ĐÊ TÀI: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP THUỘC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ SỬ DỤNG NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA doc - Pdf 11

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP THUỘC CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ SỬ DỤNG NHẰM KIỀM CHẾ LẠM
PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA
Lời mở đầu:
Năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Vì
vậy, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của các biến động nền kinh
tế toàn cầu, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách thực hiện kiềm chế lạm
phát.Lạm phát là một vấn đề kinh tế cơ bản và quan trọng đối với bất kỳ quốc
gia nào trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Nếu mức độ lạm phát ở
mức vừa phải sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tỉ lệ ở mức hai
con số thường sẽ làm cho nền kinh tế mất cân đối và gây ra những hậu quả
nghiêm trọng. Trong khi đó ngăn chặn vấn đề lạm phát không phải là vấn đề
đơn giản mà cần có các giải pháp thống nhất, đồng bộ và khôn ngoan.
Gần đây ở Việt nam có dấu hiệu của sự lạm dụng các công cụ của chính sách
tiền tệ trong nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Điều này thể hiện sự yếu kém trong
việc quản lý và sử dụng chính sách tiền tệ của chúng tới . Vì vậy đứng trước
nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát, việc nghiên cứu chính sách tiền tệ nhằm kiểm
soát lạm phát là vô cùng cần thiết.
Do đó đề tài "Sử dụng chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm
phát", chính sách tiền tệ (CSTT) là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực
kỳ quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng
lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát
Để đạt được các mục tiêu của CSTT thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai
trò cơ bản, quyết định. Từ khi đổi mới đến nay, các công cụ của CSTT dang
từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế.
Việc lựa chọn các công cụ sao cho phù hợp và việc sử dụng chúng sao cho
hiệu quả nhất trong từng giai đoạn kinh tế luôn là một vấn đề mà Nhà nước
quan tâm theo dõi và đưa ra các quyết định cụ thể,có thể nói, trong chính
sách kinh tế vĩ mô của nhà nước thì chính sách tiền tệ (CSTT) của ngân hàng
trung ương (NHTW) đóng vai trò rất quan trọng. Do nắm trong tay các công
cụ để điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà qua đó có thể tác động

. Tình hình lạm phát ở Việt Nam
· Đưa ra nhận xét về vấn đề lạm phát ảnh hưởng tới nền kinh tế
-Phương pháp nghiên cứu:
· phương pháp thống kê dữ liệu
· Sử dụng phương pháp phân tích mô tả
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ TRONG VIỆC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
I. Lý thuyết về lạm phát
1. Khái niệm về lạm phát
Lạm phát xảy ra khi mức gía chung thay đổi . Khi mức giá tăng lên được
gọi là lạm phát , khi mức giá giảm xuống thì được gọi là giảm phát . Vậy
lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian .
Cố định lạm phát ở mức giá thấp là môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi để
khuyến khích tiết kiệm mở rộng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế .
Cả lạm phát quá cao và lạm phát quá thấp đều ảnh hưởng tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế .
2. Bản chất của lạm phát
Là một hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng lên của giá cả diễn ra
trong một thời gian dài .
3. Nguyên nhân lạm phát
a.Lạm phát cầu kéo
Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản
lượng đã đat hoặc vượt quá tiềm năng.trong thực tế khi xảy ra lạm phát
cầu kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu thông và khối
lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức
cung hàng hóa.
Hình 1.1: Lạm phát do cầu-kéo
P Q’
AS
P’ E’

tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường
diễn ra trong thời kì siêu lạm phát.
e .Lạm phát và lãi suất
Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa - tỉ lệ lạm phát.
Khi tỉ lệ lạm phát tăng lên, lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ
hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này đặc biệt
đúng trong các cuộc siêu lạm phát.
f. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
Lạm phát và thất nghiệp là hai căn bệnh nặng của nền kinh tế thị trường
Đường Philips ban đầu
Đường này cho biết mối quan hệ nghịch giữa lạm phát và thất nghiệp. Lý
thuyết này gợi ra rằng có thể đánh đổi lạm phát lấy thất nghiệp thấp. Khi
thất nghiệp thực tế thấp hơn tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát xảy ra. Đường
Philips gợi cho những người làm chính sách lựa chọn các chính sách vĩ
mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và tiền tệ.
Đường Philips mở rộng
Đường này cho biết khi thất nghiệp bằng tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát bằng
tỉ lệ dự kiến. Nếu thất nghiệp thực tế cao hơn tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát
thấp hơn tỉ lệ tự nhiên. Khi thất nghiệp và lạm phát tăng lên - không có sự
đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát trong ngắn hạn - đó là thời kì đình
trệ thất nghiệp. Sự điều tiết bằng chính sách tiền tệ và tài khóa giữ cho
nền kinh tế ổn định sản lượng.
Đường Philips dài hạn
Trong dài hạn tỉ lệ thất nghiệp thực tế có thể bằng tỉ lệ thất nghiệp dự
kiến bởi sự tác động của các chính sách tài khóa và tiền tệ.
Tỉ lệ thất nghiệp thực tế luôn bằng tỉ lệ tự nhiên dù tỉ lệ lạm phát thay đổi
như thế nào. Vậy trong dài hạn lạm phát và thất nghiệp không có mối
quan hệ với nhau.
4. Tác động của lạm phát
a, Đối với sản lượng và việc làm

