Luận văn
Giải pháp đề xuất để quản
lý nợ công của Việt Nam
trong thời gian tới
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
LỜI MỞ ĐẦU
Chưa bao giờ nền kinh tế thế giới lại phải đối mặt cùng lúc với nhiều vấn
đề nóng hổi như những năm vừa qua. Mở đầu cho 1 chuỗi những biến động đáng
chú ý đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007-2010) mà bắt nguồn của
nó từ Mĩ - đầu tầu của nền kinh tế , tài chính thế giới. Những hệ quả kéo theo sau
đó cho đến hôm nay vẫn đang là những chủ đề kinh tế rất thời sự, còn rất nhiều
vấn đề gây ra nhiều lo ngại, mất rất nhiều thời gian nghiên cứu của các nhà kinh
tế. Và vấn đề nợ công đã trở thành một vấn đề nóng trên toàn cầu, ở tất cả quốc
gia, kể cả nhóm nước đang phát triển và nhóm nước phát triển.
Từ câu chuyện nợ công Hy Lạp cùng một số nước trong khu vực đồng
tiền chung Châu Âu và những bài học kinh nghiệm được rút ra, rồi đến những
cuộc tranh cãi trong thượng- hạ viện Mỹ về nâng trần nợ công đã là một hồi
chuông cảnh báo cho nhiều nước trên thế giới phải có một cái nhìn cẩn trọng về
vấn đề nợ công.
Với việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các vấn đề
kinh tế- tài chính chắc chăn sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt
Nam. Với vị thế là một nền kinh tế trẻ, đang phát triển, có rất nhiều triển vọng
trong tương lai, câu chuyện nợ công đang được xem là một vấn đề nóng bỏng,
được đưa vào nhiều hội nghị, hội thảo kinh tế lớn nhằm giải quyết những khó
khăn còn vướng mắc trong quá trình quản lý nợ tồn tại Việt Nam.
Vì vậy vấn đề nợ công luôn là đề tài cấp thiết cần được làm sáng tỏ thêm qua các
nghiên cứu khoa học. Thông qua cái nhìn trực quan về tình hình thế giới trong
thời gian qua kết hợp với những đánh giá, phân tích có cơ sở khoa học chúng ta
sẽ đưa ra một số dự báo cho chuyển biến tình hình nợ công của các quốc gia trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Từ đó sẽ đưa ra một số khuyến nghị
ý đồ chính trị- kinh tế của những người sử dụng nó. Sự khác biệt giữa các định
nghĩa và nợ công chủ yếu xoay quanh hai khía cạnh có mối liên hệ mật thiết với
nhau: chủ thể vay nợ và trách nhiệm trả nợ.
Một số quan điểm cho rằng nợ công chỉ liên quan tới những khoản mà
chính phủ vay nợ (chính quyền trung ương và chính quyền địa phương). Như
vậy, nợ công chính là các khoản thâm hụt ngân sách của các cấp chính phủ trong
quá khứ trừ đi tổng các khoản thặng dư ngân sách trong quá khứ.Tuy nhiên, định
nghĩa này không phản ánh đầy đủ trách nhiệm trả nợ chính phủ. Chính vì vậy,
xuất hiện quan điểm cho rằng trong khái niệm nợ công cần đưa thêm các khoản
vay nợ của các chủ thể khác trong nền kinh tế nhưng được chính phủ bảo lãnh
thanh toán. Theo cách tiếp cận này, nợ công là nợ của khu vực công.
Khu vực công theo quan niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và được
dùng trong thống kê tài chính chính phủ, được hợp thành bởi chính phủ nói
chung và doanh nghiệp công.
Nếu đồng nhất quan điểm nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, thì
quy mô của nợ công sẽ rất lớn. Điểm mấu chốt ở đây là các doanh nghiệp công
được hiểu như thế nào? Và có nên chấp nhận cách tính tất cả các nghĩa vụ nợ của
các doanh nghiệp công vào nợ công hay không?
