Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2012 được coi là một trong những năm kinh tế Thế Giới gặp nhiều
khó khăn. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu tiếp tục sa lầy mà lối thoát thì
chưa thực sự rõ ràng, các nền kinh tế lớn trên Thế Giới cũng đều không mấy khả
quan. Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không tránh khỏi những ảnh
hưởng của khủng hoảng trên, kinh tế khó khăn, lạm phát và thất nghiệp tăng
cao…Đồng thời hệ thống Ngân hàng trong nước cũng gặp rất nhiều khó khăn
trong thời gian này. Tình trạng nợ xấu vẫn chưa có biện pháp giải quyết, đồng
thời những khó khăn trong việc huy động vốn và sự mất cân đối kỳ hạn vốn
khiến nhiều Ngân hàng không thể đáp ứng được nhu cầu vay vốn của nhiều DN.
Mà năm 2013 theo dự đoán tiếp tục sẽ là năm khó khăn đối với cả nền kinh tế và
hệ thống Ngân hàng. Do đó ngoài nguồn vốn vay từ các NHTM, các DN cần tìm
cho mình những ngồn vốn thích hợp khác. Một trong những nguồn vốn mà DN
có thể xem xét đến là huy động vốn qua kênh thị trường TPDN.
Thị trường trái phiếu nói chung và TPDN nói riêng là một trong những
kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Thực tế đã chứng minh, nhiều
nước trên Thế giới đã rất thành công trong phát triển thị trường trái phiếu mà
trọng tâm là thị trường TPDN. Ở Việt Nam, mặc dù trong những năm gần đây thì
thị trường trái phiếu cũng đã có nững nét khởi sắc nhưng so sánh tương quan với
các nước cùng trình độ phát triển trong khu vực và trên Thế giới thì thị trường
TPDN Việt Nam vẫn chưa phát triển đúng tầm. Do đó em đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài:
“Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam và những giải pháp phát
triển”.
Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản của thị trường TPDN và
thực trạng phát triển trong thời gian qua. Đồng thời trên cơ sở lý thuyết và thực
tiễn đã nêu, em xin đưa ra một số giải pháp hy vọng có thể giúp thị trường TPDN
Việt Nam phát triển đúng tầm của mình.
Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường trái phiếu doanh nghiệp
• Thời hạn của trái phiếu: là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người
phát hành hoàn trả vốn lần cuối. Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung
hạn có thời gian từ 1 năm đến 5 năm, trái phiếu dài hạn, có thời gian từ 5 năm trở
lên…
• Kỳ trả lãi: là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu.
Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi suất trái
phiếu có thể theo định kỳ hoặc trả cả lãi và gốc một lần khi đến hạn.
1.1.2. Đặc điểm và phân loại
1.1.2.1. Đặc điểm
Một trái phiếu thường có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có công ty, mà còn có Chính phủ Trung
ương và Chính phủ địa phương.
2
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
- Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ
của chủ thể phát hành trái phiếu. Khác với người mua cổ phiếu là người chủ
sở hữu công ty.
- Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào
kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.
- Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi công ty bị giải thể hoặc phá sản thì
trước hết công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các trái chủ trước, sau đó
mới chia cho các cổ đông.
1.1.2.2. Phân loại
a) Căn cứ vào chủ thể phát hành có:
- TPCP: Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và
các tổ chức kinh tế, xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Chính
phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường; Vì vậy,
TPCP được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất.
- TPDN: là những trái phiếu do DNNN, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn và các định chế tài chính khác như Ngân hàng, công ty tài chính…
- Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong sổ
sách của người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ
sách của người phát hành.
f) Căn cứ vào tính chất trái phiếu có:
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ
được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó. Việc này được quy định cụ
thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu.
- Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho
phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty.
- Trái phiếu có thể mua lại: là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được
quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
g) Căn cứ theo phạm vi lưu thông có:
- Trái phiếu quốc nội.
- Trái phiếu quốc tế.
Có thể còn có nhiều cách phân loại trái phiếu khác nữa nhưng bên trên là một
số cách phân loại trái phiếu tiêu biểu mà chúng ta có thể hay bắt gặp.
