Các mẫu dịch vụ thông tin Phần 1: Mẫu liên hợp dữ liệu - Pdf 11

Các mẫu dịch vụ thông tin
Phần 1: Mẫu liên hợp dữ liệu
Tuyên bố giá trị của cách tiếp cận liên hợp dữ liệu
Tính trong suốt của sự không đồng nhất bên dưới
Với liên hợp dữ liệu, người dùng sẽ thấy một giao diện thống nhất duy nhất. Tính
trong suốt về vị trí có nghĩa là ứng dụng sử dụng mẫu này không cần biết rõ nơi
lưu trữ dữ liệu. Nó cũng chẳng cần biết cơ sở dữ liệu nguồn hỗ trợ ngôn ngữ hay
giao diện lập trình nào, nhờ tính trong suốt thực hiện ứng dụng. Ví dụ, nếu sử dụng
SQL, thì với ứng dụng, nguồn dữ liệu hỗ trợ ngôn ngữ SQL nào là điều không
quan trọng. Ứng dụng cũng không cần biết cách lưu trữ dữ liệu về mặt vật lý ra sao
do tính độc lập của dữ liệu vật lý và sự phân mảnh và tính trong suốt về bản sao
hay giao thức mạng nào được sử dụng, còn gọi là tính trong suốt về mạng.
Lợi thế về thời gian đưa ra thị trường
Một ứng dụng, là một người dùng của máy chủ liên hợp dữ liệu, có thể giao tiếp
với chỉ một nguồn dữ liệu ảo. Nếu không sử dụng mẫu liên hợp, ứng dụng đó phải
tương tác với nhiều nguồn riêng lẻ thông qua các giao diện khác nhau và các giao
thức khác nhau. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng việc sử dụng mẫu liên hợp dữ
liệu giúp làm giảm đáng kể thời gian phát triển khi phải tích hợp nhiều nguồn.
Xem phần Tài nguyên để biết thêm thông tin.
Giảm chi phí phát triển và bảo trì
Những người dùng tiềm năng có thể cần thông tin tích hợp giống nhau hay
tương tự. Theo cách tiếp cận, mỗi người dùng có cách thực hiện của riêng mình để
tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Một cách khác là, khung nhìn tích
hợp được phát triển một lần và nó được sử dụng nhiều lần và được bảo trì ở một
nơi duy nhất, như thế tạo ra một điểm thay đổi duy nhất. Cách tiếp cận này làm
giảm các chi phí phát triển và bảo trì.
Lợi thế về hiệu năng
Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện mẫu liên hợp dữ liệu với sự tập trung cụ
thể vào công nghệ xử lý dữ liệu tiên tiến đã chứng tỏ các đặc tính hiệu năng cao
hơn so với phương pháp tổng hợp thông tin truyền thống (xem phần Tài nguyên để
biết thêm thông tin). Nhờ sử dụng các khả năng xử lý truy vấn tiên tiến, máy chủ

