1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Một số giải pháp hoàn thiện công
tác quản lý tài chính ở công ty cổ phần đầu
tư và phát triển công nghệ Phương Nam”
2
MỤC LỤC
5.3. Quản lý vốn. 25
5.3.1. Quản lý vốn lưu động. 25
5.3.2. Quản lý vốn cố định ( Vốn đầu tư dài hạn). 27
5.3.3. Quản lý vốn đầu tư tài chính. 27
5.4. Phân tích tài chính doanh nghiệp. 27
5.4.1. Ý nghĩa của phân tích tài chính 28
5.4.2. Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp. 28
5.4.3. Phương pháp và nội dung phân tích tài chính. 29
5.4.4. Các thông số tài chính. 30
5.5. Các quyết định đầu tư tài chính. 35
6. Bộ máy quản lý tài chính doanh nghiệp. 36
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ PHƯƠNG NAM. 38
I. GIỚI THIỆU CHUNG VÊ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ PHƯƠNG NAM. 38
1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty. 38
2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty 39
3. Cơ cấu tổ chức của công ty. 41
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ PHƯƠNG NAM. 44
1.Quá trình hoạch định tài chính của công ty. 44
2. Công tác kiểm tra tài chính. 46
3. Quản lý vốn . 48
3.1. Quản lý vốn lưu động. 48
3.1.1. Quản lý vốn tiền mặt. 48
3.1.2.Quản lý công nợ. 50 4
5
3. Hoàn thiện quản lý vốn lưu động. 84
II. KIẾN NGHỊ. 86
1.Một số kiến nghị với Nhà nước 86
1.1.Ban hành, bổ sung và sửa đổi các chính sách, quy định hiện
hành liên quan đến doanh nghiệp và thực hiện có hiệu quả luật
doanh nghiệp. 86
1.2. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thuế theo hướng phù hợp. 87
1.3. Tiếp tục hoàn thiện chính sách tài chính, tín dụng và vốn. 88
1.4. Hoàn thiện chính sách đất đai. 89
1.5. Về chính sách công nghệ. 90
1.6. Tiếp tục mở rộng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế cho các
doanh nghiệp. 91
1.7. Kiện toàn hệ thống tổ chức, quản lý các doanh nghiệp. 91
2. Một số kiến nghị với công ty cổ phần đầu tư và phát triển công
nghệ Phương Nam. 92
2.1. Công ty cần phải xem xét lại bộ máy quản lý tài chính của
công ty . 93
2.2. Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm thích
hợp. 94
2.3. Lựa chọn, tìm kiếm nguồn tài trợ vốn phù hợp, cơ cấu vốn hợp
lý và tăng cường sử dụng vốn có hiệu quả. 94
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
6
LỜI MỞ ĐẦU
phần đầu tư và phát triển công nghệ Phương Nam.
Chương III. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính
ở công ty cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Phương Nam.
Do thời gian thực tập hạn hẹp và trình độ, chuyên môn còn hạn chế nên
bài chuyên đề tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được
sự góp ý của thầy PGS.TS Phan Kim Chiến và các thầy cô trong khoa để bài
chuyên đề tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! 8
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1. Tài chính doanh nghiệp
1.1. Khái niệm
Khi nhắc đến tài chính trong doanh nghiệp, người ta thường liên hệ nó
với công việc kế toán, tức là ghi sổ sách, tính toán sổ sách và lập các biểu
bảng báo cáo tài chính. Đó là nhận thức sai lầm về khái niệm tài chính.
Khái niệm tài chính, hiểu theo nghĩa thông thường thì đó là những hoạt
động huy động vốn, sử dụng, phát triển và quản lý tiền vốn. Có nghĩa là
doanh nghiệp cần tích luỹ vốn, sau đó đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh
doanh làm số tiền đó tăng lên - tức là tiền sinh tiền. Từ đó, doanh nghiệp có
được lợi nhuận thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nhà
doanh nghiệp không được hưởng toàn bộ lợi nhuận này mà phải phân phối
một phần cho ngân sách nhà nước, nhân viên và cả nội bộ doanh nghiệp.
Những hoạt động nói trên đã hình thành nên tài chính doanh nghiệp.
Dưới góc độ quản lý thì tài chính là hoạt động huy động, sử dụng, sắp
xếp, phân phối vốn và là các mối quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các
• Thị trường tiền tệ: thông qua các hệ thống ngân hàng, Doanh nghiệp
có thể tạo được nguồn vốn ngắn hạn và trung hạn để tài trợ cho mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp phải mở tài
khoản tại một ngân hàng nhất định và thực hiện các giao dịch mua bán qua
chuyển khoản.
• Thị trường vốn: thông qua thị trường này các doanh nghiệp có thể tạo
được nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hành chứng khoán của công ty như
cổ phiếu, kỳ phiếu,… Mặt khác, doanh nghiệp có thể tiến hành kinh doanh 10
chứng khoán trên thị trường này để kiếm lời.
Quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các thị trường khác.
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh
nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Tại
các thị trường này doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà
xưởng, tìm kiếm lao động, v.v… Thông qua đây, doanh nghiệp còn có thể xác
định lượng nhu cầu hàng hoá, và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó,
doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm
thoả mãn nhu cầu thị trường.
Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Bao gồm các mối quan hệ tài chính như:
• Quan hệ của những doanh nghiệp mẹ và doanh nghiệp con.
• Quan hệ của những doanh nghiệp với người hoặc nhóm người có
khả năng chi phối ra quyết định, hoạt động của doanh nghiệp đó thông qua
các cơ quan quản lý doanh nghiệp.
• Quan hệ của những doanh nghiệp với quản lý doanh nghiệp.
• Quan hệ của những doanh nghiệp với người lao động.
Các mối quan hệ này được biểu hiện thông qua chính sách tài chính của
doanh nghiệp như sau:
- Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất, định chức mức tiêu chuẩn để xác định
nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh.
- Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn.
Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp phải huy động
thêm vốn ( tìm nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng đảm bảo có
hiệu quả).
Nếu nhu cầu nhỏ hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp có thể mở rộng
sản xuất hoặc tìm kiếm thị trường để đầu tư mang lại hiệu quả. 12
- Lựa chọn nguồn vốn và phân phối sử dụng vốn hợp lý để sao cho với
số vốn ít nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất.
2.2. Chức năng phân phối thu nhập của tài chính doanh nghiệp
Thu nhập bằng tiền từ bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ, lợi tức
cổ phiếu, lãi cho vay, thu nhập khác của doanh nghiệp được tiến hành phân
phối như sau:
Bù đắp hao phí vật chất, lao động đã tiêu hao trong quá trình sản xuất
kinh doanh bao gồm:
- Chi phí vật tư như nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực, công cụ lao
động nhỏ,…
- Chi phí khấu hao tài sản cố định.
- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền (kể cả các khoản
thuế gián thu).
Phần còn lại là lợi nhuận trước thuế được phân phối tiếp như sau:
- Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định ( hiện nay tính bằng
28% trên thu nhập chịu thuế).
- Bù lỗ năm trước không được trừ vào lợi nhuận trước thuế (nếu có).
- Nộp thuế vốn (nếu có).
động kinh doanh nên tài chính doanh nghiệp còn phải chịu sự chi phối bởi các
mục tiêu và phương hướng kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp. Nhưng
đến lượt mình, tài chính doanh nghiệp lại có tác động theo hướng thúc đẩy
hay kìm hãm hoạt động kinh doanh. Trên góc độ này, tài chính doanh nghiệp
được xem là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong quản lý
kinh doanh.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện qua các mặt sau: 14
Tổ chức huy động và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính
có hiệu quả.
Đối với một doanh nghiệp, vốn là yếu tố vật chất cho sự tồn tại và phát
triển. Do vậy, vấn đề tổ chức huy động và phân phối sử dụng sao cho có hiệu
quả trở thành nhiệm vụ rất quan trọng đối với công tác quản lý tài chính
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, vốn cũng là một loại hàng hoá,
cho nên việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đều phải trả giá một khoản chi
phí nhất định. Vì thế, doanh nghiệp cần phải chủ động xác định nhu cầu vốn
cần huy động, từ đó có kế hoạch hình thành cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho hoạt
động kinh doanh một cách hiệu quả.
Song song với quá trình huy động vốn, đảm bảo vốn tài chính doanh
nghiệp còn có vai trò tổ chức phân phối sử dụng để đạt hiệu quả kinh doanh
cao nhất – đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp
trong quá trình cạnh tranh “khắc nghiệt” theo cơ chế thị trường trong kinh
doanh, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn được biểu hiện ra là:
Về mặt kinh tế: lợi nhuận tăng,vốn của doanh nghiệp không ngừng
được bảo toàn và phát triển.
Về mặt xã hội: các doanh nghiệp không chỉ làm tròn nghĩa vụ của
mình đối với Nhà nước mà còn không ngừng nâng cao mức thu nhập của
người lao động.
đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguốn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về
khả năng sinh lời,… Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép
doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm
lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cụ thể:
Đảm bảo cung ứng đủ vốn cho quá trình kinh doanh. 16
Sử dụng vốn có hiệu quả.
Giảm thấp chi phí kinh doanh và giá thành sản phấm.
Nâng cao tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính dựa trên quy luật vận động vốn, đồng thời cần tuân
thủ theo quy định pháp luật. Thực hiện dự đoán, lên kế hoạch, giám sát, hạch
toán và phân tích sự hình thành vốn, sử dụng và phân phối vốn. Nâng cao
hiệu quả vận động vốn, thực hiện công tác quản lý bảo đảm vốn được gia
tăng.