Nếu xét trên giác độ mục đích hoạt động của các doanh nghiệp, có thể
thấy rằng chỉ nên đưa vào phạm vi tính nợ công các doanh nghiệp công hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận, và được nhà nước giao nhiệm vụ sản xuất,
cung ứng các hàng hóa công cộng cho nhu cầu xã hội, nhưng có thu được lợi
nhuận, thì nợ của các doanh nghiệp này không nên tổng hợp vào nợ công. Ví dụ
các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng xe bus đã được nhà nước
hỗ trợ cước phí.
Tuy nhiên còn một góc nhìn khác về doanh nghiệp công- theo mức độ sở
hữu về vốn. Theo luật, người nắm giữ phần lớn lượng vốn của một doanh nghiệp
thì có quyền quyết định phương án hoạt động của doanh nghiệp đó và đương
nhiên phải chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề gặp phải. Do đó các doanh
4
niệm về nợ công của Việt Nam là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất
nước. Tuy nhiên, trong thời kì mới, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, tích
cực hội nhập quốc tế thì khái niệm nợ công của nước ta khó có thẻ phù hợp với
thông lệ chung của quốc tế. Và trên thực tế các số liệu thống kê về nợ công của
chính phủ Việt Nam công bố luôn có sự khác biệt so với các số liệu thống kê của
các tổ chức quốc tế.
5
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
Từ các phân tích trên, quan điểm về nợ công của Việt Nam nên có sự thay
đổi để có thể thống nhất, phù hợp theo quan niệm của quốc tế mà các tổ chức tài
chính quốc tế như IMF và WB đang sử dụng trong thống kê tài chính chính phủ
(GFS) bởi một số lý do sau:
Thứ nhất, Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới
(WTO) nên cần áp dụng các chuẩn chung trong thống kê tài chính và so sánh
quốc tế.
Thứ hai, việc phản ánh đầy đủ các nghĩa vụ nợ của khu vực công sẽ giúp
chúng ta chuẩn bị sẵn sàng các phương án xử lý đối với khoản nợ này. Đồng thời
việc công khai minh bạch cả quy mô, nguy cơ tiềm ẩn của nợ công sẽ giúp thức
tỉnh dân chúng chung ta thắt lưng buộc bụng cúng chính phủ. Chỉ có như vậy thì
tiết kiệm mới trở thành quốc sách hàng đầu.
1.1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công
(i) Cân bằng ngân sách cơ bản: khi các khoản thâm hụt ngân sách nhỏ thì
việc đi vay để tài trợ cũng giảm đi.
(ii) Lãi suất thực tế: khi lãi suất thực tế trên thị trường tăng có thể làm cho
các khoản vay trở nên đắt hơn và ngược lại lãi suất giảm khiến các khoản vay rẻ
hơn. Mặt khác lãi suất tăng lên - chi phí đi vay tăng, Chính phủ sẽ gặp khó khăn
hơn trong việc huy động vốn.
(iii) Tốc độ tăng trưởng thực tế: ảnh hưởng không nhỏ đến nợ công. Nền
kinh tế tăng trưởng tốt điều đó có nghĩa việc sử dụng nguồn vốn vay đã đem lại
hiệu quả do đó triển vọng trả được nợ trở nên sáng sủa hơn so với khi nền kinh tế
chẳng hạn Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)… Hình thức vay này thường được chính
phủ của các nước có độ tín cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ
bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao.
Căn cứ vào lãi suất vay nợ có thể phân thành nợ có lãi suất cố định và nợ
có lãi suất thả nổi. Cách phân chia theo chủ thể cho vay hay theo lãi suất giúp
đánh giá chính xác hơn các tác động của việc thay đổi bối cảnh kinh tế thế giới
trong và ngoài nước đến quy mô, khả năng thanh toán nợ
Căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ có thể phân chia thành nghĩa vụ trả nợ trực
tiếp (của chính quyền các cấp) và nghĩa vụ nợ dự phòng (các khoản nợ được
chính phủ bảo lãnh). Cách phân chia này cho thấy rõ hơn các rủi ro tiềm ẩn đối
với nợ công khi môi trường kinh tế thay đổi. Khả năng kiểm soát và xử lý đối với
các khoản nợ được bảo lãnh rõ ràng là thấp hơn đối với các khoản nợ mà chính
phủ vay trực tiếp.