sản truyền thống, thời gian, công sức và chi phí liên quan đến việc tích hợp có thể
vượt quá lợi nhuận kinh doanh. Khi được thực hiện trong một môi trường dựa trên
dịch vụ, một cách tiếp cận các dịch vụ thông tin dựa trên-mẫu có thể nâng cao các
đặc tính tái sử dụng của hệ thống theo thời gian.
Các dịch vụ thông tin là phần cốt lõi của SOA. Những dịch vụ thông tin như vậy
cung cấp quyền truy cập CRUD (Create-Read-Update-Delete: Tạo-Đọc-Cập nhật-
Xóa) vào các thông tin miền ứng dụng. Chúng cũng làm lộ diện các khả năng xử lý
thông tin như là các kết quả của các thuật toán phân tích và tính điểm, các quy tắc
làm sạch dữ liệu, v.v. Với mục đích của bài này, chúng tôi sẽ tập trung vào các
dịch vụ tích hợp thông tin để cung cấp một khung nhìn thống nhất về dữ liệu,
thường liên quan đến việc tích hợp một mảng khó hiểu các nguồn dữ liệu tầng sau
khác nhau và các dịch vụ.
Khi áp dụng mẫu liên hợp dữ liệu, chúng ta cần phân biệt giữa hai bối cảnh, bối
cảnh không-SOA, truyền thống được giải quyết bằng nhiều ứng dụng trước đây và
bối cảnh SOA là trọng tâm của bài này. Điều quan trọng cần lưu ý rằng SOA là
một cách tiếp cận kiến trúc dẫn đến các dịch vụ tái sử dụng, mở rộng khả năng của
các việc thực hiện không-SOA hiện có trong nhiều trường hợp.
Bối cảnh truyền thống
Trong bối cảnh mà chúng ta gọi là truyền thống, một ứng dụng tạo báo cáo trong
một ngân hàng có thể cần phân tích các giao dịch thẻ tín dụng. Khi xem xét khối
lượng của dữ liệu này có hàng triệu giao dịch mỗi ngày để lưu trữ tất cả thông
tin này trong kho phân tích thật không hiệu quả. Nhiều dữ liệu cũ hơn rất ít được
truy cập, như là thông tin về ngữ cảnh nhất định, chẳng hạn như là một hành trình
bay. Việc lưu trữ tất cả dữ liệu giao dịch thẻ tín dụng cả hiện tại và đã cũ, cả cốt
lõi và chỉ liên quan trong kho đều có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu năng. Một giải
pháp tốt hơn là tách riêng hai kiểu dữ liệu: dữ liệu thường hay sử dụng, các giao
dịch thẻ tín dụng gần đây hơn thì lưu trữ vào một kho trong khi thông tin cũ hơn
thì lưu trữ vào các băng từ chẳng hạn. Tuy nhiên, ứng dụng tạo báo cáo không cần
biết rõ về việc phân phối dữ liệu này, vì chúng có thể được cung cấp thông qua
cách tiếp cận liên hợp dữ liệu.

có thể truy cập thông tin tích hợp thông qua một giao diện dịch vụ như WSDL và
HTTP/SOAP hoặc các kết buộc đã được chấp thuận khác. Để tích hợp, máy chủ
liên hợp dữ liệu có thể tiêu thụ các dịch vụ do nhiều nguồn thông tin cung cấp.
Ý nghĩ phía sau việc sử dụng mẫu liên hợp dữ liệu trong bối cảnh SOA là sử dụng
và sử dụng lại thông tin tích hợp, có nghĩa là, các dịch vụ tích hợp thông tin theo
cách có thể mở rộng cho nhiều người dùng. Việc mô hình hóa và định nghĩa các
dịch vụ là một khía cạnh quan trọng của SOA. Cách thực hành tốt nhất đã được
thừa nhận phổ biến là thiết kế các dịch vụ sao cho chúng cung cấp việc tái sử dụng
và/hoặc tính tương thích trên toàn doanh nghiệp và/hoặc hỗ trợ quy trình nghiệp vụ
về thông tin hoặc chức năng. Rất nhiều nếu như không phải là hầu hết các dự án
SOA thành công đều tập trung trước hết vào chức năng nghiệp vụ quan trọng nhất,
sử dụng rộng rãi nhất được trưng ra như là các dịch vụ. Do vai trò then chốt của
các dịch vụ này, nên chúng thường bao trùm nhiều hệ thống tầng sau. Vì thế, việc
thu thập thông tin từ nhiều nguồn không đồng nhất là một yêu cầu và khả năng
quan trọng mà SOA phải dựa vào. Dịch vụ không phải là một truy vấn như trong
bối cảnh truy cập dữ liệu truyền thống, mà đúng hơn nó là một yêu cầu đối với một
thực thể (hoặc các thực thể) nghiệp vụ, có thể do dịch vụ liên hợp thực hiện thông
qua một loạt các truy vấn và các dịch vụ khác.