ành khác có thể giảm xuống. Kết quả là tỷ trọng của ngành có giá tăng nhanh
hơn
sẽ cao hơn, tỷ trọng của ngành khác sẽ thấp hơn, cho dù tính giá hiện hành
hay giá cố định.
Đối với cơ cấu đầu: Khi giá cả và lạm phát có diễn biến thất thường làm giảm
hiệu quả của các khoản đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư dài hạn. Hiện tượ
ng thoái lui đầu tư diễn ra do các nhà đầu tư không tin tưởng vào hiệu quả c
ủa các dự án đó mang lại thay vào đó là xu hướng dự trữ những tài sản hoặc
hàng hóa
có giá trị hơn là giữ tiền mặt cũng như đầu tư nhằm hạn chế những rủi ro có
thể xảy ra đối với tài sản của họ. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đ
ầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất. Cơ
cấu
các nguồn lực được phân bổ lại một cách kém hiệu quả từ đó ảnh hưởng tới
sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
Đối với hiệu quả kinh tế: Lạm phát có thể tạo ra một số tác động làm cho việc
sử dụng nguồn lực trở nên kém hiệu quả do:
-Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá: giá là tín hiệu quan trọng để giúp cho
người mua có được quyết định tối ưu. Trong thời kỳ lạm phát cao, giá thay đ
ổi
quá nhanh làm cho người tiêu dùng không kịp nhận biết mức giá tương đối g
iữacác loại hàng hóa thay đổi như thế nào.
- Lạm phát làm lãng phí thời gian cho việc đối phó với tình trạng mất giá tiền
tệ. Khi lạm phát xảy ra, càng giữ nhiều tiền mặt trong tay thì càng trở nên
“nghèo” đi, do giá trị đồng tiền bị giảm sút. Tiền mặt không còn được ưa
chuộng thay vào đó là xu hướng dự trữ một số mặt hàng có thể dự trữ
hoặc dự trữ vàng , ngoại tệ…
- Ngoài ra lạm phát còn ảnh hưởng tới nhiều hoạt động kinh tế khác, do cơ cấ
u
kinh tế biến đổi làm cho các cá nhân mất thêm các khoản chi phí khác

b. Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Dự trữ bắt buộc là số tiền mà ngân hàng thương mại buộc phải duy trì trên
tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung
ương là cơ quan duy nhất được phép ra quyết định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc
đối với các ngân hàng thương mại.
- Cơ chế tác động:
Sự tăng lên hay giảm xuống của tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo
tiền và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, qua đó tác động đến
lượng tiền cung ứng trên thị trường. Như vậy tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp, số
nhân tiền tệ sẽ lớn là điều kiện thuận lợi để mở rộng tín dụng, tăng nhanh
mức cung tiền.
c. Lãi suất chiết khấu
- Lãi suất chiết khấu là lãi suất quy định của ngân hàng trung ương khi họ
cho các ngân hàng thương mại vay tiền để đảm bảo có đầy đủ hoặc tăng
thêm dự trữ của các ngân hàng thương mại.
- Cơ chế tác động:
Khi lãi suất chiết khấu thấp hơn lãi suất thị trường và điều kiện cho vay
thuận lợi, sẽ là tín hiệu khuyến khích các ngân hàng thương mại vay tiền để
tăng dự trữ và mở rộng cho vay,dẫn đến mức cung tiền sẽ tăng lên.
Ngoài 3 công cụ chủ yếu trên đây nhằm điều tiết gián tiếp đối với thị trường
tiền tệ, ngân hàng trung ương còn có những công cụ khác như kiểm soát tín
dụng có lựa chọn, quy định trực tiếp đối với lãi suất…
5) Cơ chế tác động của chính sách tiền tệ.
a. Khi nền kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát cao.
+)Mục tiêu đặt ra là giảm lạm phát.
+)Giải pháp: muốn chống lạm phát, ngân hàng trung ương phải sử dụng
chính sách tiền tệ chặt (MS,  i).
+)Công cụ:
• Bán chứng khoán trên thị trường mở.
• Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

