KIẾN NGHỊ HỘI THẢO“TÁI CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM” - Pdf 15

class="bi x0 y0 w0 h1"
3 Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước
đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn
và toàn diện trên các mặt kinh tế - xã hội và chính thức
trở thành nước có thu nhập trung bình trên thế giới.
Tuy nhiên, việc kéo dài quá lâu mô hình tăng trưởng
kinh tế theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu
tư, đặc biệt là đầu tư công hiệu quả thấp, góp phần
khiến nền kinh tế luôn đối diện với những mất cân đối
vĩ mô quan trọng như chênh lệch tiết kiệm - đầu tư,
thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách trong thời
gian dài v.v Đây chính là những nguyên nhân cơ bản
gây ra những bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm phát tăng
cao, tỷ giá biến động mạnh và khó lường, nợ công và nợ
nước ngoài đang dần đến ngưỡng nguy hiểm, thị trường
tài chính tiền tệ có những biến động mạnh về lãi suất,
niềm tin của thị trường vào điều hành kinh tế vĩ mô bị
suy giảm v.v Vì vậy, tái cấu trúc nền kinh tế đang là
một yêu cầu bức thiết trong bối cảnh hậu khủng hoảng
KIẾN NGHỊ HỘI THẢO
“TÁI CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG TRONG BỐI CẢNH
ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ
TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM”
4
tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2010 và
nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới nhằm kiến
tạo những nền tảng thể chế và chính sách phù hợp cho
bước phát triển nhanh và bền vững sắp tới. Một trong

công trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng và tái
cấu trúc nền kinh tế ở Việt Nam” tại thành phố Huế
trong 2 ngày 28-29/12/2010.
Đồng chí Hà Văn Hiền - Ủy viên BCHTW Đảng,
Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Đồng
chí Nguyễn Xuân Thắng, Phó Chủ tịch Viện Khoa học
xã hội Việt Nam đồng chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội
thảo có Thường trực Ủy ban Kinh tế và một số thành
viên Ủy ban Kinh tế, đại diện Hội đồng Dân tộc và một
số Ủy ban của Quốc hội; đại diện Văn phòng Trung
ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn; lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân và Đoàn ĐBQH tỉnh Thừa Thiên-Huế; đại diện
Đoàn ĐBQH và Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương; các chuyên gia kinh tế, các
nhà khoa học đến từ Viện Khoa học xã hội Việt Nam và
một số Viện nghiên cứu, Trường đại học; đại diện một
số tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển Liên
Hiệp Quốc (UNDP), Dự án STAR Việt Nam, Cơ quan
phát triển của Vương quốc Anh tại Việt Nam và các cơ
quan thông tấn, báo chí.
6
Hội thảo đã phân tích, làm rõ thực trạng đầu tư
công của Việt Nam
1
, xác định những thành tựu cũng
như hạn chế yếu kém và nguyên nhân, từ đó đề xuất
các định hướng tái cơ cấu đầu tư công trong giai đoạn
phát triển sắp tới theo những vấn đề đặt ra ở trên cũng

2
. Tuy nhiên, xét về cơ cấu thì khu vực kinh tế
nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng đầu tư
toàn xã hội mặc dù tỷ trọng của khu vực này đã giảm từ
59,1% năm 2000 xuống còn 46,2% năm 2010
3
(Hình
1), theo đó, việc giảm sút không phải do Nhà nước hạn
chế bớt đầu tư công, mà do các khu vực kinh tế khác có
tốc độ tăng cao hơn.
Mặc dù đầu tư công trong thập niên qua đã làm
thay đổi đáng kể kết cấu hạ tầng kỹ thuật, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng đời sống
người dân, song đánh giá hiệu quả của đầu tư công cần
xem xét mối tương quan giữa lượng vốn đã bỏ ra và kết
quả đạt được. Thước đo hiệu quả vốn đầu tư thường
được dùng phổ biến hiện nay là hệ số sử dụng vốn
(Incremental Capital Output Ratio – ICOR). Bảng 3 cho
thấy ICOR của Việt Nam cao, hay nói cách khác, hiệu
quả đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2000-2007 là tương
đối thấp. Trong khi đó, ICOR ở các nước trong giai

