Dự án VIE/61/94
Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Đánh giá tiềm năng xuất khẩu
của Việt Nam
Bản thảo, tháng 8/2005
Thực hiện: Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO (ITC) và
Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE)
Tài trợ bởi: Chính phủ Thụy Sĩ (Ủy ban Kinh tế Quốc gia Thụy Sĩ – SECO) và
Thụy Điển (Cục Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển – SIDA)
Ban Phân tích Thị trường
Trung tâm Thương mại Quốc tế
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu …………………………………………………………………………………
Tóm tắt ……………………………………………………………………………………..
Cơ sở và mục đích nghiên cứu ……………………………………………………….
Phương pháp nghiên cứu …………………………………….……………………….
Kết quả chính về tiềm năng xuất khẩu của một số ngành hàng lựa chọn …………….
Hành động ưu tiên đối với từng ngành hàng cụ thể …………………………………..
Vấn đề cắt ngang ……………………………………………………………………..
Kiến nghị cắt ngang …………………………………………………………………..
Các bước thực hiện khả thi tiếp theo …………………………………………………
Giới thiệu …………………………………………………………………………………..
Cơ sở nghiên cứu ……………………………………………………………………..
Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………
Nhóm sản phẩm lựa chọn …………………………………………………………….
Cấu trúc báo cáo ……………………………………………………………………...
1. Phân tích tương đối tiềm năng xuất khẩu của các ngành hàng ……………………...
Chỉ số 1: Tình hình xuất khẩu hiện tại của Việt Nam ………………………………..
Chỉ số 2: Điều kiện cung cấp nội địa …………………………………………………
37
39
43
48
52
58
60
65
73
113
159
162
162
164
169
173
173
174
177
179
181
2
Bảng kê
Bảng 1: Đánh giá tóm tắt tiềm năng xuất khẩu của các ngành hàng ở Việt Nam
Bảng 2: Tiềm năng xuất khẩu ngành và các hành động ưu tiên
Bảng 3: Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2004
Bảng 4: Tổng quan các ngành được đánh giá
Bảng 5: Chỉ số tổng hợp tiềm năng xuất khẩu các ngành
Bảng 6: Các chỉ số thuộc chỉ số phức hợp “Thành tích xuất khẩu của Việt Nam”
Bảng 7: Các chỉ số thuộc chỉ số phức hợp “Tình hình cung nội địa”
Bảng 37: Phân tích SWOT đối với mặt hàng nhựa và sản phẩm nhựa Việt Nam
Bảng 38: Phân tích SWOT đối với mặt hàng dây điện và cáp điện Việt Nam
Bảng 39: Phân tích SWOT đối với mặt hàng máy nông nghiệp
Bảng 40: Sản lượng một số sản phẩm máy nông nghiệp chính của Việt Nam
Bảng 41: Phân tích SWOT đối với ngành đóng tàu
Bảng 42: Phân tích SWOT đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
Bảng 43: Phân tích SWOT cho các ngành hàng đã được khảo sát ở Việt Nam
Bảng 44: Cách thức tiêu chuẩn hóa thị phần thế giới của Việt Nam trên thị trường thế giới từ mức
1 (thấp) đến mức 5 (cao)
3
Bảng 45: Các chỉ số thuộc chỉ số phức hợp về tiềm năng xuất khẩu
Bảng 46: Chỉ số hấp dẫn thị trường: Chỉ số cơ sở và các ngưỡng
Bảng 47: Các điều kiện đầu tư tại Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc
Biểu đồ số liệu
Biểu 1: Biểu đồ ngành hàng: thị trường thế giới và tình hình xuất khẩu của Việt Nam
Biểu 2: Sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam
Biểu 3: Giá cà phê trung bình theo tháng của ICO
Biểu 4: Sản xuất và xuất khẩu cao su Việt Nam
Biểu 5: Sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam
Biểu 6: Sản xuất và xuất khẩu hạt điều ở Việt Nam
Biểu 7: Sản xuất và xuất khẩu rau quả ở Việt Nam
Biểu 8: Sản xuất và xuất khẩu hạt tiêu ở Việt Nam
Biểu 9: Sản xuất và xuất khẩu chè ở Việt Nam
Danh mục hộp tin
Hộp 1: Chính sách Đổi Mới
Hộp 2: Các hiệp định thương mại và tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam
Hộp 3: Các ngành công nghiệp phụ trợ
Hộp 4: Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP)
Hộp 5: Các quyết định về chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với Việt Nam
Hộp 6: Những đề xuất cho ngành hải sản
- Thông tin về nông sản: Tiến sĩ Đặng Kim Sơn (Giám đốc), Ông Trần Công Thắng và Bà
Phạm Hương Giang (Phòng Phân tích Thông tin), Viện Kinh tế Nông nghiệp, Bộ Nông
nghiệp & Phát triển Nông thôn;
- Thông tin về sản phẩm thủ công mỹ nghệ và đồ gỗ nội ngoại thất: Ông Lê Bá Ngọc
(Chuyên gia cấp cao về thủ công mỹ nghệ), Trung tâm Nghiên cứu và Xúc tiến Sản phẩm
Thủ công mỹ nghệ.
Các tác giả chân thành cảm ơn Tiến sĩ Jean-Michel Pasteels (Chuyên gia cấp cao về phân tích thị
trường của ITC) về việc phân tích dữ liệu thương mại, thâm nhập thị trường và những thảo luận,
đề xuất liên quan đến phương pháp đánh giá tiềm năng xuất khẩu của các ngành hàng; và Bà
Joan-Ann Allan (Chuyên viên Tư vấn của ITC), Bà Matthias Schmidt (Chuyên viên thực tập) vì
những hỗ trợ nghiên cứu hiệu quả.