đến tất cả các NHTM. Cụ thể là, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của tỷ lệ DTBB
thì tác động của nó đến khối lượng tiền tệ là rất lớn. Vì đây là biện pháp
mang tính bắt buộc nên lãi suất của các NHTM chắc chắn tăng hoặc giảm.
Nhược điểm: công cụ DTBB có thể gây ra các tác động tiêu cực đến nền
kinh tế.
Khi các NHTƯ muốn thay đổi cung tiền tệ ở biên độ nhỏ thì khó có thể
thực hiện được nếu sử dụng công cụ này. Bên cạnh đó, việc thay đổi tỷ lệ
DTBB sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM có mức dự
trữ vượt quá ở mức thấp, nền kinh tế rơi vào tình trạng thiếu vốn và rơi
từ khó
khăn này đến khó khăn khác.
Hơn nữa nếuthường xuyên thay đổi tỷ lệ DTBB cũng gây ra tình trạng
không ổn định cho các NHTM và làm cho việc quản lí khả năng thanh toán
của các ngân hàng này gặp khó khan. Công cụ này còn có độ trễ về mặt
thời gian nên một sự gia tăng hay giảm tỉ lệ DTBB đòi hỏi THTƯ phải
nghiên cứu sự chịu đựng của các NHTM, cũng cần phải để thời gian cho
các NHTM đủ để tăng khoản dự trữ lên mức bắt buộc mới
2. Tái chiết khấu :
Công cụ chiết khấu là công cụ của NHTƯ trong việc thực thi CSTT, bằng
cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh. Khi NHTƯ cho các
ngân hàng vay để kinh doanh làm tăng thêm tiền dự trữ cho hệ
thống ngân hàng, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung ứng. NHTƯ kiểm
soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá cả khoản vay (lãi
suất cho vay tái chiết khấu).
Cơ chế điều hành: trong nền kinh tế có lạm phát, NHTƯ nâng lãi suất tái
chiết khấu khiến khả năng cho vay của các NHTM bị hạn chế, dẫn tới các
doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận các khoản vay để duy trì và mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả là lượng hàng hóa cung ứng
giảm đi làm giảm áp lực cầu tiền giúp giảm áp lực của lạm phát.
Ưu và nhược điểm: công cụ này được thực hiện nhanh chóng nhưng khối

bất kỳ mức độ nào. Nếu mong muốn của NHTƯ là thay đổi dự trữ của các
NHTM ở biên độ lớn, nó có thể mua hoặc bán các giấy tờ có giá với khối
lượng lớn, và ngược lại, nếu mong muốn NHTƯ thay đổi dự trữ của
NHTM ở biên độ nhỏ, NHTƯ sẽ thực hiện việc mua và bán ra ít chứng
khoán hơn.
Nhược điểm: để công cụ này hoạt động có hiệu quả đòi hỏi hầu hết tiền
trong lưu thông phải nằm trong tài khoản của các ngân hàng, phải có sự
phát triển cao của cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt. Bên cạnh đó,
công cụ này cần một thị trường tài chính phát triển cao, mà điều này chỉ
có ở các nước có nền kinh tế - công nghiệp ngân hàng phát triển.
4. Lãi suất :
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì
sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt
lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản
xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là
tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của
Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín
dụng trong từng thời kỳ nhất định.
Cơ chế điều hành: Gián tiếp: NHTM công bố mức lãi suất áp dụng
với các khoản cho vay chiết khấu, cầm cố chứng từ có giá.
Trực tiếp: Quy định mức lãi suất tối đa hoặc tiền gửi tối thiểu đối với các
tổ chức tín dụng.
Các mức lãi suất thường công bố:
- Lãi suất chiết khấu.
- Lãi suất NHTƯ đối với nền kinh tế mang tính quản lý: khung lãi suất,
trần lãi suất…
- Lãi suất mang tính tham lãi: lãi suất liên NH thị trường Singapore,
London…
- Lãi suất công bố theo năm, kỳ, tháng, ngày.
Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực

6. Công cụ tỷ giá hối đoái :
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại
tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ
cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung
cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất
kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy
bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa,tình trạng tài chính,
tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất
nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ
giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều
nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là
công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
Cơ chế điều hành: NHTƯ trực tiếp mua bán ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá
hối đoái.
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CSTT CỦA CHÍNH PHỦ ĐỂ
KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA
I. Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong mấy năm gần đây
Tình hình hiện tại: lạm phát cao, tăng trưởng thấp
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng
trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Tình
hình lạm phát hiện nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt
qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9% của mỗi quốc gia. Điều này sẽ
dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính phủ: làm suy vong
nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó là sự tác động mạnh tới đời sống của người
dân, nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang
Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởi tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao liên tục. Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịu tác động từ chính thành
công quá lớn và quá nhanh chóng của chính mình.
Việt Nam cần có một cách tiếp cận mới, linh hoạt hơn, thích ứng với biến
động thị trường để cuối 2008 lạm phát có thể trở về một con số. Cách đây vài

(không tính yếu tố điều chỉnh theo mùa) từ mức 0,3% của tháng 12.2012.
Tính cả yếu tố mùa vụ và theo tháng (lưu ý Rx12 theo phương pháp mùa vụ
có thể không ảnh hưởng khi loại bỏ sự thay đổi thời gian diễn ra Tết Nguyên
Đán), lạm phát toàn phần tháng 1 tăng lên tới 0,6% từ mức 0,4% của tháng
12. Lạm phát thực phẩm tăng từ 1% trong tháng 12 so với cùng kỳ năm
trướcđến 1,3% trong tháng Giêng. Trên cơ sở không điều chỉnh theo mùa và
tính theo tháng, chỉ số lạm phát thực phẩm tháng Giêng tăng 1,3% trong khi
chỉ số của tháng 12 là 0,3%.
Lạm phát cơ bản vẫn còn cao ở 12,6% so với cùng kỳ năm trước trong tháng
Giêng, tăng từ mức 12,2% trong tháng 12. Lạm phát cơ bản cao hơn đáng kể,
cùng với giá dầu tăng cao, có nghĩa là lạm phát toàn phần có thể tăng nhanh
nếu lạm phát thực phẩm cũng tăng.
Theo dự báo trong vài năm tới lạm phát của Việt Nam sẽ dừng lại ở một con
số, dự kiến lạm phát trung bình năm 2013 khoảng 7,5% trước khi tăng lên
khoảng 8,2% trong năm 2014. Thặng dư thương mại dự kiến sẽ đạt mức kỷ
lục 12,5 tỉ USD trong năm 2013.
II. Những biện pháp cụ thể để kiềm chế lạm phát
1. Các biện pháp để chiến thắng lạm phát giai đoạn 2007-2009
Nguồn: tổng cục thống kê
Từ bảng số liệu trên ta áp dụng công thức tính được tỉ lệ lạm phát qua các năm là: (đơn vị
%)
Năm 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Gp -1,6 3,2 7,7 8,3 7,5 8,3 23,0 6,9 9,2 18,6
Từ bảng số liệu ta thấy
Năm 2008 là năm có nhiều khó khăn và thử thách đối với hoạt động của
ngành Ngân hàng. Có thể nói đây là những khó khăn, thử thách lớn nhất, gay
go nhất tính từ sau thời kỳ đổi mới của ngành Ngân hàng. Sau một thời gian
dài lạm phát được giữ ở mức một con số thì đến năm 2004 lạm phát lại bùng
nổ ở mức cao (7,7%) và đến những tháng cuối của năm 2007, lạm phát đã
tăng lên 2 con số và đạt mức 12,63% vào tháng 12/2007(xem bảng).