1.2. Trái phiếu doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm
Trái phiếu doanh nghiệp (Corporate bond) là một chứng khoán nợ do DN
phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường, quy định nghĩa vụ
của người phát hành (DN) phải trả cho người nắm giữ trái phiếu (NĐT hay trái
chủ) một khoản tiền xác định trong một thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản
vay ban đầu khi nó đáo hạn.
4
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
1.2.2. Đặc điểm và phân loại trái phiếu doanh nghiệp
1.2.2.1. Đặc điểm
Ngoài những đặc điểm và đặc trưng giống như một trái phiếu nói chung,
TPDN có những đặc điểm sau:
phát hành trái phiếu có thể giúp DN giảm được chi phí sử dụng vốn do lãi suất
trả cho các trái chủ được tính vào chi phí của DN nên số thuế thu nhập mà DN
5
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
phải nộp sẽ được giảm đi, trong khi phần cổ tức thanh toán cho các cổ đông là
phần thu nhập còn lại sau khi DN đã nộp thuế. Hay nói cách khác, chi phí sử
dụng vốn từ trái phiếu là chi phí không phải chịu thuế còn chi phí vốn cổ phần
là chi phí phải chịu thuế. Bên cạnh đó, TPDN là công cụ huy động vốn có thời
hạn nên trách nhiệm của DN đối với các trái chủ sẽ được chấm dứt khi trái
phiếu đáo hạn, còn cổ phiếu thể hiện đặc tính sở hữu DN một cách lâu dài nên
DN phải có trách nhiệm đối với các cổ đông trong suốt thời gian DN tồn tại.
Thứ hai, việc tài trợ bằng TPDN có thể tránh được tình trạng pha loãng
quyền sở hữu của các cổ đông – là nguyên nhân làm giảm thị giá cổ phiếu, có
thể tạo thêm gánh nặng cho các cổ đông hiện hành. Khi phát hành cổ phiếu, sự
xuất hiện của các cổ đông mới có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông
hiện hữu, lợi ích của họ ít nhiều cũng bị chia sẻ. Hơn nữa, việc xuất hiện của
các cổ đông mới đồng nghĩa với khả năng kiểm soát DN bị ảnh hưởng do
quyền biểu quyết của các cổ đông tăng lên, trong khi nếu huy động vốn thông
qua kênh TPDN thì sẽ hạn chế được tình trạng này, quyền kiểm soát DN sẽ
không bị ảnh hưởng.
Thứ ba, phát hành TPDN tài trợ thường có lợi hơn so với vốn vay Ngân
hàng. Việc huy động vốn thông qua TPDN sẽ đảm bảo cho DN được sử dụng
nguồn vốn ổn định và dài hạn hơn so với đi vay Ngân hàng. Nếu các khoản
vay Ngân hàng thường là các khoản vay ngắn hạn và bị không chế bởi hạn mức
tín dụng thì TPDN lại rất đa dạng về thời hạn và không bị hạn chế về quy mô,
tùy vào sự lựa chọn của các DN. Trong một số trường hợp, thông qua kênh phát
hành trái phiếu, DN có thể huy động được khối lượng vốn lớn một cách dễ dàng
nếu có phương án sử dụng vốn hợp lý và khả thi, đảm bảo được khả năng thanh
toán lợi tức và hoàn trả vốn gốc đúng hạn cho các trái chủ. Như vậy, có thể thấy
rằng phát hành trái phiếu là hiệu quả hơn trong trường hợp tài trợ cho vốn dài
thanh toán định kỳ và giá bán của nó được xác định dựa vào lãi suất thị trường ở
thời điểm phát hành, thường thấp hơn mệnh giá và trái chủ được nhận lại vốn gốc
bằng với mệnh giá tại thời điểm đáo hạn)…
1.3. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm
Thị trường TPDN là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán trao đổi
TPDN, nhằm thoả mãn nhu cầu của các đối tượng tham gia trên thị trường, đồng
thời nó là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn
trực tiếp từ NĐT sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường
tài chính là cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
1.3.2. Đặc điểm và phân loại thị trường trái phiếu doanh nghiệp
1.3.2.1. Đặc điểm
Chủ thể tham gia thị trường TPDN cũng giống như những chủ thể trên
hầu hết các thị trường tài chính, cũng có người đi vay và người cho vay hoặc cả
hai tham gia trên thị trường. Trong đó, các tổ chức cá nhân tham gia thị trường
TPDN được chia thành ba nhóm chính: nhà phát hành (Issuers), NĐT (Investors)
và chủ thể trung gian (Bond brokers).