Các tác giả cũng chân thành cảm ơn nhóm chuyên gia của ITC và VIETRADE vì những hỗ trợ
của họ, đặc biệt là Tiến sĩ Martin Albani (Cố vấn trưởng Dự án ), Bà Băng Tú (Quản đốc Dự án
Quốc gia), Ông Bùi Sơn Dũng (Phó Giám đốc Dự án, VIETRADE) và Ông Alain Chevalier
(SECO).
Sau cùng, các tác giả cũng bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả những người tiếp nhận phỏng vấn thuộc
các khu vực tư nhân đã nhiệt tình tham gia trả lời bản câu hỏi của ITC.
Mặc dù đã cố gắng thẩm tra các thông tin trong tập tài liệu này, tuy nhiên Trung tâm Thương mại
Thế giới UNCTAD/WTO (ITC) không chịu trách nhiệm với bất kỳ sai sót nào có thể có trong tài
5
liệu. Các ý kiến và bình luận nêu trong báo cáo nghiên cứu này phản ánh ý kiến và bình luận của
các tác giả và không nhất thiết thể hiện ý kiến và bình luận của các chuyên gia, tổ chức của họ
hoặc VIETRADE. Tuyên bố từ chối trách nhiệm thông thường được áp dụng cho bản báo cáo.
Để biết thêm thông tin về bản nghiên cứu hiện tại, vui lòng liên hệ với Ông Michael Freudenberg
(email: [email protected]) hoặc Ông Thierry Paulmier (email: [email protected]).
6
TÓM TẮT
Báo cáo nghiên cứu này đánh giá tiềm năng xuất khẩu của khoảng 40 ngành hàng tại Việt Nam,
bao gồm các sản phẩm tiền khoáng sản và nhiên liệu, thuỷ sản, nông sản, sản phẩm công nghiệp,
sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Báo cáo so sánh và xếp hạng các ngành hàng theo nhiều khía cạnh
khả năng sáng tạo, hợp tác và đổi mới. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các chính phủ
cần bổ sung những chính sách “nằm ngang” áp dụng cho tất cả các ngành kinh tế bằng
những chính sách có mục tiêu cụ thể, cho những ngành hàng cụ thể.
Khi một chính phủ muốn đưa ra mục tiêu cho các khu vực kinh tế, điều cần thiết là phải tập
trung vào những ngành có khả năng tạo ra sự khác biệt, đặc biệt là những ngành có tiềm
năng tăng trưởng cao nhất trong tương lai. Các chính phủ, nhà tài trợ và các thể nhân cần
7
đưa ra quyết định có thông báo trước về những ngành hàng ưu tiên lựa chọn. Bản nghiên
cứu hiện thời này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra quyết định bằng cách lấp
chỗ khuyết giữa các bản nghiên cứu khả năng cạnh tranh kinh tế vĩ mô và những báo cáo chi
tiết về từng ngành hàng cụ thể.
Mục tiêu của bản báo cáo nghiên cứu này nhằm xác định những ngành hàng có tiềm năng
quan trọng cho sự tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong tương lai. Bản nghiên cứu
nhằm mục đích tạo điều kiện cho các thể nhân tham gia thiết kế và thực hiện các chương
trình phát triển xuất khẩu để xem xét các thông tin định tính và định lượng trong một khuôn
khổ nhận thức nhất quán. Nó xác định những khu vực kinh tế có tiềm năng quan trọng cho
tăng trưởng xuất khẩu. Nó cũng có sự tập trung chiến lược nhằm chỉ dẫn cho chính phủ, các
khu vực kinh tế tư nhân và xã hội hướng tới những lĩnh vực kinh tế triển vọng.
Bản báo cáo này cập nhật và mở rộng bản nghiên cứu trước đây của ITC, từ tháng 1/2002,
tựa đề “Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam (ITC, 2002a). Báo cáo đề cập đến các
sản phẩm khoáng sản, thủy hải sản, nông sản hàng hóa và nông phẩm, sản phẩm công
nghiệp, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Riêng lĩnh vực dịch vụ không bao gồm trong báo cáo.
Phương pháp nghiên cứu
Tiềm năng xuất khẩu của một nhóm sản phẩm được xác định ở đây bao gồm cả những
ngành hàng đã xuất khẩu, có hồ sơ chứng minh số liệu và những ngành hàng chưa từng xuất
khẩu nhưng có những điều kiện cần thiết để có thể xuất khẩu. Việc đánh giá tiềm năng xuất
khẩu của từng ngành hàng được xem xét nghiên cứu dựa trên một số tiêu thức mở rộng, bao
gồm:
- Tình hình xuất khẩu hiện tại của Việt Nam, chẳng hạn giá trị xuất khẩu, thị phần thế giới
và mức tăng trưởng xuất khẩu.
các kết quả và để có sự nhìn nhận trực tiếp về môi trường kinh doanh và chính sách
trong nước có ảnh hưởng tới các doanh nghiệp trong các lĩnh vực ngành hàng khác
nhau. Thêm vào đó, các chuyên gia tư vấn trong nước đã xác định những chiến lược của
chính phủ cho từng ngành hàng cụ thể. Tuy nhiên, đáng tiếc là không thể nghiên cứu các
điều kiện cung cấp nội địa thông qua phỏng vấn doanh nghiệp ở tất cả các ngành hàng.