Ngoài ra còn có thể phân chia nợ công theo điều kiện vay nợ (vay ưu đãi,
vay thương mại), thường khác nhau ở các mức lãi suất và điều kiện vay theo
đồng tiền vay nợ để phản ánh các rủi ro về tỷ giá hối đoái.
1.1.2. Khủng hoảng nợ công
1.1.2.1. Định nghĩa
Trong lịch sử tài chính tiền tệ thế giới, thuật ngữ “Khủng hoảng nợ công”
(Tiếng anh: public/national/sovereign debt crisis) đã không còn xa lạ. Có rất
nhiều các nghiên cứu, các học thuyết đưa ra nhằm tìm hiểu quá trình hình thành
của một cuộc khủng hoảng nợ công, cũng như cách thức dự báo và ngăn chặn nó.
7
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn toàn giữa các
nghiên cứu, các học thuyết đó về khái niệm của một cuộc khủng hoảng công nợ.
Trước hết về khái niệm "Khủng hoảng", theo Đại từ điển Tiếng Việt
của NXB Văn hoá - Thông tin năm 1998 thì khủng hoảng là tình trạng rối loạn,
mất sự cân bằng,bình ổn, do nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết hoặc khủng
hoảng là tình trạng thiếu hụt gây mất cân bằng nghiêm trọng.
8
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
nhân hóa của chính phủ, và/hoặc mua lại bằng tiền mặt. S&P coi các giao dịch
này là vỡnợ vì chúng bao gồm những điều kiện kém thuận lợi hơn so với ban
đầu.
Thứ hai,khủng hoảng nợxảy ra khi có khoản nợ xấu hơn, theo một số
nghiên cứu đưa ra, một cuộc khủng hoảng nợ được xếp vào loại này nếu một
hoặc cả hai điều kiện sau đây xảy ra.
- Có khoản nợxấu vềgốc hoặc lãi về nghĩa vụ bên ngoài đối với các chủ
nợ thương mại (ngân hàng hoặc người nắm giữ trái phiếu) lớn hơn 5% tổng dư
nợ thương mại.
- Có thoả thuận gia hạn hoặc cơ cấu lại nợ với các chủ nợ thương mại
được liệt kê trong Báo cáo Tài chính Phát triển của ngân hàng Thế giới.
Nếu xác định theo tiêu chí này thì đã có khoảng 54 cuộc khủng hoảng nợ
xảy ra. Các cuộc khủng hoảng này có xu hướng tập trung vào những năm 1980,
khi hầu hết các nước Mỹ La tinh và một số nước Châu phi và không thể thanh
toán các khoản vay ngân hàng quá mức của họ trong những năm 1970.
Thứ ba,khủng hoảng nợ xảy ra khi có khoản vay quy mô lớn từ IMF, một
quốc gia đang trải qua một cuộc khủng hoảng nợ nếu:
- Nó được xếp vào trường hợp vỡ nợ như trong định nghĩa ở bên trên của
S&P, hoặc.
- Nó nhận được một khoản cho vay lớn (có điều kiện) vượt quá 100% hạn
mức ấn định trước từ IMF.