- Nhà phát hành (Issuers): là các DN thực hiện huy động vốn bằng cách
7
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
phát hành TPDN trên thị trường. Trên thị trường TPDN, các chủ thể phát hành
bao gồm các DNNN, công ty cổ phần, công ty TNHH, các định chế tài chính như
Ngân hàng, công ty tài chính, …
- NĐT (Investors): là những người thực sự mua và bán TPDN trên thị
trường nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận trên lợi tức trái phiếu và chênh lệch
giá, có thể chia thành 2 loại:
+ NĐT cá nhân (Indivisuals): những người có vốn tạm thời tham gia mua
bán trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận, tuy nhiên các NĐT cá nhân
luôn phải lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức
độ chấp nhận rủi ro của mình.
8
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
qua việc mua bán trái phiếu.
b) Thị trường thứ cấp
Là thị trường giao dịch các loại trái phiếu nhằm tạo tính thanh khoản
cho trái phiếu. Khác với thị trường sơ cấp, tiền bán trái phiếu trên thị trường
thứ cấp thuộc về các NĐT và nhà kinh doanh, do
đó
nếu
thị trường thứ cấp có
tính thanh khoản càng cao thì sự quan tâm của NĐT đối với thị trường trái
phiếu sẽ tăng lên. Đây chính là một trong những điều kiện phát triển thị trường
trái phiếu.
Xét về phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường thứ cấp trái phiếu
cũng như TPDN gồm 2 loại:
Thứ nhất, thị trường tập trung: đây là thị trường giao dịch trái phiếu theo
phương thức khớp lệnh hoặc thỏa thuận tại một địa điểm tập trung là Sở giao
dịch chứng khoán.
Thứ hai, thị trường phi tập trung (OTC): là loại thị trường không có địa
điểm cụ thể, trái phiếu chỉ được giao dịch trực tiếp thông qua các nhà môi giới
trái phiếu.
Trên thực tế, hầu hết các giao dịch trái phiếu trên Thế giới đều giao dịch
thông qua thị trường OTC. Đây là điểm khác biệt giữa thị trường thứ cấp cổ
phiếu và thị trường thứ cấp trái phiếu. Sự khác biệt này dẫn đến các kết quả sau:
- Phát sinh vấn đề thiếu minh bạch về giá cả, trong khi các tổ chức lớn có
được giá từ các nhà
giao
d
thời hạn sử dụng và chi phí sử dụng vốn phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế;
từ đó góp phần điều hòa, nâng cao hiệu quả của việc phân phối và tái phân phối
các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, đồng thời giảm sức ép và sự tập trung
đối với hệ thống Ngân hàng.
b) Đối với các doanh nghiệp
Sự ra đời của thị trường TPDN đã mở ra cho các DN một kênh huy động
vốn mới linh hoạt và hiệu quả hơn so với các kênh huy động vốn truyền thống.
Khi DN có nhu cầu về vốn để đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh
thì DN có thể phát hành trái phiếu ra thị trường để huy động vốn. Đây là
những nguồn vốn được đảm bảo và có khả năng sử dụng dài hạn. Các DN
không phải chịu sức ép về thời gian hoàn trả vốn vay như khi vay vốn Ngân
hàng, bởi lẽ vốn vay Ngân hàng thông thường là những khoản vay ngắn hạn và
có điều kiện trong khi vốn huy động trên thị trường TPDN đều là những
khoản vay dài hạn (thường là 5 năm, 10 năm, thậm chí 20 năm).
