ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ BIỆN PHÁP THI CÔNG LÕI THANG MÁY THEO PHƯƠNG PHÁP VÁN KHUÔN TRƯỢT - Pdf 11

BÁO CÁO MÔN HỌC
KỸ THUẬT THI CÔNG & BÀI TẬP
LỚN
ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ BIỆN PHÁP THI CÔNG
LỖI THANG MÁY THEO PHƯƠNG PHÁP
VÁN KHUẨN TRƯỢT
GVHD : ThS.ĐỖ CAO TÍN
NHểM:6
NGUYỄN VĂN CHIẾN -10114010
LÊ TRUNG ĐÀ -10114026
ĐOÀN VIẾT GIANG -10114036
Vế VĂN TOÀN -10114149

I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ THI CÔNG CÔNG TRÌNH BẰNG CỐPPHA
TRƯỢT.
1.Phương hướng cơ bản nhằm tăng cường độ hiệu quả trong thi công các kết cấu, công
trình đổ bêtông tại chỗ.
Để có được hướng đi đúng đắn nhằm hoàn thiện và phát triển công nghệ thi công kết cấu
công trình đổ tại chỗ, việc nghiên cứu phải xem xét trên quan điểm toàn diện và đồng bộ, phải
chú ý đến điều kiện khí hậu và đặc điểm của nền kinh tế thị trường trong xây dựng ở nước ta.
Trong thi công công trình đổ tại chỗ cần phải triển khai các biện pháp nhằm tăng cường có hiệu
quả với công tác cốppha, công tác cốt thép, thi công bêtông và cơ giới hoá đồng bộ trong thi
công. Phương hướng cơ bản trong việc hoàn thiện và phát triển công nghệ thi công bêtông trước
hết phải tập trung và nghiên cứu các biện pháp sau đây nhằm nâng cao năng suất lao động và
chất lượng công trình, trong đó phải luôn lấy chất lượng công trình làm hàng đầu:
- Việc gia công chế tạo cốt thép phải tập trung hoá công tác lắp dựng trên hiện trường, ưu
tiên liên kết hàn.
- Hệ cốppha phải được định hình hoá và đảm bảo độ luôn chuyển cao. Việc chế tạo cốppha
phải tập trung hoá và tổ chức sử dụng với cường độ cao.
- Tăng cường sử dụng có hiệu quả loại bêtông thương phẩm, sử dụng hợp lý các loại phụ gia
cho bêtông. Trạm trộn có khả năng cơ giới hoá và tự động hoá cao, nếu có thể thì bố trí ngay tại

cốppha tiên tiến đang sử dụng trong và ngoài nước. Việc sản xuất cốppha phải chuyên môn hoá
với mục đích nâng cao chất lượng cốppha, giảm công lao động lắp dựng và tháo dỡ tại hiện
trường.
Để giảm chi phí lao động trong công tác cốppha cần sử dụng vật liệu làm cốppha đặc biệt là
ván mặt với chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu công nghệ. Đối với cốppha thép cần có lớp
phủ bảo vệ và tránh sự bám dính. Khung và các chi tiết của cốppha nên làm bằng thép, mặt nên
sử dụng loại gỗ dán có tẩm bakêlít. Thép sử dụng làm khung sườn nên ding loại thép gò để giảm
khối lượng của cốppha.
Trên công trường công tác cốppha cần phải đảm bảo do các tổ đội chuyên môn hoá có kinh
nghiệm thi công cơ giới hoá đồng thời nắm chắc các quy trình kỹ thuật và quy trình về an toàn
lao động.
II. Cơ sở khoa học của công nghệ thi công công trình cao tầng bằng cốppha trượt.
Trong công nghệ thi công công trình bêtông và bêtông cốt thép đổ tại chỗ thì công tác
cốppha có ý nghĩa lớn về chất lượng, tiến độ và giá thành công trình. Công nghệ cốppha luôn có
một thế mạnh và thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên gia cũng như các nhà
sản xuất xây dựng.
Với công trình bêtông cốt thép có chiều cao lớn, nếu sử dụng cốppha thông thường là không
hợp lý và kinh tế bởi lẽ độ luân chuyển cốppha này thấp, thi công cần đến hệ chống và dàn giáo
quy mô chống đỡ từ mặt đất, trong khi đó việc đảm bảo chất lượng lại không cao, thậm chí gây
cản trở và mất an toàn cho thi công. Một giải pháp nâng cao hiệu quả về chất lượng và sử dụng
cốppha đối với công trình này là sử dụng cốppha trượt.
Hàng loạt các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tiết kiệm khi đổ bêtông công trình
có chiều cao lớn và vấn đề thời gian sử dụng lại cốppha. Khi đổ bêtông công trình có chiều cao
lớn dùng một đoạn cốpppha, rồi trượt dần lên sẽ kinh tế và nhanh hơn là lắp ghép nhiều đoạn
cốppha. Thời gian bất động của cốppha càng lớn thì đều không có lợi, vì lượng cốppha cần càng
nhiều, việc sử dụng luân chuyển cốppha lại càng ít, do đó giá thành sẽ cao.
Công nghệ thi công sử dụng cốppha trượt là một công nghệ thi công tiến bộ, tổ chức quá
trình thi công là một cách khoa học và nghiêm ngặt theo phương pháp tổ chức thi công dây
chuyền liên tục tốc độ cao. Sự liên tục trong thi công sử dụng cốppha trượt là sự thể hiện kết hợp