Như đã đề cấp ở bên trên, S&P đánh giá một quốc gia phát hành bịvỡnợ
nếu chính phủ không đáp ứng một khoản thanh toán gốc hoặc lãi vào ngày đáo
hạn (bao gồm cả đềnghị hoán đổi nợ, hoán đổi nợ/vốn chủsởhữu liên quan tới các
chương trình tư nhân hoá của chính phủ, và/hoặc mua lại bằng tiền mặt). Đối với
Manasse, Roubini và Schimmelpfennig, cuộc khủng hoảng nợ không chỉ bao
gồm các trường hợp nợ vỡ hoàn toàn hoặc bắt buộc tái cơ cấu, mà còn cả trường
hợp gần như vỡnợ nhưng tránh được nhờ gói hỗ trợ chính thức có quy mô lớn
Thành phần chính của các cuộc khủng hoảng tài chính là các thông tin
bất cân xứng. Thông tin bất cân xứng có vai trò chính yếu trong các giao dịch tài
chính. Nó đưa người vay tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầm mống
cho những kỳ vọng xấu của người cho vay về người đi vay. Thông tin bất cân
xứng khiến cho người đi vay và người gửi tiền khó khăn trong việc phân biệt
giữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khả năng thanh toán, qua đó dẫn đến
việc người sở hữu bán đi những tài sản bằng ngoại tệ của nước gặp khó khăn. Vì
vậy, để hạn chế những thông tin bất cân xứng thì hai bên đi vay và cho vay cần
có càng nhiều về nhau càng tốt thông qua những câu hỏi và người cho vay hỏi
người đi vay để tránh sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư.
Tóm lại, dấu hiệu của khủng hoảng tài chính bao gồm:
Các ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền của người
gửi tiền.
10
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại Acũng không
thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
Một cuộc khủng hoảng tài chính có thể xuất hiện một hoặc hội tụ cả hai
dấu hiệu trên.
b) Nguyên nhân
Về bản chất, các cuộc khủng hoảng nợ công là cuộc khủng hoảng xảy ra
trong lĩnh vực tài chính, và là ngòi nổ cho sự bùng phát khủng hoảng tài chính
sau này. Do đó, có thể nói, cuộc khủng hoảng nợ công mang những đặc điểm
chung nhất và cũng có thể bị gây ra do một số nguyên nhân của cuộc khủng
hoảng tài chính. Bất kỳ một quốc gia nào cũng đứng trước nguy cơ hứng
chịu một cuộc khủng hoảng tài chính bởi quy luật của phát triển. Khi nền kinh
tế phát triển lên đến đỉnh điểm ắt sau đó nó sẽ rơi vào tình trạng trì trệ. Cuộc
khủng hoảng nợ công vừa xảy ra tại Hy Lạp là minh chứng cho việc các quốc gia
phát triển cũng không thể coi thường khủng hoảng. Các nguyên nhân của khủng
hoảng tài chính bao gồm:
không tự bảo hiểm rủi ro.
Thứ hai, hệ thống ngân hàng tài chính yếu kém
Hệ thống ngân hàng yếu kém về quản lý đã để các dòng vốn đầu tư vào
quốc gia một cách ồ ạt và thường xuyên phát sinh các khoản nợ khó đòi.
Chính phủ các nước chưa có can thiệp vào hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng và các công ty tài chính nhằm hướng các hoạt động của ngân
hàng vào hỗ trợ cho chính sách phát triển kinh tế, dẫn tới việc quản lý tín
dụng lỏng lẻo và mở rộng đầu tư quá mức khiến cho hiệu quả kinh tế thấp.
Bản thân các ngân hàng chậm trễ trong việc đổi mới hoạt động và
bảo thủ trong việc hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ của mình. Các
ngân hàng phụthuộc rất lớn vào sự trợ giúp của chính phủ.
Thứ ba, chính sách tỷ giá hối đoái được duy trì cứng nhắc
Các nước bị khủng hoảng trong một thời gian tương đối dài đã duy trì tỷ
giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc theo USD. Điều này tỏ ra không có lợi
trong những năm gần đây khi nền kinh tế Mỹ phát triển bất ổn định, USD lên giá
so với Yên nhật, giá trị đồng tiền của nước này đã bị đánh giá cao từ 20%-30%
so với USD dẫn đến xuất khẩu trì trệ và kích thích nhập khẩu. Chính sách tỷ giá
cố định buộc các nước này phải duy trì lãi suất cao khiến cho luồng vốn vay
nước ngoài tăng nhanh và khi có sự biến động về tỷ giá thì các dòng vốn sẽ lập
tức rút ra.