Mặt khác, trong trường hợp DN có vốn nhàn rỗi và chưa sử dụng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh thì DN hoàn toàn có thể đầu tư vào trái phiếu để
tìm kiếm lợi nhuận. Với việc nắm giữ những trái phiếu này, DN có thể chuyển
chúng thành tiền mặt trên thị trường thứ cấp khi cần thiết.
c) Đối với nhà đầu tư
Thị trường TPDN có chức năng chuyển các khoản tiết kiệm thành vốn
đầu tư; một mặt huy động nguồn vốn nhàn rỗi tài trợ cho nền kinh tế; mặt
khác tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân chưa đủ điều kiện hoạt động kinh
doanh có thể đầu tư vốn vào thị trường chứng khoán. Nếu như thị trường TPDN
mở ra cho các DN một phương thức tài trợ vốn linh hoạt và hiệu quả thì nó cũng
tạo cho các NĐT nhiều cơ hội lựa chọn để đa dạng hóa các loại tài sản trên danh
10
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
mục đầu tư của mình. Bằng cách mua và nắm giữ những trái phiếu với thời gian
đáo hạn rất đa dạng, người đầu tư có thể thu hồi lại số vốn của mình sau một thời
hạn 3 năm, 5 năm, 10 năm hay có thể đến 20 năm.
nợ),
ngược
lại là những người tích cực tìm vay
nhất và có nhiều khả năng lựa chọn nhất, nhưng người
cho
vay có thể quyết
định không cho vay, tránh phải đưa ra những quyết định sai lầm.
- Rủi ro đạo đức: xảy ra khi giao dịch đã diễn ra, khi người cho vay phải
đối
mặt với rủi ro là người vay cố ý hành động “không tốt” dẫn đến không hoàn
trả khoản vay.
- Vấn đề thanh khoản: khó có thể phân biệt giữa các công ty có triển
vọng với các công
ty
không có triển vọng phát triển trong thời kỳ khó khăn về
tài chính để thấy được khả năng trả nợ
của
các
công ty này.
Cả ba vấn đề nêu trên có thể dẫn đến hậu quả là bỏ lỡ việc đầu tư vào
những dự án tốt và
có
mức
sinh lời cao trong nền kinh tế, thực hiện đầu tư vào
những dự án không tốt, người đi vay hoạt
động
kém hiệu quả.
thực hiện được với các DN lớn và có danh tiếng. Điều này cho
thấy
rằng hệ
thống Ngân hàng có thể thống trị trong hệ thống tài chính ở giai đoạn đầu phát
triển kinh tế vì
số
lượng DN lớn, có danh tiếng có thể phát hành TPDN với chi
phí hợp lý còn hạn chế.
Trái lại, thị trường TPDN có thể phát triển dễ dàng hơn ở các nước phát
triển có thu nhập cao do các
tổ
chức và cá nhân ở các nước này có khoản tiền
nhàn rỗi lớn và có nhu cầu đa dạng hóa danh mục
tài
sản
của họ. Hơn nữa, ở
các nước này có khá nhiều công ty có quy mô lớn và có danh tiếng nên
có
thể
phát hành TPDN đều đặn trên thị trường với khối lượng lớn.
c) Sự hiểu biết của nhà đầu tư
Thị trường TPDN muốn phát triển, trước hết phải thu hút được đông
đảo NĐT tham gia. Do
đó,
trình độ hiểu biết của NĐT có thể giúp trái phiếu
trở nên hấp dẫn hơn, khi đó thị trường TPDN sẽ
phát
triển theo đúng tiềm
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
toàn, giúp chia sẽ rủi ro và làm giảm
áp
lực khủng hoảng lên các thị trường này.