Hình 2. Mẫu liên hợp dữ liệu trong một bối cảnh SOA

Việc tạo nên các dịch vụ tích hợp thông tin trong SOA đòi hỏi chức năng bổ sung
chứa đựng quyền truy cập liên hợp trong một giao diện hướng-dịch vụ. Việc này
được thực hiện thông qua thành phần Information Service Enablement (Hỗ trợ dịch
vụ thông tin). Mục đích của thành phần này là thể hiện các truy vấn liên hợp nhất
định trong một giao diện hướng-dịch vụ. Ví dụ, có thể viết một truy vấn liên hợp
bằng SQL và có thể xác định quyền truy cập vào thông tin sản phẩm. Thông qua
thành phần Information Service Enablement, truy vấn liên hợp này có thể xuất hiện
như là một dịch vụ do SCA hoặc WSDL định nghĩa, chẳng hạn. Sau đó có thể chia
sẻ dịch vụ này để thực hiện quyền truy cập vào dữ liệu sản phẩm trong toàn doanh

Hình 3. Truy cập giao diện không đồng nhất

Về đầu trang
Các mục tiêu của giải pháp
Như mô tả trong phần đặt vấn đề, mục tiêu của giải pháp này là tránh dư thừa dữ
liệu trong khi cung cấp một khung nhìn tích hợp trên các nguồn không đồng nhất.
Máy chủ liên hợp dữ liệu đó là, thành phần thực hiện mẫu liên hợp dữ liệu
phải cung cấp các giao diện truy vấn chuẩn cho bối cảnh SOA không truyền thống.
Điều này bảo đảm rằng rất nhiều các ứng dụng cơ sở dữ liệu truyền thống có thể
tiêu dùng dữ liệu liên hợp. Máy chủ liên hợp cũng phải cung cấp khả năng tối ưu
hóa truy vấn để đáp ứng yêu cầu một cách hiệu quả nhất. Sự phân tán và tính đa
dạng của dữ liệu trong bối cảnh này đòi hỏi chú trọng nhiều vào cách chuyển dịch
truy cập tốt nhất vào khung nhìn tích hợp và cách phân tích và phân phối tải công
việc. Khi hỗ trợ truy cập ghi vào khung nhìn tích hợp, máy chủ liên hợp phải đồng
bộ hóa thao tác dữ liệu trong các nguồn khác nhau thành một đơn vị công việc
logic. Điều này bảo đảm đáp ứng được tiêu chuẩn nguyên tử, nhất quán, cô lập và
độ bền (ACID) cho các giao dịch và tuân thủ tính toàn vẹn tham chiếu.
Ngoài những mục tiêu trên để giải quyết bối cảnh truyền thống này, cách tiếp cận
này phải vừa vặn trong một SOA. Điều này sẽ cho phép rất nhiều người dùng trong
và ngoài doanh nghiệp sử dụng lại có hiệu quả (các) khung nhìn tích hợp. Những
người dùng tiềm năng của truy cập liên hợp trong một SOA là các ứng dụng, các
cổng thông tin và các hoạt động trong một quy trình nghiệp vụ cần truy cập vào
thông tin phân tán. Ví dụ, một nhà sản xuất có thể định nghĩa một dịch vụ để lấy ra
thông tin kiểm kê thời gian thực từ các nguồn không đồng nhất. Sau đó, các ứng
dụng nội bộ cũng như các ứng dụng của các đối tác kinh doanh bên ngoài truy cập
vào dịch vụ tương tự, sử dụng một cách thực hiện nhất quán và hiệu quả nhất của
truy cập liên hợp này.
Về đầu trang
Mô tả giải pháp
Trong cả bối cảnh truyền thống cũng như bối cảnh SOA, máy chủ liên hợp dữ liệu