Kết quả xếp hạng các ngành hàng cần được giải thích cẩn thận, đặc biệt khi chỉ có những
khác biệt nhỏ do nhiều chỉ số thiếu tính chính xác.
Kết quả chính về tiềm năng xuất khẩu của các ngành hàng được lựa chọn
Về tổng thể, minh chứng có sẵn cho thấy tiềm năng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là hạt
điều, dầu lửa, đồ gỗ nội ngoại thất, than đá, da giày, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thủy hải
sản, cao su, đóng tàu, thủy tinh, cà phê, máy móc nông nghiệp, hạt tiêu, đồ gia dụng, đồ chơi
và trò chơi, và hàng may mặc. Ngược lại, tiềm năng xuất khẩu có vẻ giới hạn đối với sản
phẩm sữa, sản phẩm từ sợi đay, rau quả, gạo, hoa tươi cắt cuống, ô tô xe máy và hàng dệt
gia dụng.
Hàng may mặc, giày dép, dầu lửa, thủy hải sản, đồ gỗ nội ngoại thất và cà phê không chỉ là
những ngành hàng trụ cột quan trọng nhất của Việt Nam ở hiện tại về mặt doanh thu xuất
khẩu mà có vẻ sẽ vẫn giữ vai trò này trong tương lai do đó là những ngành hàng có chỉ số
tiềm năng xuất khẩu cao nhất (Bảng 1).
Các ngành hàng quy mô trung bình có tiềm năng xuất khẩu cao bao gồm cao su, thủ công
mỹ nghệ, than đá, đồ gia dụng, hạt tiêu và hạt điều. Đồ chơi và trò chơi, thủy tinh, máy móc
nông nghiệp và đóng tàu là những ngành hàng nhỏ về mặt doanh thu xuất khẩu ở hiện tại
nhưng có tiềm năng trở nên quan trọng hơn trong tương lai.
9
Bảng 1. Đánh giá tóm tắt tiềm năng xuất khẩu của các ngành hàng ở Việt Nam
Tiềm năng thấp Tiềm năng trung bình Tiềm năng cao
Ngành hàng
xuất khẩu
quan trọng
(trên 500
triệu USD)
Hoa tươi cắt
cuống*
Sản phẩm sữa*
Sản phẩm từ sợi
đay*
Nhựa
Vật liệu xây dựng
Chè
Công cụ
Đồ điện tử
Dụng cụ cầm tay
Máy móc công nghiệp*
Gỗ*
Thông tin liên lạc và
viễn thông*
Vật liệu bao gói*
Mật ong*
Đồ chơi và trò
chơi
Thủy tinh
Máy móc nông
nghiệp
Đóng tàu
*Tiềm năng xuất khẩu của những ngành hàng này chỉ dựa trên tình hình xuất khẩu hiện tại
của Việt Nam và môi trường quốc tế. Báo cáo không xem xét các điều kiện cung cấp nội địa
do thiếu dữ liệu so sánh. Vì vậy, kết quả nghiên cứu không so sánh trực tiếp được với các
ngành hàng khác.
Dưới đây là tóm tắt kết quả nghiên cứu chính đối với khoáng sản và nhiên liệu, thủy hải sản,
nông sản, sản phẩm công nghiệp, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trong mỗi nhóm ngành
hàng, giá trị kim ngạch xuất khẩu được thể hiện theo số liệu năm 2003.
khả năng cạnh tranh về giá. Tiềm năng xuất khẩu của ngành hàng này là cao nhưng Việt
Nam cần tập trung phát triển nghề nuôi trồng thủy sản bằng cách nâng cấp đầy đủ hệ thống
hỗ trợ, kiểm soát dịch bệnh và môi trường nhằm cải thiện sản lượng, nâng cao năng suất và
giảm thiểu rủi ro cho người nông dân trong ngành. Phát triển việc kiểm soát khâu vệ sinh
trong quá trình chế biến cũng là một ưu tiên hàng đầu. Giá trị gia tăng bổ sung thông qua
việc tập trung vào những dòng sản phẩm giá cao trên thị trường toàn cầu, cải tiến bao bì và
chế biến những sản phẩm thân thiện với người tiêu dùng cũng là một chiến lược quan trọng
của ngành.
Nông sản
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam.
Ngành cà phê Việt Nam chủ yếu hướng tới xuất khẩu, với lượng xuất khẩu chiếm 95% sản
lượng sản xuất. Sản xuất cà phê - chủ yếu bao gồm chủng loại cà phê Robusta – đã tăng lên
nhanh chóng kể từ cuối những năm 1980, và sau một thời gian ngắn, Việt Nam đã trở thành
một trong những nước xuất khẩu chính mặt hàng này trên thế giới. Ngày nay, Việt Nam là
nước xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới về mặt lượng và đứng thứ ba về mặt giá trị. Việt
Nam có khả năng cạnh tranh cao nhờ điều kiện môi trường và khí hậu ưu đãi, chi phí sản
xuất thấp, sản lượng thuộc hàng những nước cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, cà phê Việt
Nam có chất lượng tương đối thấp do trang thiết bị chế biến, sấy khô nghèo nàn, công nghệ
thu hoạch lạc hậu. Cà phê Việt Nam chưa có thương hiệu và các nhà xuất khẩu ở Việt Nam
còn hạn chế về kỹ năng marketing. Do vậy, cà phê Việt Nam chỉ chào bán được ở mức giá
thấp hơn so với mức giá trung bình của thế giới. Việt Nam có tiềm năng nâng cao chất
lượng cà phê xanh xuất khẩu thông qua việc đầu tư nghiên cứu, công nghệ hậu thu hoạch,
lưu kho và chế biến, và bằng cách chuyển đổi sang trồng cà phê Arabica có giá cao hơn.