Ngoài ra, , khi hệ thống Ngân hàng đã hoàn thiện, sẽ góp phần làm tăng
nguồn cung TPDN trên thị trường thông qua việc phát hành TPDN huy động
vốn. Tạo tiền đề cho việc phát triển thị trường TPDN sơ cấp và thứ cấp.
e) Sự phát triển của hệ thông pháp lý
Mục tiêu chính của hệ thống quản lý trên TTCK là đảm bảo niềm tin
cho công chúng tham
gia
các thị trường, trong đó có thị trường TPDN, bằng
cách thúc đẩy sự cung cấp thông tin đáng tin cậy về
các
công ty phát hành
cho công chúng đầu tư. Do đó, thị trường chỉ giành được niềm tin của người
đầu
tư
nếu thông tin là đáng tin cậy và công chúng đầu tư được bảo vệ bởi cơ sở
hạ tầng về pháp lý và
bộ
máy tư pháp hoàn thiện; quản lý, giám sát các tổ chức
phát hành và các tổ chức bão lãnh, thông
qua
một
cơ chế cưỡng chế mạnh.
Tóm lại, để thị trường TPDN phát triển đòi hỏi phải có một quá trình tích
luỹ nhất định của
hành phải có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước
hoặc tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Báo
cáo tài chính được kiểm toán của DN phát hành phải là báo cáo kiểm toán nêu ý
kiến chấp nhận toàn phần. Trường hợp DN phát hành trái phiếu trước ngày 01
tháng 4 hàng năm chưa có báo cáo tài chính năm của năm liền kề được kiểm toán
thì phải có:
Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi;
Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh có lãi được kiểm toán (nếu có);
Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên
hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt theo Điều lệ hoạt động của công
ty.
- Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an
toàn trong hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định
tại pháp luật chuyên ngành;
- Có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
và chấp thuận.
b) Đối với trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền
DN phát hành ngoài việc đáp ứng những điều kiện nêu trên thì còn phải
đáp ứng các điều kiện sau:
- Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu
kèm theo chứng quyền;
- Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các DN Việt Nam theo
quy định của pháp luật hiện hành;
- Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06)
tháng.
1.4.1.2. Phát hành ra thị trường quốc tế
a) Đối với trái phiếu không chuyển đổi
- Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06)
tháng.
1.4.2. Trình tự phát hành
1.4.2.1. Phát hành trong nước
- Thông qua phương án phát hành: sẽ do Đại hội đồng cổ đông thông qua
nếu là trái phiếu chuyển đổi; Hoặc sẽ do Hội đồng quản trị thông qua nếu là trái
phiếu không chuyển đổi;
- Công bố thông tin về đợt phát hành:
+ Công bố thông tin về việc phát hành trên 03 số báo liên tiếp của 01 tờ báo
Trung ương hoặc 01 tờ báo địa phương;
+ Niêm yết công khai các thông tin về báo cáo tài chính năm trước năm phát
hành được kiểm toán;
+ Phương án phát hành trái phiếu được Hội đồng cổ đông hoặc hội đồng
quản trị thông qua;
+ Kết quả xếp loại của tổ chức định mức tín nhiệm đối với tổ chức phát
hành trái phiếu và loại trái phiếu phát hành (nếu có);
15
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
+ Và quyền lợi của người mua trái phiếu và cam kết của công ty tại trụ sở
của tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, tổ chức đấu
thầu và các địa điểm phân phối trái phiếu.
- Tổ chức phát hành: công ty được quyền lựa chọn phương thức phát hành
(tự mình thực hiện hoặc thông qua các tổ chức như tổ chức bảo lãnh phát hành,
đại lý phát hành, đại lý thanh toán; tự lựa chọn NĐT hoặc thông qua phương thức
đấu giá…
1.4.2.2. Phát hành ra nước ngoài
- Lựa chọn tổ hợp các Ngân hàng bảo lãnh phát hành: người phát hành lựa
chọn một số Ngân hàng đầu tư quốc tế hàng đầu trên Thế giới, có kinh nghiệm
trong lĩnh vực phát hành trái phiếu làm tổ hợp Ngân hàng bảo lãnh phát hành cho
đợt phát hành trên cở sở chào thầu cạnh tranh theo các tiêu chí cụ thể và danh
+ Người phát hành tổ chức việc tiếp nhận nguồn vốn trái phiếu đã phát hành
theo đúng thỏa thuận đã ký;
- Hoàn tất giao dịch phát hành: sau khi nhận tiền bán trái phiếu, người phát
hành hoàn tất và ký kết các văn bản pháp lý kết thúc giao dịch phù hợp với thông
lệ quốc tế, đông thời báo cáo kết quả phát hành theo quy định hiện hành.