2
Năm 2007, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của Việt Nam chỉ thấp hơn so với Trung Quốc
(44,2%), nhưng cao hơn nhiều so với Hàn Quốc (29,4%), Thái Lan (26,8%),
Indonesia (24,9%), Malaysia (21,9%) và Philippines (15,3%). Qua các năm, tỷ trọng
này đều có xu hướng giảm ở hầu hết các nước, trong khi ở Việt Nam lại tăng mạnh và
luôn duy trì ở mức cao.
Về số tuyệt đối, nếu tính theo giá so sánh 1994, tổng vốn đầu tư xã hội đã tăng từ 115
nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 371 nghìn tỷ đồng năm 2009, bình quân mỗi năm tăng

chất lượng công trình như dự kiến; phân cấp quyết định
9 và sử dụng vốn đầu tư chưa đi kèm với giám sát, kiểm
soát chất lượng và hiệu quả đầu tư v.v
Vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh
tế bên cạnh việc nhanh chóng chuyển đổi mô hình kinh
tế chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư sang mô hình phát
triển theo chiều sâu, hướng đến năng suất và phát triển
bền vững bằng cách phân bổ lại nguồn lực của nền kinh
tế, trong đó, cần tạo đột phá trong việc tái cơ cấu đầu tư
công theo hướng giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong
tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời tăng cường
mạnh mẽ hiệu quả và chất lượng của đầu tư công.
Ngoài ra, cần tạo cơ hội bình đẳng cho các nguồn
đầu tư khác của xã hội, bằng cách chủ động xây dựng
và công bố danh mục dự án cụ thể để huy động các
nguồn lực trong xã hội phục vụ mục tiêu đầu tư phát
triển theo các hình thức BOT, BT, PPP; tạo ra các cơ
chế để huy động tối đa các nguồn vốn xã hội, giảm dần
sự phụ thuộc, trông chờ vào ngân sách; khuyến khích
các doanh nghiệp tư nhân tham gia đấu thầu thực hiện
các dự án có vốn NSNN, kể cả từ nguồn ODA.
Kiến nghị 2: Vai trò của đầu tư công trong nền
kinh tế cần được thay đổi theo hướng giảm bớt chức
năng “đầu tư để kinh doanh”, tăng cường chức
năng “phúc lợi” của đầu tư công.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, vai trò “chủ đạo” của Kinh tế Nhà nước


khoa học - công nghệ và nền kinh tế tri thức. Ngoài ra,
Hình 3 cũng cho thấy cơ cấu đầu tư công theo các
ngành hầu như không có biến động lớn trong suốt một
thập niên cũng cho thấy rằng chúng ta vẫn chưa sử
dụng đầu tư công như một công cụ phục vụ mục tiêu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong dài hạn và điều tiết sự
phát triển xã hội.
Nhìn sâu hơn vào cơ cấu đầu tư công trong các
ngành công nghiệp có thể thấy đầu tư vào các ngành
công nghệ cao, các ngành có khả năng dẫn dắt chuyển
đối cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa còn chưa đáp
ứng được yêu cầu đặt ra
4
, thậm chí đi ngược lại những
nguyên tắc cơ bản của đầu tư công là Nhà nước chỉ tạo
lập những nền tảng cho tăng trưởng và phát triển, tập
trung đầu tư vào các lĩnh vực mà cơ chế thị trường
không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả.
Vì vậy, để thực hiện đúng vai trò của đầu tư công,
cần thay đổi tư duy về mục tiêu của đầu tư công theo
hướng giảm bớt chức năng “đầu tư để kinh doanh”, tăng
cường chức năng “phúc lợi” của đầu tư công. Không đầu
tư vào các ngành mà khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm,
chuyển trọng tâm ra ngoài lĩnh vực kinh tế nhất là kinh

4
Các ngành công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị, dụng cụ y tế, cơ khí chính xác,
thiết bị quang học, hóa chất đều có tốc độ tăng thấp hơn mức bình quân toàn ngành
công nghiệp thuộc khu vực nhà nước. Thậm chí, tỷ trọng trong các ngành chế tạo