Những lựa chọn khác là tìm thị trường ngách cho cà phê như cà phê sạch nhưng lượng tiêu
thụ nhỏ. Việc chế biến trong nước đối với cà phê hòa tan đang được mở rộng. Với vị trí
11
vững chãi trên thị trường thế giới và có cơ hội nâng cấp chất lượng chế biến và xử lý hậu
thu hoạch, tiềm năng xuất khẩu của ngành cà phê Việt Nam được coi là cao, nhưng nhu cầu
cần hỗ trợ phát triển xuất khẩu chỉ ở mức trung bình.
Việt Nam là một trong năm nước xuất khẩu cao su tự nhiên lớn nhất trên thế giới. Với 90%
tiếp theo là những loại hạt trồng dưới đất như lạc. Việt Nam đã xuất khẩu trên 100.000 tấn
hạt điều trong năm 2004. Với doanh thu đạt 400 triệu USD, hạt điều trở thành một trong
những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam. Trong những năm qua,
Việt Nam đã xây dựng năng lực chế biến hạt điều nên đã khiến Việt Nam từ một nước xuất
khẩu hạt điều thô trở thành nước xuất khẩu hạt điều chế biến. Với thị phần khoảng 25%,
Việt Nam đã thiết lập vị trí xuất khẩu hàng đầu trên thế giới: trở thành nước xuất khẩu lớn
thứ hai trên thế giới mặt hàng hạt điều lột vỏ sau Ấn Độ, và trước Braxin. Chính phủ đã đầu
tư mạnh cho hoạt động chế biến tới mức nhu cầu của ngành đối với hạt điều nguyên liệu lớn
hơn mức cung nội địa. Do sản lượng hạt điều thô trong nước không đủ nên Việt Nam đang
nhập khẩu mặt hàng này để xuất khẩu dưới hình thức hạt điều chế biến. Tiềm năng tăng
cường xuất khẩu cao trên cơ sở phát triển giá và sản lượng nội địa. Để tập trung đẩy mạnh
xuất khẩu, cần mở rộng sản xuất hạt điều nguyên liệu, cải tiến chất lượng hạt điều chế biến,
12
phát triển trong dài hạn các sản phẩm tiêu dùng đóng gói và đa dạng hình thức sử dụng,
chẳng hạn sử dụng cho thực phẩm chế biến.
Xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã tăng mạnh kể từ đầu những năm 90. Việt Nam xuất
khẩu rau quả chủ yếu dưới hình thức chế biến, đặc biệt là rau quả đóng hộp có xu hướng giá
thấp hơn so với rau quả tươi. So với sản lượng của thế giới, sản lượng rau quả của Việt Nam
thấp hơn một phần do việc canh tác và công nghệ sau thu hoạch thiếu hợp lý. Tiềm năng
xuất khẩu của ngành này được coi là thấp mặc dù đây là một ngành hỗn hợp bao gồm các
mặt hàng có tính chất và tiềm năng rất khác nhau. Phát triển xuất khẩu cần tập trung vào
chất lượng cung cấp rau quả nguyên liệu và chế biến, chuyển đổi sang sản xuất rau quả tươi
có giá trị gia tăng cao hơn, hỗ trợ cơ sở hạ tầng như lưu kho và bảo quản đông lạnh và
marketing xuất khẩu tới những thị trường lựa chọn. Chính phủ đang thực hiện nhiều sáng
kiến khác nhau nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, chẳng hạn nâng cao công nghệ sử
dụng tại nông trang, các hoạt động thông tin cho nông dân, nâng cấp thiết bị chế biến, tạo
điều kiện ưu đãi trong liên doanh sản xuất và chế biến rau quả. Việt Nam cũng cần phải xác
định những mặt hàng nông sản chủ đạo đối với từng khu vực căn cứ theo lợi thế so sánh.
Mặc dù đã có lịch sử 200 năm tại Việt Nam nhưng hạt tiêu đen mới chỉ nổi lên là một mặt
hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm 90 do có sự mở rộng đột ngột diện tích trồng hạt
mức trung bình hoặc thấp. Tuy nhiên, đáng tiếc là đối với những ngành này, bản báo cáo
không xem xét phân tích các điều kiện cung cấp nội địa của Việt Nam do thiếu dữ liệu so
sánh.
- Tiềm năng xuất khẩu sản phẩm gỗ ở mức trung bình. Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt
Nam tương đối yếu do Việt Nam ở vị thế nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Cơ hội phát
triển một ngành công nghiệp xuất khẩu dựa trên nguồn nguyên liệu trong nước đang tăng
lên nhưng có sự cạnh tranh tương đối lớn ở trong nước đối với gỗ. Môi trường quốc tế là
phức hợp đối với các sản phẩm của ngành, các điều kiện thâm nhập thị trường đối với
Việt Nam khá tốt, tuy nhiên nhu cầu thế giới trong những năm gần đây không cao.
- Mật ong có thể được coi là có tiềm năng xuất khẩu trung bình. Tình hình xuất khẩu hiện
tại của Việt Nam khá ấn tượng và nhu cầu quốc tế tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, Việt
Nam đang phải đối mặt với các điều kiện thâm nhập thị trường khó khăn.