1.4.3. Phương thức phát hành
Phương thức phát hành TPDN là hình thức để DN đưa trái phiếu ra bán
cho các NĐT. Thông thường có các phương thức phát hành phổ biến sau đây:
- Đấu thầu phát hành trái phiếu;
- Bảo lãnh phát hành trái phiếu;
- Đại lý phát hành trái phiếu;
- Bán trực tiếp cho NĐT trái phiếu (trong trường hợp DN phát hành là tổ
chức tín dụng).
17
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về nền kinh tế và thị trường tài chính Việt Nam thời gian qua
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế
Trong khoảng 2 năm trở lại đây nền kinh tế Thế giới được xem là rơi vào
trạng thái “u ám nhất” kể từ những ngày khủng hoảng năm 2008-2009. Trong khi
kinh tế Mỹ và Nhật Bản tăng trưởng một cách “ì ạch”, thì Chấu Âu vẫn đang
“vùng vẫy” trong cuộc khủng hoảng nợ công. Ngay cả các nền kinh tế mới nổi có
tốc độ tăng trưởng khá nhanh như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil…cũng phải đối
mặt với đà suy giảm kinh tế.
Báo cáo Tình hình và Triển vọng kinh tế Thế giới năm 2013 của Liên hợp
quốc công bố trong những tuần cuối năm , dự bào kinh tế toàn cầu tăng trưởng
2.2% trong năm 2012 thấp hơn so với mức dự báo 2.5% hồi tháng 6/2012 và tiếp
tục tăng trưởng dưới tiềm năng với mức tăng dự báo 2.4 % năm 2013 và 3.2%
Ma-lay-sia -1.6 7.2 5.1 4.4 5.2
Phi-lip-pin 1.1 7.6 3.7 4.0 5.0
Thái Lan -2.3 7.8 0.1 4.3 5.2
Việt Nam 5.3 6.8 5.9 5.7 6.3
Các nước Đông Á
trừ Trung Quốc
(Nguồn: cập nhật tình hình kinh tế Châu Á và Thái Bình Dương, tháng 5/2012)
Trong bối cảnh này đòi hỏi Việt Nam phải có những chính sách phát triển
hợp lý để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mức tăng trưởng một
cách hợp lý và gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế,
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời cũng phải chú
trọng tới tình hình sức khỏe của các DN trong nước, vì sức khỏe của các DN
chính là sức khỏe của nền kinh tế. Năm 2011-2012 có khoảng 100.000 DN
ngừng hoạt động hoặc phá sản bằng 50% số DN rút khỏi thị trường suốt 20 năm
qua.
Nguyên nhân do tình hình kinh tế trong nước và Thế giới gặp nhiều khó
khăn như trên khiến sức mua và khả năng tiêu dùng trong và ngoài nước giảm.
Làm các DN không bán được hàng. Chỉ số tồn kho tại thời điểm 1/1/2013 tăng
21% so với cùng thời điểm năm trước. Với số lượng hàng tồn kho lớn như vậy
DN sẽ không thể có khả năng quay vòng vốn để tái đầu tư. Thậm chí còn nhiều
DN chấp nhận bán lỗ. Đồng thời trong giai đoạn này hệ thống Ngân hàng cũng
gặp nhiều khó khăn nên việc vay vốn tín dụng không hề dễ dàng, nhất là đối với
các DN vừa và nhỏ. Do đó đòi hỏi các DN phải tìm cho mình những nguồn vốn
thích hợp khác để có thể duy trì hoạt động và tồn tại.