Bên cạnh đó, do duy trì tỷ giá hối đoái cố định đòi hỏi phải tiêu tốn một
lượng ngoại tệ lớn khi thực lực tài chính của nhà nước còn yếu nên khả năng
chống đỡcuộc khủng hoảng không hiệu quả.
Thứ tư, năng lực xử lý khủng hoảng yếu kém
Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các
nước phải thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để
đến nỗi cạn kiệt dự trữ ngoại hối Nhà Nước mà lại càng làm cho sự tấn công của
luồng vốn từ ngoài chảy vào để đầu cơ thêm kéo dài.
12
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắt
lưng buộc bụng” để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được
nhận sựhỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, “thắt lưng
buộc bụng” lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng
thẳng, bất ổn chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế
13
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
trong xã hội là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc
lợi, cắt giảm chi tiêu của chính phủ.
Vấn đề đặt ra cho các chính phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâm
hụt ngân sách nhưng không đẩy nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái, trong khi
các biện pháp để giải quyết hai vấn đề này lại có tác động không thuận chiều.
Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo
cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác,
niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành
mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.
Việc căn cứ vào mức nợ công trên GDP để xác định tình trạng nợ công là
hết sức quan trọng, tuy nhiên, điều quan trọng không kém là phân tích “thực
chất” nợ công. Đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài;
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng “sức khoẻ” nói chung của nền
kinh tế; lượng dự trữ quốc gia
1.2.2. Tác động tới lãi suất, đầu tư
Khi một quốc gia lâm vào tình trạng vỡ nợ, không thực hiện được các
nghĩa vụ nợ (trả nợgốc và lãi…) thì quốc gia sẽ ngay lập tức bị hạ mức tín nhiệm.
Việc chính phủ huy động thông qua trái phiếu (hay hình thức vay khác) đều trở
nên khó khăn và lãi suất sẽ cao hơn.
Khi tín nhiệm trái phiếu quốc tếcủa chính phủ bịsụt hạng, nhất là khi bị
khủng hoảng nợ công, chính phủ thiên về huy động vốn từ thị trường trong nước
với. Tình trạng lấn át đầu tư có thể dẫn đến khu vực tư nhân thu hẹp sản xuất và
dẫn đến suy giảm kinh tế trong trung hạn. Tình trạng này được lý giải như sau
Hiện tượng này thương thấy ở các nước đang phát triển do nguồn thu từ
thuế còn hạn chế trong khi nhu cầu chi tiêu của chính phủ lại lớn. Hơn nữa, tại
các nước đang phát triển, thị trường tài chính còn trong giai đoạn phát triển nên
các chính phủ vay nợ ít trên thị trường và sử dụng biện pháp in tiền để tài trợ cho
các khoản chi của mình. Trong lịch sử, nhiều nước đã thực hiện biện pháp in tiền
đẻ tài trợ cho thâm hụt ngân sách và dẫn đến lạm phát phi mã (như Việt Nam
nhưng năm cuối thập kỷ 1980), và siêu lạm phát như tại Đức những năm 1920.
Tại các nước phát triển in tiền để tài trợ cho chi tiêu chính phủ cũng xảy
ra, nhưng thường là trong giai đoạn chiến tranh, khi nhu cầu chi tiêu và các
khoản nợ của chính phủ quá lớn, trong thời bình phần lớn các chính phủ chọn
cách vạy nợ trên thị trường vốn thông qua phát hành trái phiếu để tài trợ cho các
khoản chi tiêu.
Việc tăng nợ công còn tác động tới lạm phát thông qua kênh khác. Khi các
hộ gia đình nắm giữ nhiều trái phiếu chính phủ hơn, họ sẽ cảm thấy giàu hơn dẫn
tới việc chi tiêu nhiều hơn.