- Hoa tươi cắt cuống có vẻ có tiềm năng xuất khẩu thấp căn cứ trên cơ sở tình hình xuất
khẩu yếu kém hiện tại của Việt Nam và các điều kiện thâm nhập thị trường yếu.
- Ngành chế biến sản phẩm sữa là ngành yếu nhất trong số các ngành hàng được đánh giá
và có tiềm năng xuất khẩu được coi là thấp. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam đối với
các sản phẩm sữa rất kém do Việt Nam là nước nhập khẩu ròng, việc xuất khẩu gần đây đã
giảm về mặt giá trị. Môi trường quốc tế đặc biệt không ưu đãi, tăng trưởng nhu cầu thấp
và các điều kiện thâm nhập thị trường kém nhất trong số tất cả các ngành hàng được
nghiên cứu.
- Đay và các sản phẩm từ sợi đay của Việt Nam có vẻ như có tiềm năng xuất khẩu thấp
căn cứ trên cơ sở tình hình xuất khẩu hiện tại và môi trường quốc tế yếu kém: thị trường
thế giới dành cho dòng sản phẩm này nhỏ và đang suy giảm. Việt Nam phải đối mặt với
các điều kiện thâm nhập thị trường tương đối kém.
Sản phẩm công nghiệp
Ngành may mặc là một trong số những ngành hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Việt
Nam. Với trên 2 triệu công nhân, chiếm khoảng ¼ số lượng lao động tuyển dụng trong toàn
ngành công nghiệp, ngành dệt may là ngành chủ đạo về tuyển dụng lao động, đặc biệt là lao
động nữ. Mức lương ở Việt Nam trong ngành dệt may đứng ở hàng thấp nhất trên thế giới,
năng suất lao động có vẻ thấp hơn so với Trung Quốc và một số nước cạnh tranh khác ở
tạo thương hiệu riêng và thực hiện marketing tiên phong.
Ngành đồ gỗ nội ngoại thất có truyền thống lâu dài với nhiều doanh nghiệp lớn và những
công ty gia đình quy mô nhỏ. Gần đây, tăng trưởng xuất khẩu đồ gỗ đạt mức đặc biệt hiếm
có. Năm 2003, ngành này xuất khẩu được gần 1 tỷ USD. Mặc dù gần đây Việt Nam đã xuất
khẩu được sang trên 120 nước nhưng những thị trường chính vẫn là Hoa Kỳ, Nhật, EU. Việt
Nam có lực lượng lao động rẻ, có kỹ năng, sản xuất ra các loạt sản phẩm đa dạng, có xu
hướng rẻ hơn 10% so với các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc. Tuy nhiên các nhà sản
xuất không bổ sung thêm nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm, thay vào đó sử dụng những
thiết kế của người mua nước ngoài. Nhiều yếu tố đang làm hạn chế tiềm năng xuất khẩu cao
của ngành, đó là việc thiếu nhân công có tay nghề thành thạo, thiết bị lạc hậu, thiếu nguồn
rừng được chứng nhận để bảo đảm nguồn cung nguyên liệu nội địa và năng lực kinh doanh,
giao dịch trực tiếp với người mua hạn chế.
Ngành ô tô xe máy Việt Nam cho đến nay vẫn chủ yếu thực hiện các hoạt động lắp ráp với
hàm lượng nhập khẩu cao. Trên thị trường thế giới, Việt Nam hiện nay là nước xuất khẩu
quy mô nhỏ nhưng đang phát triển, với lượng nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Tiềm năng
của ngành này được coi là thấp, tuy nhiên chính phủ có những kế hoạch tham vọng nhằm
phát triển ngành vào năm 2010, nhắm tới mục tiêu sản xuất các loại xe phổ thông và sang
trọng và xuất khẩu phụ tùng cho những loại xe chuyên dụng. Để cạnh tranh với những nước
như Thái Lan và Malaysia, cần thúc đẩy việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ với
những công ty chuyên sản xuất phụ tùng thay thế, bộ phận cấu thành và linh kiện. Dự đoán
những ngành công nghiệp hỗ trợ này sẽ cần từ 5 đến 10 năm để phát triển. Việt Nam mong
đợi sẽ xuất khẩu 30% sản lượng sản xuất các bộ phận cấu thành của ô tô vào năm 2015.
Ngành thiết bị gia dụng ở Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, nhưng đã và
đang tăng trưởng nhanh chóng trong những năm gần đây. Tiềm năng xuất khẩu của ngành
được coi là cao. Hiện tại, các hãng của Nhật Bản và Hàn Quốc tại Việt Nam đang thực hiện
hầu như 90% khâu sản xuất, trong đó các hãng của Nhật thực hiện sản xuất phục vụ thị
trường nội địa Việt Nam còn các hãng của Hàn Quốc phục vụ xuất khẩu. Các mặt hàng này
bị hạn chế bởi thị trường nội địa nhỏ hẹp, các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển và
15
thiếu những bộ phận cấu thành được sản xuất tại địa phương. Hầu hết các nhà sản xuất chỉ
không có vẻ hỗ trợ đặc biệt cho ngành trong khi ngành này cần có một môi trường kinh
doanh ổn định.
