Cách làm chuồng nuôi và thức ăn cho dông
- Con kỳ nhông hay còn gọi là con dông sống và làm tổ trên đất cát, dông là một loài bò
sát đang là món đặc sản được các nhà hàng, quánnhậu tiêu thụ rất mạnh. Do bị săn bắt
ngày càng nhiều và do môi trường sống bị biến đổi khiến cho loài dông có nguy cơ bị
tuyệt chủng. Chính vì vậy mà hiện nay một số nông dân nhanh nhạy chuyện làm ăn bắt
đầu tính đến chuyện nuôi dông để bán thịt.
- Đặc điểm: dông gần giống con tắc kè, da hồng đỏ, trên lưng có lớp gai chạy dọc theo
xương sống. Nuôi khoảng 8 - 10 tháng thì bán thịt, đạt trọng lượng 13 – 15 con/kg, thịt
dông trắng như thịt gà. Dông trưởng thành đạt 6 tháng tuổi, sinh sản rất nhanh, thời gian
mang thai 10 ngày, một lần đẻ từ 3 – 6 trứng, 45 ngày sau trứng nở ra dông con, tiếp tục
nuôi thêm 1 tháng nữa là có thể bán giống. Dông dễ nuôi, ít bệnh tật, tỷ lệ nuôi sống 95%
trong khi chi phí đầu tư thấp, ít tốn công chăm sóc hơn các loài vật khác nên hiệu quả
kinh tế cao. Đặc biệt chúng leo trèo rất giỏi và có thể nhảy xa cả mét từ cành cây này
sang cành cây khác.
- Chuồng nuôi: dùng gạch xây tường rào xung quanh cao 1.2m, bên trên có viền tole
láng 30cm để dông không bò được ra ngoài, dưới đáy chuồng đổ 1 lớp xi măng dày
khoảng 2cm (để con dông không thể đào hang chui ra) nhưng phải đảm bảo không bị ứ
nước khi trời mưa. Sau đó, đổ lớp cát dày 1m lên đáy chuồng (loại cát có màu đỏ mà loài
dông ưa sống); đắp gò, trồng cỏ tạo khoảng trống cho con dông chạy nhảy, đào hang. Do
dông thích sống trong hang nên nó tự đào hang sâu 30cm để sống. Mùa mưa nó chui lên
xuống liên tục, mùa nắng trú ẩn ở dưới hang cho mát. Chuồng nuôi phải cách xa khu dân
cư, tránh sự rượt bắt của mèo và chuột cống. Trong khuôn viên nuôi nên trồng vài cây
trứng cá khi quả chín rụng xuống làm thức ăn cho dông.
- Thức ăn: dông chỉ lên khỏi hang kiếm ăn một lần vào khoảng giữa trưa, thức ăn chủ
yếu là các loại lá cây, cỏ, rau càng cua, rau muống, cà chua, dưa hồng, trái trứng cá, sâu,
giun….
- Hiệu quả kinh tế: 1kg dông giống khoảng 10 con, giá 150.000đ. Đầu tư 15 triệu mua
100kg dông giống được 1000 con, nếu nuôi tốt khoảng 8 tháng dông đạt 300g/con sẽ cho
300 kg dông. Giá dông thương phẩm 200.000đ/kg, sẽ thu được 60 triệu đồng. Sau khi trừ
chi phí xây dựng chuồng, thức ăn, công chăm sóc, khấu hao chuồng trại, lợi nhuận thu
đuổi dông thú vị lại kéo bước chân ông vào hoang mạc cho cuộc săn mới. Ông Hải khoát
tay bảo “sinh nghề tử nghiệp mà”, mắt ông trầm lại, chắc ông nhớ đến Bảo, Minh, Hà
những người thợ săn dông cùng thời với ông đã gặp chuyện không may trên những hoang
mạc khô khốc.