Máy chủ liên hợp dữ liệu nhận một yêu cầu hướng đến khung nhìn tích hợp. Theo
định nghĩa ánh xạ, máy chủ liên hợp chia nhỏ truy vấn liên hợp thành nhiều hoạt
động con. Có nhiều phần tử ảnh hưởng đến bước này:
 Dữ liệu cần thiết để đáp ứng truy vấn liên hợp lưu trú ở đâu?
 Những hoạt động nào cần thiết để chuyển đổi các biểu diễn không đồng nhất
của các nguồn, như các kiểu dữ liệu khác nhau, hay như mô hình chuẩn hóa
so với mô hình không chuẩn hóa chẳng hạn, thành khung nhìn tích hợp
chung?
Máy chủ liên hợp sử dụng thông tin ánh xạ để giải quyết những câu hỏi này. Có
một số các yếu tố khác, ảnh hưởng đến việc xử lý truy vấn liên hợp cần có thông
tin, vượt ra ngoài đặc tả ánh xạ như là:
 Các hệ thống quản lý các nguồn dữ liệu hỗ trợ những hoạt động nào và máy
chủ liên hợp phải bù đắp cho những hoạt động nào nữa?
 Những hệ quả hiệu năng là gì khi thực hiện một tập hợp các hoạt động trong
các nguồn so với máy chủ liên hợp? Máy chủ liên hợp nên ủy thác các hoạt
động nào cho các nguồn để khai thác tốt hơn các khả năng của các nguồn, để
giảm chuyển tải dữ liệu và để tối ưu hóa hiệu năng tổng thể?
Câu trả lời cho những câu hỏi trên đòi hỏi phải có kiến thức về hệ thống nguồn và
các khả năng xử lý truy vấn của nó. Để giải quyết câu hỏi về khả năng xử lý truy
vấn, máy chủ liên hợp cũng phải sử dụng rất nhiều thông tin về môi trường vận
hành cũng như các số liệu thống kê về các cơ sở dữ liệu nguồn.
Một khi máy chủ liên hợp đã xác định chiến lược tốt nhất để thực hiện tất cả các
hoạt động con, nó sẽ kết nối với các nguồn dữ liệu thông tin có cấu trúc và
không có cấu trúc để lấy ra dữ liệu có liên quan và nhiều khả năng sẽ sử dụng
giao diện đặc trưng của các nguồn ấy. Theo kế hoạch thực hiện truy vấn tổng thể,
các hoạt động con sau đó sẽ được áp dụng vào các nguồn. Máy chủ liên hợp thu
nhận và tổng hợp kết quả đó thành kết quả của khung nhìn tích hợp, rồi trả kết quả
cho người dùng.
Trong bối cảnh SOA, người dùng gửi lên một yêu cầu theo một định dạng yêu cầu
đã định sẵn tới máy chủ liên hợp. Máy chủ liên hợp chuyển đổi yêu cầu này thành

yêu cầu không chức năng và các quyết định kiến trúc.
Tất cả đặc điểm của các yêu cầu không chức năng đều áp dụng cho cả bối cảnh
không-SOA truyền thống cũng như bối cảnh SOA. Chúng bao gồm:
Bảo mật dữ liệu
Chỉ những người dùng và các ứng dụng có các ủy quyền thích hợp trong các nguồn
tích hợp mới được phép truy cập khung nhìn tích hợp. Điều này có thể bị hạn chế
hơn nữa. Một trong những lý do chính để áp dụng mẫu này là sử dụng các hệ thống
nguồn hiện có với dữ liệu và các khả năng của chúng. Kết quả là, các kiến trúc sư
thường cũng có ý định sử dụng các cơ chế bảo mật hiện tại như xác thực và cấp
quyền của các hệ thống nguồn. Do bản chất không đồng nhất và phân tán của môi
trường này, nên có một số vấn đề liên quan đến việc đăng nhập một lần duy nhất
và kiểm soát truy cập chung có thể phát sinh nằm ngoài phạm vi của mẫu liên hợp
dữ liệu. Để giải quyết những vấn đề này, các kiến trúc sư sẽ cần kết hợp mẫu liên
hợp dữ liệu với các mẫu liên quan đến bảo mật.
Độ trễ của dữ liệu
Mẫu liên hợp dữ liệu cho phép truy cập tích hợp, thời gian thực tới các nguồn có
mức lưu hành dữ liệu cao nhất.
Tính dễ thay đổi của dữ liệu nguồn
Do việc truy cập thời gian thực tới nguồn dữ liệu khi nhận được yêu cầu chuyển
đến khung nhìn tích hợp, nên liên hợp dữ liệu sẽ luôn luôn trả về thông tin nguồn
mới nhất. Do mẫu liên hợp dữ liệu không tạo ra các bản sao của dữ liệu nguồn, nên
các thay đổi của nguồn đã không được lan truyền hay xử lý theo cách tiếp cận này.
Chất lượng và tính nhất quán của dữ liệu
Với sự gia tăng thường xuyên về việc làm sạch dữ liệu phức tạp, các hoạt động tiêu
chuẩn hóa và chuyển đổi cần được thực hiện, nên xác suất của một ảnh hưởng tiêu
cực đến thời gian đáp ứng tổng thể tăng lên. Điều này là do bản chất đáp ứng đồng
bộ, thời gian thực với các yêu cầu trong mẫu liên hợp dữ liệu. Khi đáp ứng với một
truy vấn tích hợp, bất kỳ sự chuyển đổi tăng thêm nào sẽ đều có nghĩa là tải công
việc tăng thêm. Cách thực hành tốt nhất là giảm thiểu sự phức tạp và số lượng các
chuyển đổi trường bắt buộc.