Mức tăng trưởng xuất khẩu máy móc nông nghiệp khá đặc biệt và ngành này có tiềm năng
cao để phát triển hơn nữa nhằm tận dụng lợi thế thị trường nội địa và khu vực có nhu cầu
tương đối lớn. Các nhà sản xuất có năng lực mở rộng sản xuất và ngành tuyển dụng một lực
lượng lao động có chuyên môn, sản xuất những mặt hàng có chất lượng tương đối cao so
với giá thành thực hiện. Hơn nữa, ngành này được hưởng lợi từ những chính sách hỗ trợ của
chính phủ bao gồm trợ giúp tài chính cho các nhà sản xuất, giảm thuế suất nhập khẩu các
nguồn đầu vào và bảo hộ trước những mặt hàng nhập khẩu giá rẻ hơn. Theo Bộ Giao thông
Vận tải, hy vọng vào năm 2010 ngành này sẽ đáp ứng được 45-50% nhu cầu trong nước về
các sản phẩm máy móc nông nghiệp, và các sản phẩm có thể xuất khẩu sẽ chiếm khoảng
30% tổng giá trị sản xuất.
Ngành đóng tàu đang phát triển khá nhanh ở Việt Nam và thu hút nhiều nhà đầu tư và xuất
khẩu nước ngoài. Việt Nam có trên 60 công ty đóng tàu và xưởng sửa chữa của nhà nước.
16
Hiện tại, hàm lượng nội địa trong ngành có giới hạn, nhưng chính phủ đang đầu tư mạnh để
sản xuất thêm nguồn cung đầu vào trong nước để thay thế nhập khẩu. Trong những năm
qua, chất lượng tàu “sản xuất tại Việt Nam” đã cải thiện mạnh mẽ. Ngành này có thể được
coi là có tiềm năng xuất khẩu cao và chính phủ có những kế hoạch tham vọng để ngành trở
thành một ngành xuất khẩu quan trọng, đồng thời là ngành hỗ trợ chính cho các ngành khác.
Ngành đã đầu tư nâng cấp các xưởng đóng tàu và đặt kế hoạch có mức công nghệ ngang
tầm với các nước khác trong khu vực vào năm 2010.
Đối với các sản phẩm công nghiệp chỉ được nghiên cứu sơ bộ, tiềm năng xuất khẩu nhìn
chung ở mức trung bình. Đáng tiếc là báo cáo này không xem xét nghiên cứu các điều kiện
cung cấp nội địa của một số dòng sản phẩm trong lĩnh vực này do thiếu dữ liệu so sánh.
- Tình hình xuất khẩu của Việt Nam đối với máy móc và thiết bị điện có vẻ khiêm tốn do
Việt Nam chỉ chiếm một thị phần nhỏ trên thị trường thế giới và là nước nhập khẩu ròng.
Các điều kiện thâm nhập thị trường của Việt Nam đối với máy móc và thiết bị điện khá tốt
mặc dù mức tăng trưởng tổng thể về nhu cầu quốc tế trong 5 năm qua thấp khiến tiềm
năng xuất khẩu của ngành ở mức trung bình.
mặc dù các điều kiện thâm nhập thị trường không ưu đãi cho Việt Nam.
- Ngành đồ chơi và trò chơi được coi là có tiềm năng xuất khẩu cao. Trước đây Việt Nam
là nước xuất khẩu ròng, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng nhanh, đạt gần 28% mỗi năm về
mặt giá trị mặc dù mức tăng trưởng nhu cầu thế giới trong những năm gần đây không cao.
- - ặ t Đối với ngành vật liệu xây dựng, tiềm năng xuất khẩu được coi là trung bình. Việt
Nam là nước nhập khẩu ròng nhưng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng gần 8
lần so với mức trung bình thế giới (47%/năm). Mức tăng trưởng kinh tế cao cùng với sự
dấy lên các hoạt động xây dựng đã tạo nên nhu cầu mạnh mẽ đối với các loại vật liệu xây
dựng tại thị trường trong nước. Mức tăng trưởng nhu cầu quốc tế đối với vật liệu xây
dựng khá ổn định và đây là một ngành được bảo hộ một phần.
- - ự n Dụng cụ đo lường chính xác được coi là có tiềm năng xuất khẩu trung bình. Tình
hình xuất khẩu ở mức độ vừa phải do Việt Nam là nước nhập khẩu ròng và có thị phần
nhỏ. Mức tăng trưởng nhu cầu quốc tế đã và đang ổn định và các điều kiện thâm nhập thị
trường của Việt Nam tương đối tốt.
- - r ư Ngành sản xuất thủy tinh và sản phẩm thủy tinh được coi là ngành có tiềm năng
xuất khẩu cao. Việt Nam là nước nhập khẩu ròng thủy tinh và xuất khẩu rất ít trên thị
trường thế giới. Tuy nhiên, nhu cầu quốc tế tăng trưởng rõ rệt, mức tăng đạt được về mặt
giá trị là 14%/năm, về mặt số lượng là gần 11%. Các điều kiện thâm nhập thị trường khá
ưu đãi đối với Việt Nam.