đặc điểm công trình và yêu cầu của công nghệ trượt để đề xuất ý kiến điều chỉnh cục bộ với thiết
kế công trình, các phương pháp xử lý các bộ phận không thuận lợi cho thi công và phân chia khu
vực tiến hành trượt.
Trong thiết kế cần phải xem xét ngay từ đầu một số vấn đề cơ bản sau:
- Độ thẳng đứng của bộ phận kết cấu công trình được thiết kế sẽ quyết định các trạng thái
trượt của cốppha khi đổ bêtông, cốppha trượt chỉ thực hiện với kết cấu có bề mặt thẳng đứng như
tường, cột, dầm cao…
- Phải nghiên cứu để hệ lưới cột, tường dầm có sự thống nhất trùng nhau nhiều nhất trên cả
mặt bằng, độ cao trong mặt phẳng thẳng đứng. Thiết kế sao cho tránh được sự thay đổi không

cần thiết với toàn bộ hệ cốppha hay hệ bổ sung thêm các loại cốppha khác. Với lý do đặc biệt
mới nên bố trí ở chỗ bất kỳ; khi bố trí các bộ phận kết cấu theo phương thẳng đứng vẫn cho phép
ghép các khối có chiều cao khác nhau.
- Đảm bảo chiều dày tối thiểu của bộ phận kết cấu tường, dầm, cột để có thể ứng dụng được
công nghệ cốppha trượt. Nó không những phụ thuộc vào dạng kết cấu mà cả vật liệu bêtông.
- Cấu kiện ở cùng một độ cao nên dùng bêtông có cùng cấp cường độ. Theo chiều dịch
chuyển của cốppha, kích trước mặt cắt nên giảm nhỏ dần. Góc âm nơi tiếp giáp giữa cột và
tường, chỗ giao nhau giữa các tường nên làm góc nghiêng. Mặt cắt tường của kết cấu không nên
thay đổi.
III. Một số đặc điểm thi công cốppha trượt nhà cao tầng.
Thi công bằng cốppha trượt là một phương pháp thi công trình độ cơ giới hoá cao, tổ chức thi
công nghiêm ngặt, tố độ nhanh và có hiệu quả giống như công trình bêtông đổ tại chỗ. Nó thông
qua trạm bơm dầu, lợi dụng mối quan hệ tương hỗ của cốppha, ty kích và bêtông mới đổ khiến
cho toàn bộ kích đem cốppha, sàn thao tác tải trọng thi công trên sàn cùng dịch chuyển lên cao
dọc theo ty kích. Khi thi công, một mặt vừa đổ bêtông, một mặt vừa trượt cốppha lên trên tạo
nên kết cấu theo thiết kế.
Trượt vách, cột kết cấu và thi công sàn có thể dùng phương pháp thi công đồng bộ hoặc dị
bộ. Công nghệ thi công kết cấu cốppha trượt chủ yếu có đặc điểm sau:
- Dựa vào kích thước mặt cắt kết cấu mà tổ hợp cốppha một lần khi thi công trượt để cốppha
dịch chuyển đồng bộ. Nói chung không nên tổ hợp lại trên cao.