Khoảng 1/3 ngân sách hàng năm là chi cho đầu tư phát triển (Bảng 6). Năm 2007
vốn đầu tư từ ngân sách chiếm đến 9,8% GDP, trong khi ở Inđônêxia là 1,6%,
Malaixia 5,8%, Philipines 1,8% (số liệu 2000), Thái Lan 3,2% (số liệu 2004), Hàn
Quốc 3,7%, Trung Quốc 3,5% (số liệu 2003).
13 % GDP) so với chính phủ các nước trong khu vực Đông
Á và Đông Nam Á.
Do đầu tư từ ngân sách trên thực tế luôn cao hơn
nhiều so với kế hoạch và chiếm tỷ trọng lớn trong ngân
sách nên đầu tư công là một trong những nguyên nhân
chính khiến bội chi ngân sách luôn ở mức cao trong
nhiều năm qua. Ví dụ, năm 2010, vốn đầu tư từ ngân
sách dự kiến là 125,5 ngàn tỷ đổng, thì thực tế đã lên
tới hơn 180 ngàn tỷ đồng, cao hơn 55,5 ngàn tỷ
(44,2%) so với dự kiến, tương đương 2,7 tỷ đô la
(khoảng 2,7% GDP năm 2010). Nếu đầu tư được thực
hiện theo đúng kế hoạch, bội chi ngân sách năm 2010
có thể chỉ khoảng 3,5%. Ngoài ra, nếu tính cả đầu tư từ
nguồn trái phiếu chính phủ thì bội chi ngân sách lên
đến 9,45%, thuộc loại cao nhất trong khu vực (Hình 4).
Để bù đắp cho những khoản chi tiêu công không
ngừng tăng lên, chúng ta đang thực hiện chính sách tài
khóa liên tục tăng thu, từ 20,5% GDP năm 2000 lên
khoảng 28% trong giai đoạn 2006-2010 và tốc độ tăng
thu ngân sách luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP.
Nhà nước đang thu về ngày càng nhiều hơn phần của
cải tăng lên của xã hội mà đáng lẽ kinh tế dân doanh có
thể dùng để tích lũy và đầu tư. Tỷ lệ huy động từ GDP
tư phát triển. Các khoản vượt thu ngân sách so
với dự toán phải đưa vào dự phòng.
Giảm bội chi ngân sách, nghiêm túc thực hiện
chi ngân sách theo đúng dự toán và không tự ý
tăng chi cao hơn dự toán đã được Quốc hội phê
duyệt.
Điều chỉnh cơ cấu chi NSNN theo hướng giảm
chi NSNN/GDP thông qua giảm chi cho đầu tư
phát triển bên cạnh việc bảo đảm tăng chi
thường xuyên và chi trả nợ/tổng chi NSNN.
Nghiên cứu xây dựng hệ thống các tiêu chí xác
định thứ tự ưu tiên để bảo đảm chi đầu tư công
được giới hạn trong khả năng nguồn lực và
thống nhất với các ưu tiên chính sách của
Chính phủ trong trung và dài hạn.
Từng bước tăng tính tự chủ trong các hoạt động
của Ngân hàng Nhà nước, loại bỏ việc tài trợ cho
thâm hụt ngân sách, để ổn định kinh tế vĩ mô.
Kiến nghị 4: Nâng cao chất lượng và sử dụng
vốn có hiệu quả đối với hoạt động đầu tư công từ
nguồn trái phiếu chính phủ cần được coi là biện
pháp then chốt trong tái cơ cấu đầu tư công.
Chủ trương tăng vốn cho đầu tư công từ nguồn
trái phiếu chính phủ (TPCP) từ năm 2003 đến nay là
một quyết định đúng đắn và có đóng góp quan trọng
16
cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng
của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện,

hưởng lớn đến khả năng cân đối ngân sách và khả năng
vay và trả nợ trong trung hạn. Một số lý do dẫn tới hiện
tượng trên là: (i) Chính phủ liên tục bổ sung các mục
tiêu sử dụng TPCP, nhất là trong giai đoạn 2008-2009
để thực hiện gói kích thích kinh tế; ( ii) cơ chế phân bổ
nguồn vốn TPCP chưa hợp lý khi Chính phủ bố trí vốn
và các Bộ, ngành, địa phương quyết định tổng mức đầu
tư, dẫn đến hiện tượng các địa phương thường trình bổ
sung danh mục hoặc bố trí vốn đầu tư dàn trải, thiếu
tập trung làm cho nhu cầu vốn tăng vọt và Chính phủ
luôn trong thế bị động khi phải đáp ứng đủ vốn; (iii)
trong quá trình thực hiện dự án nảy sinh nhiều vấn đề
như trượt giá nguyên vật liệu, tăng giá nhân công, đền
bù giải phóng mặt bằng, thời gian thi công kéo dài, điều
chỉnh quy mô dự án
6
v.v
Thứ năm, do nhu cầu vốn TPCP tăng cao nên việc
phát hành TPCP không có sự phối hợp chặt chẽ với
chính sách tiền tệ để thực hiện mục tiêu hạ mặt bằng
lãi suất. Trong năm 2010, lãi suất TPCP ở một số thời
điểm cao hơn lãi suất huy động của các tổ chức tín