X. Đồ dùng và dịch vụ khác 118,49 109,02 101,61 107,72

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 183,73 127,35 102,13 113,62
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,46 99,97 99,81 100,62

Những tháng tiếp theo của năm 2008, lạm phát tiếp tục tăng cao, chỉ tính
riêng 3 tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI đã tăng là 9,1% (đây là quý có mức
tăng cao nhất tính từ năm 1995 trở lại đây) và đã vượt xa chỉ tiêu của Chính
phủ đặt ra cho cả năm 2008 là: GDP tăng từ 6,7 – 7% và giữ CPI thấp hơn
mức này.
Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước
Tháng 12 năm 2008

Đơn vị tính: %

CHỈ SỐ GIÁ THÁNG 12 NĂM 2008 SO VỚI
Chỉ số giá bình
quân năm
2008 so với
năm 2007
Kỳ gốc năm
2005
Tháng 12 năm
2007
Tháng 11 năm
2008

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 146,07 119,89 99,32 122,97
I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 171,79 131,86 99,87 136,57

mô, tốc độ tăng tín dụng và tăng tổng phương tiện thanh toán một cách hợp
lý nhằm đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, góp phần thực hiện
được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhưng đồng thời đảm bảo mục
tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng kinh tế… và điều tiết có hiệu
quả vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) và kiểm soát tốc độ tăng
tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm”.
Điều hành chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát năm 2008
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ vào tình hình thực tế,
ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều hành CSTT theo
hướng thắt chặt để kiềm chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và
kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ
tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá 30%. Để thực hiện mục tiêu
này, NHNN đề ra những giải pháp và biện pháp cụ thể:
1. Chỉ đạo các TCTD kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao
như đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản thông qua việc:
- Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay,
chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được
vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD.
- Yêu cầu các TCTD khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay
bất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn cho vay.
- Ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của TCTD theo hướng chặt chẽ
hơn nhằm hạn chế cho vay đối với nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn
ngoại tệ.
2. Sử dụng các công cụ của CSTT như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc (DTBB),
thị trường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương
mại (NHTM) và từ đó tác động lên khả năng cung vốn ngân hàng ra thị
trường theo mục đích đặt ra và thu hút mạnh tiền từ lưu thông về, cụ thể:
- Tăng tỷ lệ DTBB (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và
các TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn).
- Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành

Những thành tựu đạt được
Mặc dù trong giai đoạn vừa qua (2007 – 2009) nền kinh tế Việt Nam có
nhiều biến động thăng trầm, phải đối phó với lạm phát ở mức cao, phải
chống chọi lại cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008), sang năm
2009 nền kinh tế lại có dấu hiệu giảm phát tuy nhiên với việc thực thi
CSTT linh hoạt, hiệu quả của NHTƯ đã từng bước đưa nền kinh tế thoát
khỏi khủng hoảng và dần dần đang trên đà hồi phục. Cụ thể: Năm 2007,
với việc thực thi CSTT như trên về cơ bản đạt được mục tiêu đề ra là ổn
định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ
vốn tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế
Chính sách tiền tệ thắt chặt với hàng loạt các động thái quyết liệt trên đã
tạo ra một lực hút mạnh thu hút tiền từ lưu thông đồng thời làm giảm
mạnh cấp tín dụng từ các NHTM ra thị trường. Và kết quả là lạm phát đã
bị chặn đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương
25,2%/năm). Tỷ lệ lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89%
Những mặt hạn chế
Có thể nói, điều hành CSTT năm 2007 về cơ bản, đạt được mục tiêu đặt ra,
tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, cùng với
việc Việt Nam gia nhập WTO nên việc điều hành CSTT đã phải đối mặt với
nhiều thách thức làm cho việc thực hiện mục tiêu ban đầu còn có hạn chế
nhất định.
Thách thức lớn nhất mà điều hành CSTT năm 2007 phải đối mặt, đó là
dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều. (Theo số liệu thống kê đến tháng
10/2007, doanh số phát sinh tiền gửi bằng VND của người không cư trú
tại các NHTM thì có khoảng 13 tỷ USD của người không cư trú được
chuyển cho người cư trú cho mục đích đầu tư vào thị trường chứng
khoán, đầu tư vào bất động sản và chi tiêu các nhu cầu tiêu dùng khác
trong nước). Tình hình này đã có tác động làm tăng tổng phương tiện
thanh toán của nền kinh tế (tăng M2); làm tăng cung ngoại tệ, gây sức ép
làm VND lên giá; dự trữ vượt của hệ thống ngân hàng tăng mạnh - là một