Thực chất của quản lý tài chính là quản lý mang tính tổng hợp những
hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp bằng cách vận dụng hình
thức giá trị.
2. Mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau
như: tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi
nhuân, tối đa hoá hoạt động hữư ích của các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp…Song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm một mục tiêu bao trùm
nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu hay tối đa hoá tài sản
doanh nghiệp.
Tối đa hoá tài sản doanh nghiệp cũng còn gọi là tối đa hoá giá trị doanh
nghiệp là chỉ doanh nghiệp áp dụng chính sách tài chính tối ưu để không
cao. Muốn làm cho vốn doanh nghiệp tăng nhanh, doanh nghiệp cần phải giữ
được mức doanh lợi tương đối cao nhưng phải là lãi thật. Khi lợi nhuận ngắn
hạn và lợi nhuận lâu dài có xung đột, nhà kinh doanh phải tính toán và đánh
giá tầm quan trọng của hai loại lợi nhuận này, từ đó lựa chọn phương án có
lợi hơn cho việc gia tăng giá trị doanh nghiệp. Đặc biệt là đối với sự phân 18
chia lợi nhuận. Mục tiêu tối đa hoá tài sản doanh nghiệp sẽ làm cho nhà đầu
tư, cổ đông và nhà kinh doanh thận trọng khi lựa chọn những chính sách phân
chia có thể giúp công ty duy trì được thực lực phát triển lâu dài, đồng thời
tránh được những chính sách ngắn hạn “ăn hết chia sạch”.
Tóm lại, mục tiêu tối đa hoá tài sản có thể chỉ đạo nhà quản lý tài
chính cân nhắc lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, quan tâm đến quyền lợi
của nhà đầu tư và của chủ doanh nghiệp. Phân tích chi tiết, cụ thể quan hệ
giữa các mức độ rủi ro và thù lao làm cho kết cấu doanh nghiệp được tổ hợp
tốt nhất, giá trị doanh nghiệp đạt mức độ cao nhất.
3.Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp.
Tình hình tài chính doanh nghiệp lành mạnh là một trong những điều
kiện tiên quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách
nhịp nhàng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Sự lành mạnh đó có được hay không
phụ thuộc phần lớn vào khả năng quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Trong các hoạt động quản lý của doanh nghiệp thì quản lý tài chính
luôn giữ một vị trí quan trọng. Nó quyết định tính độc lập, sự thành công của
một doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Đặc biệt trong môi trường kinh
doanh quốc tế hiện nay, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng diễn ra khốc liệt
trên phạm vi toàn thế giới, thì quản lý tài chính lại càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết.
Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà các nhà quản lý tài chính có thể
chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong kỳ.
động khác của doanh nghiệp. Nếu chúng ta quản lý tài chính tốt có thể khắc
phục được những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác. Một khi công tác
quản lý tài chính doanh nghiệp được tổ chức tốt, nó không chỉ đem lại hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn đem lại lợi ích
kinh tế xã hội trên phạm vi toàn quốc gia. 20
4. Các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp dù nhỏ hay lớn nói chung là
giống nhau, nên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho
các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng
có sự khác biệt nhất định, nên khi áp dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải
gắn với những điều kiện cụ thể.
Một là, Nguyên tắc tôn trọng pháp luật .
Đây là nguyên tắc bắt buộc với mọi loại hình doanh nghiệp. Mục tiêu
mà tất cả các doanh nghiệp theo đuổi là lợi nhuận tối đa, và để đạt được lợi
nhuận tối đa các doanh nghiệp có thể không từ bất kỳ một thủ đoạn nào, kể cả
việc đó gây hại cho quốc gia. Vì vậy, cần phải có sự can thiệp của nhà nước
để diều chỉnh nền kinh tế. Thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như: luật
pháp, các chính sách tài chính, tiền tệ và giá cả Từ đó, nhà nước tạo ra môi
trường kinh doanh để kích thích các doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Hiểu luật
để làm đúng pháp luật đồng thời hiểu luật để doanh nghiệp có thể định hướng
kinh doanh và đầu tư vào những nơi được nhà nước khuyến khích như: giảm
thuế, tài trợ tín dụng.
Hai là, tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào nguyên tắc hạch toán kinh doanh cũng
là nguyên tắc quan trọng nhất quyết định tới sự tồn tại của doanh nghiệp.