2.1.2. Thực trạng thị trường tài chính
Năm 2000, đánh dấu một cột mốc đáng chú ý, có ảnh hưởng lớn và đáng
tự hào nhất đối với thị trường tài chính Việt Nam. Đó là sự ra đời của TTCK,
một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Ngày 20/07/2000 Trung tâm
Giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động và đến
ngày 08/03/2005 Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội cũng đã chính thức
Năm 2012 là một năm xuống dốc của hệ thống Ngân hàng. Tín dụng tăng
trưởng thấp nhất trong 20 năm qua. Theo số liệu của NHNN, tín dụng của toàn
hệ thống tăng 4.85% trong 11 tháng đầu năm ước tăng 5 - 5.5% trong cả năm
2012. Tốc độ tăng nợ xấu ở mức báo động, khi chỉ trong 9 tháng đầu năm tăng
66% so với cuối năm 2011, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống đến cuối tháng 9 là
8.82% trên tổng dư nợ cả năm vào khoảng 8.5 – 10%.
Bảng 2.2: Tình hình nợ năm 2011-2012
Năm 2011 2012
20
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
Nợ công 54.9% GDP 55.4% GDP
Nợ xấu / tổng dư nợ 3.80% 8.8% - 10%
(Ngồn: tổng hợp)
Tình trạng này ảnh hưởng rất lớn việc huy động vốn của DN qua kênh tín
dụng Ngân hàng, các DN sẽ rất khó khăn trong việc vay vốn tín dụng Ngân hàng
nhất là các DN vừa và nhỏ.
2.2. Thực trạng hoạt động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1. Thực trạng phát hành trái phiếu
2.2.1.1.Giai đoạn trước năm 2006
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 120/1994/NĐ-CP ngày
17/09/1994 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu của DNNN, thị trường trái phiếu bắt
đầu manh nha hình thành. Tuy nhiên trên thực tế số lượng DN huy động vốn qua
phát hành trái phiếu còn rất ít, điều này cho thấy kênh huy động vốn qua phát
hành trái phiếu còn rất hạn chế và quá mới mẻ đối với DN. Trong khoảng thời
gian này, kênh cấp vốn cho DN chủ yếu là thông qua tín dụng Ngân hàng hoặc
Ngân sách Nhà nước, hoạt động huy động vốn trực tiếp trên thị trường hầu
như chưa phát triển. Các tổ chức phát hành trong giai đoạn này chủ yếu là
các tổ chức tín dụng và rất ít DN phát hành trái phiếu.
Công ty xi măng Hoàng Thạch và Nhà máy xi măng Anh Sơn là hai đơn
vị đi tiên phong trong việc thực hiện Nghị định 120/1994/NĐ-CP. Trong năm
thành công 1.375 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi trong thời gian 7 năm. Kết thúc
giai đoạn này, Công ty tài chính dầu khí (PVFC) đã trở thành đơn vị “khóa sổ”
Nghị định 120/CP trong tháng 6/2006 với tổng giá trị trái phiếu phát hành ra thị
trường đạt 700 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, việc phát hành trái phiếu quốc tế để
huy động vốn nước ngoài cũng đã được cụ thể hóa trong Nghị định
23/1994/NĐ-CP của Chính phủ, song trên thực tế chưa có NHTM quốc doanh
hay DNNN nào phát hành trái phiếu theo Nghị định này. Nguyên nhân chủ yếu
là do Việt Nam có định mức tín nhiệm rất thấp trên thị trường vốn quốc tế nên
mức bù rủi ro đối với trái phiếu Việt Nam rất cao, dẫn đến chi phí cho việc
phát hành cao, vượt quá khả năng chịu đựng của các DN trong nước.
Như vậy có thể thấy rằng, trong giai đoạn 1994 – 2006, dù Nhà nước đã
ban hành những quy định tạo điều kiện cho các DN phát hành trái phiếu để
huy động vốn nhưng trên thực tế phương thức này vẫn chưa được các DN quan
tâm và vận dụng một cách phổ biến, giá trị vốn huy động thông qua trái phiếu
trong giai đoạn này vẫn còn quá ít so với nhu cầu và tiềm lực của các DN. Thị
trường TPDN trong giai đoạn này chỉ mới ở mức khởi đầu và còn rất sơ khai.