15
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TẠI
KHU VỰC CHÂU ÂU TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1. Diễn biến khủng hoảng nợ công tại một số nước Châu Âu
2.1.1. Hy Lạp
Hy Lạp vốn là nước có lịch sử với nhiều rắc rối về tài khóa. Khi trở thành
nước thành viên thứ 12 của Liên minh Châu Âu, nợ chính phủ của nước này đã ở
mức hơn 100% GDP. Nhiều nước thành viên đã lo ngại những vấn đề tài khóa
của Hy Lạp có thể gây tổn hại tới đồng tiền chung của cả khối. Ngược lại, đối với
Hy Lạp, việc trở thành thành viên của Liên minh Châu Âu mang lại rất nhiều
điều kiện thuận lợi. Gia nhập khu vực đồng tiền chung Châu Âu năm 2001 là cơ
hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế do thị trường trái
phiếu không còn phải lo ngại về mức lạm phát cao hay việc phá giá đồng tiền.
Mức lãi suất thấp cũng cho phép Chính phủ Hy Lạp tái tài trợ cho các khoản nợ
sách khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách, Hy Lạp bán trái phiếu để có tiền
cho ngân sách. Lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục
tăng cao từ 3,47% vào tháng 1/2010, lên 9,73% thời điểm tháng 7/2010 và nhảy
vọt lên 26,65% một năm vào tháng 7/2011.
Nội lực không đủ vực dậy nền kinh tế lớn thứ 27 thế giới, Hy Lạp trở
thành mắt xích yếu nhất của eurozone. Châu Âu không thể để Hy Lạp vỡ nợ bởi
những hệ lụy đổ vỡ hệ thống ngân hàng, mất khu vực đồng tiền chung và kéo
theo nhiều quốc gia khác rơi vào hiệu ứng domino.
Châu Âu có thể cứu được Hy Lạp với thỏa thuận hoán đổi nợ kỷ lục, với
những gói cứu trợ lên tới hàng trăm tỷ EUR, nhưng Hy Lạp không còn là vấn đề
duy nhất của khu vực này. Cơn hỗn loạn tài chính đã lan đến Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha và tiếp theo là Italy.Tháng 3/2012, các chủ nợ tư nhân đồng ý hoán đổi
85% nợ cho Hy Lạp, giúp cắt giảm khoảng 100 tỷ EUR nợ khỏi nghĩ vụ nợ của
quốc gia này. Ngay lập tức, ngày 9/3, Fitch và Moody’s đồng loạt tuyên bố Hy
Lạp đã vỡ nợ.
Sự phụ thuộc quá nhiều của Hy Lạp vào nguồn tài trợ nước ngoài đã khiến
cho nền kinh tế nước này trở nên dễ tổn thương trước những thay đổi trong niềm
tin của giới đầu tư.Hy Lạp chính thức kêu gọi hỗ trợ tài chính từ Quỹ Tiền tệ
quốc tế (IMF) và các quốc gia thành viên Eurozone. Bộ trưởng Tài chính các
nước Eurozone đã quyết định hỗ trợ tài chính dành cho Hy Lạp với mức hỗ trợ
110 tỷ euro trong vòng 3 năm 2011-2013 (lãi suất ưu đãi là 5%), trong đó các
nước thuộc Eurozone bỏ ra 80 tỷ euro và 30 tỷ còn lại là IMF cho vay. Đổi lại,
Hy Lạp phải cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 11% GDP (2011)
và xuống dưới mức quy định 3% của EU vào năm 2013.
Khủng hoảng nợ Hy Lạp là một cảnh báo cho các quốc gia về bội chi ngân
sách và việc sử dụng các khoản nợ công. Vấn đề đặt ra không phải là nợ bao
nhiêu phần trăm GDP mà các khoản vay nợ đó được dùng vào mục đích gì? hiệu
quả đạt được ra sao? khả năng trả nợ thế nào? Cuộc khủng hoảng nợ sẽ làm chậm
lại đà phục hồi của kinh tế toàn cầu và đặc biệt là kinh tế châu ÂuDo đó, vấn đề
đặt ra là phải luôn ý thức và kiểm soát mức nợ phù hợp với nền kinh tế đất nước.