Có nhiều yêu tố quyết định thời gian đáp ứng giao dịch, gồm:
 Độ phức tạp của truy vấn liên hợp: để thực hiện truy vấn máy chủ liên hợp
cần thực hiện bao nhiêu hoạt động con như lọc, nối, sắp xếp và v.v.
 Các khả năng xử lý và tối ưu hóa truy vấn của máy chủ liên hợp dữ liệu:
thiết kế máy chủ liên hợp để nhận một truy vấn liên hợp, chia nhỏ nó thành
các hoạt động con và tối ưu hóa nó tinh vi đến mức nào, chẳng hạn, trước
tiên áp dụng một hoạt động con nào đó như là bộ lọc để rút gọn tập hợp dữ
liệu rồi thực hiện các hoạt động con khác như sắp xếp.
 Khối lượng dữ liệu: Khối lượng dữ liệu càng lớn, mỗi hoạt động con càng
dài nên truy vấn đầy đủ cũng sẽ kéo dài.
 Băng thông mạng: Thông lượng của một kết nối mạng giữa máy chủ liên
hợp và một nguồn ảnh hưởng đến việc máy chủ liên hợp có thể truy cập
nguồn nhanh đến mức nào và do đó cũng ảnh hưởng đến thời gian đáp ứng
tổng thể của truy vấn liên hợp.
 Sử dụng CPU: Những khác biệt trong việc sử dụng tài nguyên của các máy
tính có máy chủ liên hợp và các nguồn dữ liệu chạy trên đó chắc chắn phải
tác động đến việc thực hiện các hoạt động con của truy vấn liên hợp tổng thể
tại máy chủ liên hợp so với tại nguồn, nếu có thể.
 Các khả năng xử lý truy vấn tại các máy chủ nguồn: một số máy chủ nguồn
dữ liệu có những đặc tính riêng và những hạn chế riêng về cách chúng xử lý
và tối ưu hóa các truy vấn có ảnh hưởng đến hiệu năng tổng thể.
 Khả năng của máy chủ liên hiệp để nhận biết các chiến lược truy vấn tối ưu
cho mỗi nguồn dữ liệu: nếu máy chủ liên hợp nhận biết các khả năng xử lý
truy vấn của các máy chủ nguồn, nó có thể xác định kiểu các hoạt động con
nào cần ủy thác và các hoạt động con nào cần thực hiện ở tầng máy chủ liên
hợp.
Thời gian đáp ứng của một truy vấn vào một cơ sở dữ liệu ảo, do mẫu liên hợp dữ
liệu thực hiện lấy dữ liệu từ các nguồn phân tán có thể chậm hơn so với truy
vấn tương tự vào một cơ sở dữ liệu vật lý duy nhất với các khả năng tương tự. Sự
chênh lệch về thời gian đáp ứng sẽ khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố được liệt kê

