Hộp 3: Các biện pháp ưu đãi đầu tư ở các khu kinh tế ven biển
6
Diện tích mới này bao gồm 10.300 ha đất hiện hữu, 24.280 ha diện tích đất mở rộng, và 10.500 ha mặt biển.
23
3. Nhà đầu tư có dự án đầu tư vào khu kinh tế, kể cả dự án đầu tư mở rộng, được
hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác theo quy định
của Nghị định này.
7
Trong trường hợp của Việt Nam, nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007) đã
chứng mình rằng sau khi kiểm soát các nhân tố cơ bản thì các ưu đãi đầu tư trái quy định mà 32 tỉnh ở Việt Nam
đưa ra trong giai đoạn 2001 – 2005 chẳng những không giúp cho các tỉnh này thu hút được nhiều FDI hơn mà trái
lại còn làm tăng gánh nặng ngân sách của chúng.
24
Đến tháng 11/2011, Việt Nam đã có 18 KKT ven biển với tổng diện tích mặt
đất và mặt nước lên tới trên 730.000 ha (xem Bảng 2).
8
Trong số này, 9 KKT bao
gồm Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây - Lăng Cô,
Vân Phong, Vân Đồn, Nam Phú Yên đã cơ bản hoàn thành quy hoạch tổng thể, quy
hoạch chi tiết các phân khu chức năng, và đang xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật -
xã hội. 9 KKT còn lại vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng quy hoạch, chuẩn bị
bộ máy và nhân sự, xây dựng dự án, huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, và tiến
hành đền bù giải phóng mặt bằng.
Bảng 2: Danh sách các khu kinh tế ở Việt Nam tính đến 11/2011
STT
Danh sách các Khu
kinh tế
Địa phương
thành lập
Thời điểm
thành lập
Diện tích
(ha)
9 Vân Đồn
Quảng Ninh
31/5/2006 217.133
10 Đông Nam Nghệ An
Nghệ An
11/6/2007 18.826
11 Đình Vũ – Cát Hải
Hải Phòng
10/1/2008 21.600
12 Nam Phú Yên
Phú Yên
29/4/2008 20.730
13 Hòn La
Quảng Bình
10/6/2008 10.000
14 Định An
Trà Vinh
27/4/2009 39.020
15 Năm Căn
Cà Mau
23/11/2010
11.000
16
Đông Nam Quảng
Trị
Quảng Trị
27/2/2010 23.460
17 Ven biển Thái Bình
Thái Bình
Lao động 27.000 -
Nguồn: Trần Duy Đông (2011)
3. Tính khả thi của việc phát triển đồng loạt tất cả các khu kinh tế
Phần này cung cấp một số đánh giá sơ bộ về tính khả thi của chính sách
phát triển các khu kinh tế một cách đại trà ở Việt Nam trên ba phương diện: tài
chính, nhân lực, và thể chế.
Về mặt tài chính, vì hầu hết các khu kinh tế ven biển được thành lập ở những
địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, thậm chí đặc biệt khó khăn, nên
chỉ riêng yêu cầu phát triển và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu (chứ chưa
nói tới các hạ tầng tiên tiến để biến các KKT này thành nơi đi đầu về công nghệ của
cả nước) vô cùng lớn. Điều này mâu thuẫn trực tiếp và gay gắt với nguồn vốn rất
hạn chế từ địa phương (do đa số các địa Phương có KKT đều chưa tự chủ được
ngân sách) cũng như hỗ trợ ngân sách từ trung ương. Theo ước tính của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2004 – 2009, tổng cộng các nguồn vốn hỗ trợ có
mục tiêu từ ngân sách trung ương, vốn trái phiếu Chính phủ, nguồn thu địa Phương
được giữ lại, và ODA mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu vốn đầu tư phát
triển hệ thống cơ sở hạ tầng của các KKT đã được thành lập.
Tuy nhiên, có vẻ như đánh giá này của Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn quá lạc
quan do mới chỉ tính đến nhu cầu đầu tư của các khu hiện đang được phát triển chứ
chưa bao gồm cả nhu cầu phát triển hết tất cả các phân khu chức năng như quy