- - u Trong lĩnh vực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử, Việt Nam là nước xuất khẩu
nhỏ nhưng mức xuất khẩu tăng trưởng khá nhanh trên thị trường thế giới. Các hãng nước
ngoài chiếm lĩnh khâu sản xuất do xu hướng thế giới là tiếp tục tìm kiếm các nguồn cung
cấp ở nước những nước có chi phí thấp. Việt Nam định vị tốt trong lĩnh vực này do là
nước có lực lượng lao động có khả năng thích ứng và có mức lương thấp. Hàng chục hãng
sản xuất của Nhật Bản đã tận dụng lợi thế từ những kế hoạch tạo động lực hấp dẫn ở
những khu chế xuất của Việt Nam và tham gia vào lĩnh vực lắp ráp các loại linh kiện đơn
giản. Thị trường thế giới đối với sản phẩm điện tử rất rộng lớn và tăng trưởng vững. Việt
Nam tương đối tự do khi thâm nhập những thị trường quan trọng. Nếu xét đến những yếu
tố này thì tiềm năng xuất khẩu của lĩnh vực này là trung bình. Phát triển xuất khẩu các
mặt hàng điện tử trong trung và dài hạn là một vấn đề của việc thu hút đầu tư nước ngoài
hạt tiêu và hạt điều. Đa dạng hóa sản phẩm và phát triển chế biến là một chiến lược quan
trọng đối với cao su. Chuyển đổi từ hình thức thầu phụ bị động chuyên khai thác lợi thế
lương thấp sang hình thức của một nhà sản xuất tiên phong với thiết kế và hàm lượng đầu
vào nội địa cao hơn và vai trò năng động trên thị trường thế giới là chiến lược trung và dài
hạn đối với các sản phẩm như may mặc và da giầy. Trong một số trường hợp, chiến lược
chính là thu hút đầu tư nước ngoài để tăng cường bí quyết sản xuất, chẳng hạn trong lĩnh
vực điện tử. Dưới đây là những sản phẩm và dịch vụ được tóm tắt về mặt tiếp cận theo
những ngành chủ đạo phát triển xuất khẩu (Bảng 2).
19
Bảng 2. Tiềm năng xuất khẩu ngành và các hành động ưu tiên
Ngành hàng
(xếp hạng
trong từng
nhóm theo
kim ngạch
xuất khẩu
năm 2003)
Đánh giá
bởi ITC
(chỉ số)*
Đánh giá
bởi các
chuyên
gia tư
vấn
trong
nước
Chú thích Hành động ưu tiên
Khoáng sản và sản phẩm khoáng sản
Dầu Cao
xuất khẩu tốt mặc dù có
các cuộc điều tra bán phá
giá (catfish và tôm ở Hoa
Kỳ).
Phát triển nuôi trồng
thủy hải sản để tránh
thiếu nguồn dự trữ tại
kho; cung cấp những hệ
thống phù hợp nhằm
đảm bảo chất lượng tin
cậy; nâng cấp sản phẩm
và quy trình chế biến;
phát triển hơn nữa nhiều
loại sản phẩm thân thiện
với người tiêu dùng; cải
tiến bao gói và nhãn
hiệu.
Nông sản
Cà phê Cao**
(3,1)
Cao Việt Nam là nước sản
xuất cà phê khá cạnh
tranh với sản lượng cao
và chi phí sản xuất thấp.
Công nghệ sau thu
hoạch, vấn đề lưu kho và
chế biến còn lạc hậu.
Nâng cấp chất lượng cà
phê hạt xanh bằng cách
đầu tư cho nghiên cứu,
khu vực sản xuất có quy
mô nhỏ, tính chất phân
đoạn cao nên làm ảnh
hưởng tiêu cực đến năng
suất, chi phí sản xuất và
khả năng thu lợi. Nguồn
nguyên liệu đầu vào như
thóc giống, phân bón và
thuốc trừ sâu có chi phí
tốn kém hoặc chất lượng
thấp. Nhiều tổn thất sau
thu hoạch do công nghệ
thu hoạch lạc hậu,
phương tiện vận chuyển
yếu kém và cơ sở hạ tầng
nghèo nàn. Chất lượng
thấp mặc dù đã có sự cải
thiện. Thuế suất cao và
phân biệt đối xử.
chất lượng gạo thành
phẩm. Cải tiến hiệu quả
của các ngành công
nghiệp hỗ trợ.
Khai thác cơ hội đa
dạng hóa thị trường
Nhật Bản, Trung Quốc,
Ôtxtrâylia và New
Zealand.
Hạt điều và
các loại hạt
Cải tiến chất lượng
nguyên liệu thô và qui
trình chế biến; cải thiện
cơ sở hạ tầng hỗ trợ như
kho chứa và thiết bị bảo
quản đông lạnh. Đăng
ký thương hiệu Việt
Nam tại nước ngoài.
Khai thác các cơ hội đa
dạng hóa thị trường EU,
Hoa Kỳ và Canada.
21
Hạt tiêu và
các loại gia vị
khác
Cao
(3,1)
Cao Ngành hướng chủ yếu
vào xuất khẩu, sản lượng
xuất khẩu chiếm 95%
tổng sản lượng sản xuất.
Việt Nam là nước xuất
khẩu hạt tiêu đen lớn nhất
thế giới. Những yếu kém
bao gồm công nghệ chế
biến lạc hậu và chất
lượng sản phẩm vẫn thấp
Nâng cấp chất lượng và
qui trình chế biến; bảo
đảm các đồn điền sản
(2,7)
Thị trường thế giới đối
với sản phẩm gỗ có đặc
điểm là nhu cầu thấp, giá
giảm và cung vượt cầu.
Việt Nam là nước nhập
khẩu ròng và nhu cầu
trong nước đối với gỗ
nguyên liệu khá lớn.
Ở đây không đánh giá
chi tiết, cần phân tích
thêm.