thông tin tích hợp như là các dịch vụ, các nhà phát triển cũng sẽ cần hiểu các khái
niệm, các tiêu chuẩn và các công nghệ SOA.
Khả năng tái sử dụng
Có thể sử dụng lại logic định nghĩa truy cập và tổng hợp dữ liệu trên các dự án
khác nhau.
Chi phí bảo trì nhiều nguồn dữ liệu
Liên hợp dữ liệu không làm giảm chi phí bảo trì nhiều nguồn dữ liệu nhưng có thể
đạt được các lợi ích lớn hơn do việc tích hợp và sử dụng lại các nguồn dữ liệu hiện
có.
Chi phí phát triển
Chi phí này tương đối rẻ nếu sử dụng các công cụ liên hợp loại tốt nhất, giả sử đã
có sẵn một cơ sở hạ tầng máy chủ liên hợp.
Kiểu các mô hình đích
Bài này đã tập trung vào liên hợp dữ liệu có cấu trúc. Ngày nay, mô hình phổ biến
nhất là mô hình quan hệ với tiêu chuẩn SQL. XML và XQuery là các tiêu chuẩn
mới nổi vì được chọn dùng ngày càng nhiều trong quản lý thông tin. Nhiều việc
thực hiện mẫu liên hợp dữ liệu thường hỗ trợ ít nhất một trong những mô hình đó,
đôi khi là cả hai. Hầu hết các việc thực hiện mẫu liên hợp dữ liệu đều tập trung
tương đối mạnh vào một mô hình hoặc một số rất ít mô hình trong số các mô
hình đích để xử lý các yêu cầu có hiệu quả nhất.
Đơn vị công việc logic và phân phối có bảo đảm
Trong kiến trúc tham khảo SOA của IBM một bus dịch vụ doanh nghiệp (ESB -
Enterprise Service Bus) là một thành phần quan trọng của cơ sở hạ tầng. Một trong
những trách nhiệm của ESB là tạo ra sự phân phối dữ liệu có bảo đảm. Do tính
phức tạp của việc phối hợp một đơn vị công việc logic, chẳng hạn như thông qua
giao thức cam kết hai giai đoạn trong một môi trường liên hợp, nên không phải tất
cả mọi việc thực hiện mẫu liên hợp dữ liệu đều hỗ trợ chức năng này. Khi sử dụng
các máy chủ liên hợp có hỗ trợ chức năng này, cần phân tích kỹ lưỡng các máy chủ
liên hợp về chiến lược khóa cơ sở dữ liệu của chúng để tránh ảnh hưởng tiêu cực
đến hiệu năng của các hệ thống nguồn.