6
Tổng mức đầu tư ban đầu của các công trình, dự án đầu tư từ TPCP giai đoạn 2003 -
2010 là 246.447 tỷ đồng, nhưng hiện nay qua tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
tổng mức đầu tư điều chỉnh đã lên đến 558.654 tỷ đồng (Báo cáo số 6082/BC-BKH
ngày 31/8/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ).
18
dụng gây khó khăn cho việc huy động vốn của các

chưa hình thành đường cong lãi suất chuẩn
và kỳ vọng của thị trường về
ất trong tương lai chưa được
nh hình. Do đó, chính sách tiền tệ và chính
n được phối hợp chặt chẽ hơn
n chế trên
7
.
i cách việc thiết kế và nâng cao
n các chương trình mục tiêu quốc
và các chương trình mục tiêu khác
i pháp quan trọng trong tái cơ cấu và
u tư công.
Một trong năm nguồn chủ yếu của đầu tư công là
đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu, bao
gồm CTMTQG và các chương trình mục tiêu khác. Vốn
hững chương trình này được phân bổ theo
hằng năm nhưng về chủ trương được quyết
định cho thời kỳ dài hơn 1 năm, thường từ 3 đến 5
năm. Trong thời kỳ 2001-2005 có 6 CTMTQG và tăng
lên 11 CTMTQG trong giai đoạn 2006-2010, và đến
năm 2011 có 15 CTMTQG. Nếu tính cả các chương

ần trao đổi thông tin kịp thời liên quan đến dự kiến các khoản thu chi
ành TPCP hàng quý và hàng năm để làm cơ sở cho việc
ổn định thanh khoản của hệ thống TCTD. trường thứ cấ
hành và đáo hạ

chương trình mục tiêu khác thời gian qua đã bộc lộ một
số nhược điểm như sau:
Có sự chồng chéo về nội dung hỗ trợ và mục
tiêu thực hiện giữa các chương trình ở các mức
độ khác nhau. Sự đầu tư chồng chéo, dàn trải
và thiếu phối hợp đã gây lãng phí lớn và hiệu
quả mang lại không cao như mong muốn.
Trong tổng vốn đầu tư cho các chương trình có
một phần không nhỏ là dành cho đầu tư xây
dựng cơ bản. Tuy nhiên, do số lượng chương
trình lớn và kinh phí lại nằm ngoài cân đối
ngân sách dài hạn nên không thể phân loại và
thống kê chính xác tổng số vốn đầu tư. Do đó,
việc quản lý trở nên phức tạp hơn và tạo không
21 gian cho những quyết định mang tính chủ
quan, không theo các quy tắc và tiêu chí về chi
tiêu ngân sách nhà nước.
Về đối tượng thụ hưởng, theo nguyên tắc khi
người hưởng lợi đã được hỗ trợ từ một dự án sẽ
không được nhận hỗ trợ từ dự án khác. Tuy
nhiên, hiện nay tiêu chí hưởng lợi là do các cơ
quan trung ương thiết kế và có hiện tượng một
tiêu chí nhưng cách tiếp cận lựa chọn người
hưởng lợi đa dạng khiến ở một số nơi đối tượng
thụ hưởng chồng chéo, trong khi ở những nơi
khác một số nhóm và cá nhân nghèo lại bị loại
trừ. Ngoài ra, hệ thống lựa chọn người hưởng

nghẽn cơ bản của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
8
. Số
lượng và chất lượng CSHT hiện chưa đáp ứng yêu cầu
nên nguồn vốn để đầu tư phát triển CSHT là rất lớn,

8
Theo Giám đốc Dự án Sáng kiến Cạnh Tranh Việt Nam (VNCI) của Cơ quan Phát
triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID), Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) giai đoạn 2009-2010
của Việt Nam đứng thứ 75, tụt 5 bậc so với 2008-2009, trong đó, trụ cột thứ 2 trong 12
trụ cột làm nên chỉ số GCI là chỉ số CSHT chỉ đứng vị trí 94, với 3 điểm trong tổng số 7
điểm. Trong khi đó, một số quốc gia trong khu vực như Malaysia, Thái Lan hay Trung
Quốc có chỉ số CSHT đều cao hơn Việt Nam (từ 4,3-5 điểm). Kết quả khảo sát cũng cho
thấy, quãng đường từ nhà máy vào trung tâm của một tỉnh, thành phố trung bình bị
phong tỏa bởi lũ lụt, lở đất khoảng 8,7 ngày/năm, 71% doanh nghiệp cho biết sản phẩm
của mình bị hư hại bởi chất lượng đường xấu, gây tổn thất khoảng 2.300 USD/doanh
nghiệp và trung bình trong 1 tháng doanh nghiệp bị cắt điện khoảng 29,27 tiếng và dịch
vụ điện thoại và mạng ngoài vùng phủ sóng khoảng 8,23 tiếng.
23 vượt ra ngoài khả năng của NSNN
9
. Hơn nữa, CSHT lại
rất đa dạng, thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn trong thời
gian dài, trong khi không phải dự án nào cũng có khả
năng hoàn vốn hay có thể đánh giá được hiệu quả kinh
tế
10
. Thêm vào đó, đầu tư xây dựng CSHT còn liên