Tổng giá trị TPDN lưu hành trên thị trường trong năm 2005 chỉ đạt 110 triệu
USD, chiếm tỷ trọng 2,48% toàn thị trường và 0,2% GDP. Tuy nhiên, sự ra đời
của thị trường TPDN trong giai đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bước
đầu mở ra và giúp các DN làm quen với một kênh huy động vốn mới với nhiều
tiện ích, là tiền đề để từng bước hoàn thiện và phát triển thị trường vốn nói
chung và thị trường TPDN nói riêng trong những giai đoạn tiếp theo.
2.2.1.2. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
22
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
Năm 2006, sự ra đời của Nghị định 52/2006/NĐ-CP về phát hành TPDN
đã tạo bước ngoặt mới cho sự phát triển thị trường TPDN Việt Nam. Chủ thể phát
hành trái phiếu được mở rộng hơn, không chỉ có DNNN như trước đây, mà bao
gồm cả Công ty TNHH, Công ty cổ phần, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Điều
Mặc dù trong năm 2008, thị trường tài chính nói chung và thị trường trái
phiếu Việt Nam nói riêng không tránh khỏi ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính
23
Đề án lý thuyết tài chính - tiền tệ Tạ Văn Tuấn - CQ524092
Thế giới nhưng xét trên tổng thể thì thị trường TPDN Việt Nam vẫn có những
bước phát triển nhất định. Trong năm 2008, đã có một số DN lựa chọn giải
pháp phát hành trái phiếu ra thị trường để huy động vốn. Công ty cổ phần Địa
ốc Sài Gòn thương tín (Sacomreal) đã thực hiện 2 đợt phát hành vào tháng 2 và
3/2008 với tổng mệnh giá cả 2 đợt là 850 tỷ đồng. Trong tháng 02/2008, Ngân
hàng thương mại cổ phần Á Châu cũng đã phát hành trái phiếu ra thị trường với
tổng giá trị đạt 1.350 tỷ đồng. Tiếp nối thành công trong năm 2007, Công ty cổ
phần Vincom cũng đã công bố phát hành thành công trái phiếu trong tháng
4/2008 với tổng mệnh giá đạt 2.000 tỷ đồng. Trong năm 2008 có 2 gương mặt
mới lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường TPDN là Công ty cổ phần Du lịch &
thương mại Vinpearl (tháng 5/2008) và Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai
(tháng 9/2008). Hai công ty này đã chính thức gia nhập thị trường TPDN
bằng việc phát hành ra thị trường 1.000 tỷ đồng trái phiếu cho mỗi công ty trong
năm 2008. Bên cạnh đó, một số DNNN cũng đã huy động được vốn từ thị
trường TPDN trong năm 2008 như: Công ty tài chính dầu khí PVFC (1.500 tỷ
đồng), Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin (650 tỷ đồng),
Tổng công ty đường cao tốc Việt Nam (VEC) được Chính phủ bảo lãnh cũng
đã phát hành trái phiếu đạt 28% so với kế hoạch đề ra trong 2008.
Tiếp đà phát triển, năm 2009, trên thị trường có khoảng 39 giao dịch phát
hành TPDN với tổng khối lượng vốn huy động đạt gần 30.000 tỉ đồng. Đến năm
2010 có 45 giao dịch phát hành với tổng vốn huy động đạt gần 45.500 tỷ đồng.
Năm 2011, tổng khối lượng phát hành TPDN đạt trên 6000 tỷ đồng, giảm
10% tổng giá trị phát hành năm 2010. Phần lớn các tổ chức phát hành là các DN
vừa và nhỏ, sử dụng trái phiếu như sản phẩm thay thế cho khoản vay và người
mua là tổ chức tín dụng không chào bán ra thị trường. Hoạt động trầm lắng của thị
trường TPDN trong năm 2011 là do Chính phủ áp dụng chính sách tiển tệ và tài