đến khung nhìn tích hợp. Ví dụ, phạm vi càng rộng, số lượng các thuộc tính cần
được truy cập càng lớn, thì càng mất nhiều thời gian để nhận biết các phần tử
tương ứng.
Ảnh hưởng của tải công việc của máy chủ liên hợp (khối lượng giao dịch) đến các
nguồn
Với mỗi yêu cầu nhận được, máy chủ liên hợp chuyển tiếp các hoạt động con đến
các hệ thống nguồn. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc sử dụng tài nguyên tại
các hệ thống nguồn khi chúng cần đáp ứng với các hoạt động con từ máy chủ liên
hợp. Máy chủ liên hợp nhận được càng nhiều yêu cầu, thì sẽ càng gửi nhiều hoạt
động con tới các nguồn tích hợp.
Về đầu trang
Kết luận
Chúng tôi đã mô tả mẫu liên hợp dữ liệu như là một cách tiếp cận đến các hoạt
động dữ liệu dựa trên một khung nhìn (ảo) tạm thời và tích hợp, ở đây dữ liệu thực
được lưu trữ trong nhiều nguồn đa dạng. Trong bài này, chúng tôi đã tập trung chủ
yếu vào bối cảnh SOA. Chúng tôi sẽ kết luận bằng cách tóm tắt khi nào áp dụng và
khi nào không áp dụng mẫu liên hợp dữ liệu và liệt kê những hạn chế quan trọng.
Các lĩnh vực trọng tâm để áp dụng mẫu liên hợp dữ liệu
 Khi thời gian đưa ra thị trường là một trong những ưu tiên phát triển hàng
đầu, liên hợp dữ liệu cung cấp quyền truy cập vào các nguồn thông tin một
cách nhanh chóng mà không cần các thay đổi cơ sở hạ tầng quản lý thông tin
dài dòng.
 Liên hợp dữ liệu hỗ trợ các yêu cầu về nhân bản và sao chép dữ liệu bằng
cách cho phép truy cập vào dữ liệu khi nó lưu trú trong nguồn. Những yêu
cầu này có thể đáp ứng với các quy định hoặc các quy tắc hạn chế di chuyển
hoặc nhân bản dữ liệu, ví dụ như dữ liệu thuê bao hoặc việc trộn lẫn thông
tin cá nhân từ các nước khác nhau.
 Truy cập thời gian thực tới thông tin phân tán như thể từ một nguồn duy
nhất. Thông tin có thể là dữ liệu có cấu trúc và dữ liệu không có cấu trúc.
 Cách tiếp cận tích hợp thông tin linh hoạt và có thể mở rộng cho một môi

nhà cung cấp về khả năng lưu trữ trong bộ nhớ đệm, sự hiểu biết các nguồn
dữ liệu không đồng nhất và đề ra các truy vấn liên hợp và đường dẫn thi
hành tối ưu.
 Truy cập đọc-viết vào các nguồn thông tin khác nhau - đặc biệt khi phối hợp
một đơn vị công việc logic - bị hạn chế bởi các hỗ trợ riêng của nhà cung
cấp.
Về đầu trang
Bản đồ sản phẩm
Các sản phẩm sau đây của IBM thực hiện mẫu này:
 InfoSphere Federation Server cho phép các ứng dụng liên hợp dữ liệu giữa
các nguồn trên nền tảng phân tán (LINUX / UNIX / WINDOWS). Thông
qua một giao diện SQL, những người dùng có thể truy cập các thông tin liên
hợp từ nhiều nguồn dữ liệu như Netezza, Teradata, Informix, Oracle, SQL
Server, DB2 cho tất cả các nền tảng (LUW, i, z/OS), Microsoft Excel, các
tệp XML, v.v. Cũng có thể kết hợp sản phẩm này với hai sản phẩm sau đây
để tổng hợp dữ liệu có cấu trúc, không có cấu trúc và các tài sản có giá trị từ
các nền tảng máy tính lớn.
 InfoSphere Classic Federation Server for z/OS cung cấp một giao diện SQL
thông qua nhiều nguồn dữ liệu trên máy tính lớn, chẳng hạn như DB2®,
IMS, VSAM, IDMS, Adabas, v.v. Một trong những khả năng quan trọng của
sản phẩm này là ánh xạ cấu trúc dữ liệu của máy tính lớn vào mô hình quan
hệ mà không cần viết mã, do đó các nhà phát triển có ít kiến thức về máy
tính lớn có thể truy cập dữ liệu máy tính lớn một cách linh hoạt và có hiệu
quả.
 InfoSphere Information Services Director thể hiện các khả năng quản lý
thông tin như là các dịch vụ. Nó đóng gói logic tích hợp thông tin, các quy
tắc làm sạch, truy cập thông tin v.v như là các dịch vụ. Điều này cách ly nhà
phát triển ra khỏi nhà cung cấp bên dưới của chức năng này. Điều liên quan
nhất tới bài viết này là khả năng của sản phẩm này trưng ra một truy cập liên
hợp thông qua một giao diện hướng dịch vụ như EJB, JMS hoặc các dịch vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status