Mật ong Trung
bình**
(2,6)
Ngành hàng xuất khẩu
quy mô nhỏ, tăng trưởng
nhanh trên thị trường thế
giới năng động mặc dù
các điều kiện thâm nhập
thị trường kém. Hoa Kỳ
là thị trường xuất khẩu
đích chủ yếu.
Ở đây không đánh giá
chi tiết, cần phân tích
thêm. Khai thác các cơ
hội đa dạng hóa thị
trường Canada và
Ôtxtrâylia.
Hoa tươi cắt
thị trường đang tăng
trưởng, có tiềm năng
cao đối với xuất khẩu
22
nguyên vỏ và đối tác xuất
khẩu là Hongkong
của Việt Nam.
Sản phẩm công nghiệp
Các sản phẩm
từ sợi đay
Thấp**
(2,2)
Ngành hàng xuất khẩu
quy mô nhỏ, tăng trưởng
nhanh trên thị trường thế
giới đang suy giảm. Việt
Nam phải đối mặt với các
điều kiện thâm nhập thị
trường tương đối kém.
Ở đây không đánh giá
chi tiết, cần phân tích
thêm. Khai thác các cơ
hội đa dạng hóa thị
trường Hoa Kỳ, Iran và
Hongkong.
Hàng may
mặc và
nguyên phụ
liệu
Cao
(3,2)
Trung
bình
Xuất khẩu tăng trưởng
đối với những sản phẩm
có chất lượng cao. Sản
xuất da thuộc tăng vượt
dốc. Là ngành công
nghiệp có giá trị gia tăng
thấp, phụ thuộc chủ yếu
vào nhập khẩu và các hợp
đồng thầu phụ (những thị
trường xuất khẩu hàng
đầu trên thế giới cung cấp
cho ngành hàng này của
Việt Nam các thiết kế,
nguyên vật liệu và đôi khi
cả máy móc).
Cải tiến thiết kế, đa
dạng hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động và
thu hút đầu tư cho sản
xuất các nguồn nguyên
liệu đầu vào và nguyên
phụ liệu. Chuyển từ
hình thức thầu phụ bị
động với hàm lượng
nhập khẩu cao sang việc
marketing chủ động
hơn.
lượng nhập khẩu cao.
Xuất khẩu linh kiện ô tô
được tập trung theo loại
sản phẩm (bộ dây đánh
lửa) và đối tác xuất khẩu
(Nhật Bản). Hầu như
không có các ngành công
nghiệp hỗ trợ tại Việt
Nam, nhưng chính phủ có
những kế hoạch tham
vọng.
Thúc đẩy phát triển các
ngành công nghiệp hỗ
trợ. Tập trung sản xuất
những loại xe có chi phí
thấp. Khai thác các cơ
hội đa dạng hóa thị
trường EU và Hoa Kỳ.
Đồ đạc và
thiết bị gia
dụng
Cao
(3,1)
Trung
bình
Xuất khẩu tăng trưởng
mạnh mặc dù Việt Nam
vẫn ở giai đoạn đầu của
sự phát triển. Tiềm năng
xuất khẩu cao chủ yếu do
Nhựa Trung
bình
(2,6)
Trung
bình
Ngành xuất khẩu tăng
trưởng nhanh, thị trường
thế giới rộng và đang tăng
trưởng. Ngành này đã tiếp
cận những thị trường
mới, chủ yếu bao gồm
những doanh nghiệp vừa
và nhỏ không có khả năng
tạo nên nền kinh tế có
quy mô. Việt Nam phụ
thuộc vào các nguồn đầu
Tập trung vào chương
trình xúc tiến thương
mại quốc gia. Xác định
các mục tiêu cơ hội cho
xúc tiến xuất khẩu và để
các lĩnh vực khác thay
thế nhập khẩu hoặc tìm
kiếm nguồn nhập khẩu
tốt hơn.
24
vào nhập khẩu.
Dây, cáp và
vật liệu dẫn
điện
Cao
(3,1)
Trung
bình
Nhu cầu trong khu vực
khá cao và các sản phẩm
có tỷ lệ chất lượng và giá
thành tốt.
Tạo một chương trình
xúc tiến thương mại
quốc gia. Đa dạng hóa
sản phẩm và cải tiến các
thiết kế công nghiệp.
Đóng tàu Cao
(3,1)
Cao Đang trở thành ngành
xuất khẩu quan trọng.
Chất lượng đóng mới và
sửa chữa tàu được coi là
cao. Đầu tư của nước
ngoài và chính phủ khá
lớn, cải tiến chất lượng
nhanh.
Đầu tư cơ sở hạ tầng,
phát triển các ngành
công nghiệp hỗ trợ, cải
tiến thiết kế mẫu mã tàu
và nâng cấp công nghệ.
Máy điện Trung
bình
Cao Ngành xuất khẩu quy mô
nhỏ với mức tăng trưởng
xuất khẩu đặc biệt khác
thường. Nhật Bản là thị
trường xuất khẩu đích.
Các điều kiện thâm nhập
thị trường tốt.
Ở đây không đánh giá
chi tiết; cần phân tích
thêm. Khai thác các cơ
hội đa dạng hóa thị
trường Hoa Kỳ, Trung
Quốc, và EU.
Thông tin liên
lạc và viễn
thông
Trung
bình**
(2,9)
Mức tăng trưởng nhu cầu
thế giới là tương đối. Vẫn
là một ngành có quy mô
nhỏ ở Việt Nam, nhưng
mức tăng trưởng xuất
khẩu rất ấn tượng.
Ở đây không đánh giá
chi tiết; cần phân tích
thêm.
25