cũng như tỏ rõ quyết tâm thực hiện các biện pháp khắc khổ để đạt mục tiêu này,
song bất kể một tin xấu nào như khó khăn tài chính tại các ngân hàng lớn, tỷ lệ
thất nghiệp tiếp tục tăng cao đều có thể khiến Tây Ban Nha khó có khả năng,
thậm chí không thể, tiếp tục tự huy động vốn trên các thị trường. Tây Ban Nha
sau đó khiến thị trường chú ý hơn nữa khi công bố dự thảo ngân sách, trong đó
dự kiến nợ công sẽ tăng lên đến 80% GDP trong năm 2012, tăng mạnh so với
mức 68,5% GDP trong năm 2011 và là mức cao nhất kể từ năm 1990.
18
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
Trong bối cảnh này, khả năng tài chính của Tây Ban Nha sẽ phụ thuộc rất
lớn vào việc vay mượn tiền từ các nhà đầu tư với mức lãi suất chấp nhận được.
Để giúp Tây Ban Nha, các nước thành viên Eurozone có thể cam kết đền bù cho
các nhà đầu tư trong đợt lỗ đầu tiên đối với số trái phiếu của nước này. Tây Ban
Nha có thể sẽ yêu cầu các khoản vay từ quỹ cứu trợ của khu vực khi phải cứu trợ
các ngân hàng. Tuy nhiên, với khả năng hạn chế của quỹ cứu trợ, nhiều nhà phân
tích cho rằng ECB là thiết chế duy nhất có khả năng cứu các nền kinh tế lớn như
Tây Ban Nha bằng cách mua hàng trăm tỷ euro trái phiếu của Tây Ban Nha từ
các ngân hàng và các thị trường thứ cấp, giúp hạ mức lãi suất mà nước này phải
trả. Tuy nhiên, ECB vẫn cho rằng sự can thiệp quy mô lớn như vậy sẽ là vi phạm
hiệp ước của EU.
Trong khi đó, quy mô "bức tường lửa" của Eurozone dù đã được nâng lên
800 tỷ euro (1,05 nghìn tỷ USD) để có thể hỗ trợ các nước thành viên không thể
huy động tiền từ thị trường nhưng vẫn được cho là không đủ để giải cứu Tây Ban
Nha nếu cần. Với một nền kinh tế có quy mô 1,1 nghìn tỷ euro (1,45 nghìn tỷ
USD) - lớn gấp đôi tổng quy mô nền kinh tế của ba nạn nhân trước đó của cuộc
khủng hoảng là Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ailen, việc cứu trợ Tây Ban Nha sẽ đòi
hỏi hai nền kinh tế đầu tàu khu vực là Đức và Pháp phải cấp vốn nhiều hơn nữa.
Điều này sẽ đẩy cuộc khủng hoảng nợ vào một giai đoạn nguy hiểm hơn, khi
cũng sẽ nhanh chóng tạo ra các hiệu ứng lây lan tại nền kinh tế trị giá 2,2 nghìn
tỷ USD của Italia. Ngược lại, nếu Tây Ban Nha không được cứu trợ và rơi vào
ngân hàng của Ai Len cũng sẽ buộc nước này phải liên tục đi vay mượn và chấp
nhận thâm hụt ngân sách cho đến khi họ không còn khả năng chi trả nữa và phải
đến cầu viện nước ngoài.
20
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
Vì vậy, khủng hoảng nợ của Ai Len thực tế là do chính phủ phải đi cứu trợ cho
hệ thống ngân hàng nước này, khiến nợ xấu từ khu vực tư nhân tạo thành gánh nặng
nợ nần của chính phủ và cuối cùng chính phủ không đủ tiền trả nợ phải đi cầu viện
EU và IMF để có tiền tiếp tục cứu giúp hệ thống ngân hàng của mình.
Đồ thị 2.2. Thâm hụt ngân sách/GDP của các nước đang được xem là có thể cần
được giải cứu
Nguồn: Eurostat
Năm 2010, thị trường tài chính quốc tế đã chứng kiến sự điều chỉnh mạnh
của lợi tức trái phiếu Chính phủ Ai Len. Lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Ai
Len đã tăng khoảng 2%, lên gần 7% một năm.