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trên phương diện
xây dựng quy hoạch phát triển, giải phóng mặt
bằng, đầu tư xây dựng công trình nhưng sau đó
có thể nhượng lại cho tư nhân quản lý khai thác
để thu hồi vốn đầu tư các công trình khác.
Cần phân bổ hiệu quả các nguồn vốn cho từng
loại CSHT, cụ thể:
- Vốn từ NSNN vẫn sẽ là nguồn chủ yếu cho
CSHT trong ít nhất 5-10 năm tới. Tuy nhiên, cần giảm
tỷ trọng đầu tư từ NSNN mặc dù số tuyệt đối chi từ
NSNN cho CSHT vẫn có thể tăng, và chỉ dành cho các
dự án có ý nghĩa chiến lược song chậm thu hồi vốn,
không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận không đáng kể. Còn
đối với vốn ODA và nguồn vốn TPCP
11
, do được quản lý
theo dự án nên cần giải quyết được 2 vấn đề cơ bản là
lựa chọn dự án hiệu quả và bảo đảm nguồn trả nợ
12
.

11
Theo Bộ KH&ĐT, để hoàn thành các dự án đã có trong danh mục đầu tư bằng
TPCP, trong 5 năm 2011-2015 cần huy động khoảng 315 nghìn tỷ đồng TPCP, bình
quân 63 nghìn tỷ đồng/năm, cao hơn tổng số vốn TPCP kế hoạch năm 2010 khoảng 7
nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, tăng cường quản
lý nợ và dư nợ của Chính phủ và nợ công không vượt ngưỡng cho phép bảo đảm an
ninh tài chính quốc gia, dự kiến huy động TPCP trong 5 năm 2011-2015 giảm chỉ còn
khoảng 225 nghìn tỷ đồng; trong đó, năm 2011 là 45 nghìn tỷ đồng (giảm 11 nghìn tỷ
đồng so với năm 2010). Dự kiến tổng số vốn TPCP này mới chỉ đáp ứng được khoảng

13
PPP là một dạng hợp đồng giữa đại diện nhà nước và tư nhân, theo đó, bên tư nhân
cung cấp dịch vụ công hoặc dự án đồng thời chấp nhận rủi ro tài chính, kỹ thuật và
vận hành của dự án. Trong một số mô hình PPP, người sử dụng dịch vụ phải thanh
toán chi phí chứ không phải là người nộp thuế. Trong một số mô hình PPP khác thì tư
nhân thực hiện dự án theo hợp đồng song nhà nước phải trả toàn bộ hay một phần chi
phí dự án. Đối với những dự án CSHT, Chính phủ có thể tài trợ vốn dưới dạng trợ cấp
một lần đủ để hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân. Chính phủ cũng có thể tài trợ dưới dạng
miễn giảm thuế hoặc bảo đảm nguồn thu ổn định cho nhà đầu tư tư nhân trong khoảng
thời gian nhất định. Vấn đề quan trọng nhất đối với các dự án PPP là nhà đầu tư tư
nhân cần có tỷ suất lợi nhuận cao hơn lãi suất TPCP.
26
một bộ phân không nhỏ dân cư nước ta nhưng chưa
được chú trọng đầu tư một cách tương xứng, biểu hiện
là tỷ trọng đầu tư cho lĩnh vực này trong đầu tư công đã
giảm từ 12,2% năm 2000 xuống chỉ còn 7-8% (giai
đoạn 2003-2008) và 6,7% (năm 2009). Hiện nay, đầu
tư từ NSNN cho nông nghiệp chỉ chiếm 1,4% GDP,
thấp hơn so với mức trung bình của Trung Quốc, Ấn
Độ và Thái Lan (8-16%) và các nước Đông Nam Á khác
(khoảng 8-9%) trong giai đoạn 1990 - 1993. Hệ quả là
hệ thống thủy lợi ít được mở rộng và xuống cấp do
không đủ chi phí bảo dưỡng. Các thành tựu khoa học
ứng dụng trong nông nghiệp được chuyển giao cho
nông dân không nhiều về số lượng và không rộng rãi về
phạm vi. Phần lớn giống cây trồng, vật nuôi mới trong
nông nghiệp đều phải nhập khẩu. Hệ thống cung cấp
dịch vụ khuyến nông còn yếu. Tác động của một số
chương trình/dự án của Nhà nước về kết cấu hạ tầng ít
có tác động tích cực đến hiệu quả của các doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status