trường mở thì không có gì lạ, song điều mà nhiều người dễ nhận thấy là
tần suất thực hiện các liệu pháp tiền tệ là quá dày và mang tính mệnh lệnh
hành chính không phù hợp với xu thế thị trường.
2. Giai đoạn 2010-2011
Năm 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Gp -1,6 3,2 7,7 8,3 7,5 8,3 23,0 6,9 9,2 18,6
Bằng những giải pháp kiềm chế lạm phát năm 2008, vì vậy đến năm 2009 tỉ
lệ lạm phát của nước ta đã giảm xuống một con số là 6,9% nhưng đến năm
2010 tỉ lệ lạm phát lại đạt đến ngưỡng gần hai con số là 9,2% và đặc biệt là
đến năm 2011 tỉ lệ lạm phát tang cao lên đến 18,6%. Để kiềm chế lạm phát,
chính phủ đã sử dụng những biện pháp thuộc chính sách tiền tệ, cụ thể là:
Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
02/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo,
điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách
nhà nước năm 2011. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới hiện đang diễn biến
phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của
sản xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới tiếp tục xu
hướng tăng cao. Trong nước, thiên tai, thời tiết tác động bất lợi đến sản xuất
và đời sống; một số mặt hàng là đầu vào quan trọng của sản xuất như điện,
xăng dầu vẫn chưa thực hiện đầy đủ theo cơ chế giá thị trường buộc phải
điều chỉnh tăng; mặt khác, chúng ta phải nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khoá
để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua. Tình
hình trên đây đã làm giá cả tăng cao, tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô
của nước ta. Vì vậy, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo
đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay.
Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng
giám đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước tập

động, thu tài sản; quy định khen, thưởng đối với việc phát hiện các hành vi vi
phạm hoạt động thu đổi, mua bán ngoại tệ, vàng. Xử lý nghiêm theo pháp luật
đối với hành vi cố tình vi phạm.
2. Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội
chi ngân sách nhà nước
a) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Chỉ đạo phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân
sách năm 2011 đã được Quốc hội thông qua. Tăng cường kiểm tra, giám sát
trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ
đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và
hạn chế phát sinh số nợ thuế mới.
- Các Bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết
kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm
2011 (không bao gồm chi tiền lương và các khoản có tính chất lương, chi chế
độ chính sách cho con người và tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn
cải cách tiền lương theo kế hoạch đầu năm). Các Bộ, cơ quan, địa phương tự
xác định cụ thể số tiết kiệm, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng
Chính phủ trong tháng 3 năm 2011. Số tiết kiệm thêm 10% này các Bộ, cơ
quan, địa phương tự quản lý; từ quý III năm 2011 sẽ xem xét, bố trí cho các
nhiệm vụ cấp bách phát sinh ngoài dự toán hoặc chuyển về ngân sách Trung
ương theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tạm dừng trang bị mới xe ô-tô, điều
hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại,
văn phòng phẩm, xăng dầu, ; không bố trí kinh phí cho các việc chưa thật sự
cấp bách. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức sử dụng
ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm tiết giảm tối đa chi phí hội nghị, hội
thảo, tổng kết, sơ kết, đi công tác trong và ngoài nước Không bổ sung ngân
sách ngoài dự toán, trừ các trường hợp thực hiện theo chính sách, chế độ,
phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh do Thủ tướng Chính phủ
quyết định. Xử lý nghiêm, kịp thời, công khai những sai phạm.
- Giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP. Giám sát

động được đưa ra đã giúp bình ổn thị trường ngân hàng. Trần lãi suất
huy động 14% hiện nay đã góp phần ngăn chặn cuộc đua lãi suất đối
huy động giữa các ngân hàng thương mại. Chính sách thỏa thuận lãi
suất cho vay thay vì trần lãi suất cho vay đã chấm dứt được việc các
ngân hàng tính nhiều loại phí làm tăng lãi suất cho vay thực tế. Quy
định trần lãi suất huy động USD đã góp phần ổn định tỉ giá.
Nhìn chung:
- Các tháng đầu năm 2010: lạm phát được kiềm chế, mặt bằng lãi
suất cho vay được giảm xuống, tỉ giá tương đối ổn định, thanh khoản
của các NHTM được cải thiện.
- Đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010. (GDP
2010 đạt 6,78% là mức khá cao so với nhiều nước trên thế giới).
- Chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tỷ giá, chính sách quản lý
vàng và ngoại tệ: đã ổn định được tỷ giá hối đoái, giảm đáng kể tình
trạng giao dịch USD tự do, giá vàng đã bám sát với giá thế giới.
- Tăng trưởng tín dụng các tháng đầu năm 2011 đã có giảm xuống
so với năm 2010.
Hạn chế: Việc điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ vẫn chưa
đạt được mục tiêu hàng đầu hiện nay là giải quyết lạm phát
- Tình hình lạm phát:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status