Để thực hiện được yêu cầu của nguyên tắc này thì việc tổ chức công tác
tài chính phải hướng vào một số các biện pháp như: chủ động tận dụng khai
hạn cũng như dài hạn nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Các kế
hoạch tài chính có đặc trưng cơ bản là được trình bày bằng đơn vị đo lường
chung là tiền tệ, Vì vậy, hệ thống kế hoạch tài chính đóng vai trò quan trọng,
then chốt của việc lập kế hoạch và kiểm soát của các doanh nghiệp. Các kế
hoạch của doanh nghiệp xác định mục tiêu và những hoặt động cần thực hiện 22
để đạt được mục tiêu. Mọi hoạt động cần phải sử dụng các nguồn lực chung
của doanh nghiệp. Hoạch định tài chính thông qua hệ thống các ngân sách với
khả năng sử dụng đơn vị chúng sẽ dễ dàng, lượng hoá các mục tiêu cụ thể
hoá, và tổng hợp việc sử dụng các nguồn lực.
Do vậy, ngân sách cũng được sử dụng cho mục tiêu kiểm soát, trong đó
thiết lập các tiêu chuẩn, tiếp nhận các thông tin phản hồi về hiệu suất thực tế
và thực hiện các hành động điều chỉnh nếu hiệu suất thực tế lệch nhiều so với
hiệu suất kế hoạch.
5.1.2. Mục tiêu của hoạch định tài chính
Các ngân sách thường được xây dựng cho các bộ phận của tổ chức
(phòng ban, xí nghiệp, đơn vị,…) và cho các hoạt động (bán hàng, sản xuất,
nghiên cứu, Hệ thống các ngân sách này phục vụ cho kế hoạch tài chính của
toàn bộ tổ chức và đem lại cho tổ chức nhiều lợi ích, cụ thể bao gồm:
Thúc đẩy các nhà quản trị lập kế hoạch.
Cung cấp nguồn thông tin để cải thiện việc ra quyết định.
Giúp ích cho việc sử dụng các nguồn lực và quản lý nhân sự thông
qua việc thiết lập tiêu chuẩn dánh giá hiệu suất.
Cải thiện vấn đề truyền thông và hợp tác hoạch định thúc đẩy các
nhà quản trị lập kế hoạch cho tương lai – phát triển định hướng chung cho
toàn bộ tổ chức dự đoán trước các vấn đề và xây dựng chính sách cho tương
lai. Khi các nhà quản trị dành thời gian cho việc lập kế hoạch, họ sẽ nhận ra
các năng lực của tổ chức và biết được nên sử dụng các nguồn lực của tổ chức
Phương pháp lập kế hoạch tài chính
Phương pháp quy nạp: với giả thiết cho rằng kế hoạch tài chính là sự
tổng hợp rất cả các chương trình hoạt động của từng bộ phận, từng cấp của
công ty, việc lập kế hoạch tài chính sẽ thể hiện từ dưới lên, trên cơ sở hệ
thống các ngân sách bộ phận. 24
Phương pháp diễn giải: phương pháp này cho rằng kế hoạch tài chính là
sự chuẩn bị những điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu. Vì vậy, việc lập kế
hoạch tài chính xuất phát từ những mục tiêu tổng quát, ở cấp cao hay từ yêu
cầu của các cổ đông, sau đó, cụ thể hoá thành những ngân sách ở các bộ phận
nhằm thực hiện mục tiêu. Quá trình diễn giải này được kiểm tra lại trên cơ sở
tính hợp lý và cân đối giữa các chương trình.
5.2. Kiểm tra tài chính.
Kiểm tra tài chính là chỉ hoạt động giám sát, kiểm tra trong quá trình
thực hiện kế hoạch tài chính. Kiểm tra tài chính là một hệ thống quá trình hoạt
động, thông thường bao gồm bốn mắt xích:
• Xác lập tiêu chuẩn kiểm tra tài chính, bao gồm tiêu chuẩn chiếm
dụng vốn, tiêu chuẩn chi phí và tiêu chuẩn giá thành.
• Quá trình thực hiện của kế hoạch giám sát tài chính, phát hiện
những khác biệt xa rời tiêu chuẩn và kế hoạch.
• Phân tích nguyên nhân, thiết lập những biện pháp sửa chữa sai lệch
đối với những khác biệt xuất hiện.
• Thực hiện những biện pháp sửa chữa sai lệch hoặc tiến hành hiệu
đính những tiêu chuẩn và kế hoạch.
5.2.1. Đặc điểm của kiểm tra tài chính.
Kiểm tra tài chính là: kiểm tra bằng đồng tiền trong lĩnh vực phân phối
các nguồn tài chính, để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Kiểm tra tài chính là: kiểm tra bằng đồng tiền, thông qua các chỉ tiêu tài
• Kiểm tra qua chứng từ: là phương pháp kiểm tra bằng cách dựa vào
các bảng biểu, báo cáo, sổ sách, số liệu hạch toán thống kê - kế toán…
5.3. Quản lý vốn.
5.3.1. Quản lý vốn lưu động.
Vốn lưu động theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động là