Vài năm trước, khi giá dông còn ở mức 30.000 đồng- 40.000 đồng/kg, mỗi ngày các thợ
săn tối thiểu cũng kiếm được gần 200.000 đồng. Nhưng dông cạn dần, số lượng dông lớn
trên 300 gr hầu như không có, dù các thợ săn tài tình đến mấy. Giá dông tăng lên đến gần
100.000 đồng/kg nhưng không có bán, thợ săn đã nhanh tay hơn việc sinh đẻ của dông.
Trong cái khó đã ló cái liều. Ông Hải quyết định thử nuôi dông thử xem. Nhưng ông
cũng không chắc thành công lắm, vì “chúng quá hoang dã. Tôi không nghĩ những động
vật quen sống trong tự nhiên lại có thể nuôi đại trà được” - ông nói.
Những sa mạc trong nhà.
- Tận dụng khoảng trống sau vườn nhà, ông Hải đầu tư 850.000 đồng để xây một chuồng
thử nghiệm nuôi dông với diện tích 30 m2. Vậy mà thành công, một số con giống được
thả vào hố cát ông đào sẵn trong nhà sống tỉnh bơ, cũng đào hang như ở hoang mạc tự
nhiên và ăn tất tần tật những thứ ông bỏ vào chuồng. Ông đánh liều thả nuôi 600 con
dông giống được hơn ba tháng qua. Ông cho biết: “Mỗi ngày, chỉ cần mua 3.000 – 4.000
đồng rau quả phế thải ngoài chợ như cà chua ung, xà lách, rau muống là đủ cho chúng
ăn, cần thiết thì có thể trộn thêm cám”. Đặc biệt, chỉ cần cho dông ăn một lần trong ngày,
vào khoảng 9 – 10 giờ sáng. Ông còn cho biết thêm, loài dông đẻ rất nhanh, từ khi mang
trứng đến khi nở con chỉ khoảng 10 – 12 ngày, dông con ban đầu chỉ lớn bằng con thằn
lằn.
Thừa thắng xông lên, các thợ săn dông ở Ninh Thuận mở rộng mô hình nuôi và phổ biến
ra các nơi khác. Vùng động cát Mỹ Phước từng có tiếng với nghề bắt dông vì đây là địa
bàn lý tưởng cho loài bò sát này sinh sống, và cũng không ít người đã phải “sinh nghề tử
nghiệp” vì con dông. Hiện ở đây có 3 hộ đã xây chuồng nuôi dông. Chuồng dông được
làm rất đơn giản: chỉ cần dùng táp-lô xây một vòng tường thành sâu xuống lòng đất từ 50
– 60 cm, phần tường ở trên cao 1 m, dưới đáy chuồng phải đổ một lớp xi măng dày
khoảng 2 – 3 cm (để con dông không thể đào hang chui đi mất) nhưng phải bảo đảm
nước rút nhanh khi chuồng bị ngập úng. Sau đó lấp một lớp cát dày từ 40 cm – 50 cm lên
cả lại phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái với sự thu mua thất thường của họ. Thiết nghĩ,
nghề nuôi dông thực sự có hiệu quả kinh tế, đặc biệt đối với vùng đất cát Minh Thuận,
sản xuất nông nghiệp rất khó khăn. Để bà con an tâm với nghề mới, đã đến lúc các nhà
khoa học giúp dân bằng cách nghiên cứu toàn diện về loài dông, giúp dân hiểu biết quá
trình sinh trưởng, đặc biệt là tìm cách cho dông đẻ nhân tạo, tạo nguồn giống
Danh tiếng của mỗi địa phương thường gắn liền với một hoặc vài loại sản vật nào đó.
Ninh Thuận đã có nho, nay nghề nuôi dông lại tạo ra một đặc sản mới, có tính bền vững
cao. Ngồi cạnh những cơn gió bát ngát mà tu cốc rượu nho, nhấm miếng gỏi dông nghe
kể những câu chuyện lang thang hoang mạc thì tuyệt vời biết bao
CHÍ DŨNG-TÚ HÂN - NLD