Đồ thị 2.3.Lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Ai Len.
Nguồn: Tradingeconomics
21
Đề án Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ Đỗ Như Sơn – CQ523072
Báo cáo đánh giá về tình hình kinh tế Ai Len trong năm 2011 vừa được
Ủy ban châu Âu công bố cho biết: Ai Len đã cam kết tuân thủ các điều khoản
trong chương trình cứu trợ mà Liên minh châu Âu dành cho nước này. Do đó,
tính đến nay, về cơ bản, các bước cải cách tài chính của Ai Len đã đi đúng mục
tiêu. Thâm hụt ngân sách của nước này năm 2011 xét trên toàn diện đã giảm dưới
10,6%, mức trần về GDP mà Liên minh châu Âu đề ra.
Ngày 14/12/2011, Liên minh châu Âu (EU) đã bày tỏ hoan nghênh những
tiến bộ mà Ai Len đạt được trong lĩnh vực tài chính và ngân sách khi thực hiện
các biện pháp cải cách kinh tế nhằm đưa nước này thoát khỏi khủng hoảng nợ
công.
Báo cáo vừa được công bố này được xem là tín hiệu tốt để Ai Len tiếp tục
chưa phục hồi, giá nhà đất đã giảm tháng thứ 6 liên tiếp và chỉ cao hơn 1% so với
mức đáy trong thời kỳ suy thoái tồi tệ nhất năm 2009, khiến cho hơn 800 ngân
hàng nước này tiếp tục lâm vào tình trạng khó khăn. Còn tại Trung Quốc, kế
hoạch làm dịu cơn sốt giá nhà đất của Chính phủ nước này chưa có kết quả (giá
bất động sản tăng bình quân hơn 6%/tháng) trong khi giá trị các khoản vay dành
cho bất động sản trong hai năm qua đã lên tới 2,7 nghìn tỷ USD.
Do sự suy giảm của sản lượng và các đơn đặt hàng mới, tỷ lệ thất nghiệp ở
Eurozone đã tăng lên mức kỷ lục. Trong tháng Năm, có tới 17,56 triệu người ở
17 nước thành viên Eurozone thất nghiệp, chiếm 11,1% của lực lượng lao động ở
khu vực này, cao nhất kể từ khi Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu tiến hành thống
kê vào năm 1995.
Dự báo, những chính sách có tính chất thắt lưng buộc bụng và thắt chặt
tiền tệ của các nước sẽ khiến cho nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại trong
ngắn hạn; lạm phát sẽ được kiểm soát nhưng chỉ trong trường hợp không gặp
bất lợi từ giá dầu và giá lương thực, thực phẩm; và tại một vài nước, những khó
khăn về kinh tế sẽ là yếu tố để chuyển hóa thành những bất ổn về chính trị - xã
hội.
2.3. Tác động của khủng hoảng nợ công khu vực Châu Âu đến nền kinh tế
Việt Nam
2.3.1. Tình hình nợ công tại Việt Nam
Việt Nam mởcửa kinh tế được 25 năm và đã đạt được những bướcphát
triển vượt bậc. Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp 3 lần,
từ 32,7 tỷ USD năm 2001 lên 102 tỷ USD năm 2010.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô
nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền
kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp
nhẹ là chủ yếu. Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ chính phủ
nói riêng và nợ công nói chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự
hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổ
chức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nền kinh tế hơn nữa.
ngoài chiếm 60%, trong đó có 85% là ODA.
• Tình hình sử dụng nợ công
Thông qua các chương trình đầu tư công,nợ công của Việt Nam
đượcchuyển tải vào các dự án đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng
cho sự phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, tình hình sử dụng nợ công ở Việt
Nam không đạt hiệu quả cao, thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn: Tình trạng chậm trễ
trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và nguồn vốn trái phiếu
Chính phủ diễn ra khá thường xuyên. Tình trạng dự án, công trình thi công dở
25