Hình: ảnh minh hoạ thiết bị cốppha trượt
Trong đó:
A: Sàn đỡ bêtông (Pouring platform)
B: Vách cốppha (Wall formwork)
C: Sàn thao tác (Working platform)
D: Profile dẫn hướng

E: Sàn trượt theo (Follow - up platform)
• Hệ thống cốppha:
Chiều cao của tấm cốppha trượt trung bình 1,1 ữ 1,2m; bộ cốppha này bao quanh toàn bộ kết
cấu đứng cần phải đổ bêtông bằng cốppha trượt.
Thông thường cốppha gồm các bộ phận: cốppha sàn, cốppha góc, cốppha lỗ cửa. Các tấm
thường dùng thép chống uốn nguội dày 2 ữ 2,5mm hoặc hàn thép thép góc.
• Hệ thống sàn nâng:
Dùng để thực hiện các thao tác trong quá trình thi công. Hệ thống này được bố trí tại hai cao
trình:
- Cao trình trên liên kết trực tiếp vào mảng cốppha và được gọi là sàn thao tác chính. Sàn
thao tác dùng để chứa vật liệu, lắp dựng cốt thép, vận chuyển, đổ bêtông, lắp cốppha cửa hoặc
dịch chuyển cốppha khi cần thiết.
- Cao trình dưới được liên kết với sàn thao tác trên bởi xích hoặc dây treo và gọi là sàn treo.
Sàn treo dùng để kiểm tra chất lượng bêtông, hoàn thiện bề mặt ngoài và tháo dỡ hộp khuôn các
lỗ cửa nếu có. Hình vẽ trên ký hiệu 7,8
1 - Tấm cốppha
2 - Khung kích
3 - Cơ cấu chống nâng kích
4 - Thanh trụ kích (ty kích)
5 - Sàn thao tác trong
6 - Sàn thao tác ngoài
7 - Sàn treo trong
8 - Sàn treo ngoài

cấu sau khi thi công. Liên kết thanh trụ kích có thể bằng mối hàn, nối kiểu chốt mộng (kiểu âm
dương), chốt nêm, nối vặn ren…
Hình: Chi tiết nối thanh trụ kích kiểu âm dương
Đầu thanh kích có loại đầu bằng, đầu nhọn, đầu côn, đầu vặn ren. Khi nối thanh kích phải
vuông góc với trục dọc của thanh. Độ nghiêng lệch đường kính phải ≤ 0,5cm; bề mặt xung quanh
của thanh và các ren cần song song với độ lệch cho phép không quá 0,25mm.
- Kích: có nhiệm vụ đưa toàn bộ cốppha và sàn nâng trượt lên dọc theo các ty kích. Sức nâng
của một kích thuỷ lực thông thường từ 10 tấn trở lên. Các loại này cho phép tăng khoảng cách bố
trí khung kích tạo sự thuận lợi cho thi công xây dựng, dễ dàng đổ bêtông, lắp cốt thép, tạo điều
kiện tăng năng suất lao động hạ giá thành công trình. Hiện nay có rất nhiều lạo kích như: Kích
thuỷ lực, kích cơ điện, kích bàn ren, kích kẹp, kích khi nén.
+ Kích thuỷ lực (Chủ yếu là kích dầu CIFA) được sử dụng phổ biện vì loại kích nhỏ công
suất lớn và sử dụng đơn giản, tiện lợi.

Hình: Kích thuỷ lực CIFA
Các kích được nối với nhau thành từng chuỗi và được điều khiển qua trạm vận hành của máy
bơm trung tâm.
Máy bơm trung tâm có thể vận hành được 80 ữ 100 kích. Trong thi công để đảm bảo an toàn
tuyệt đối người ta chỉ dùng 30 ữ 40 kích.
?
H
N¹p dÇu
Håi dÇu
VÞ trÝ 1
VÞ trÝ 2 VÞ trÝ 3
Hình: Sơ đồ nguyên lý làm việc của kích thuỷ lực
Sơ đồ một chu kỳ làm việc của kích có thể được mô tả theo 3 vị trí:

- Vị trí 1 - Là giai đoạn chuẩn bị bắt đầu bơm dầu.
- Vị trí 2 - Kích đã được nâng lên do áp lực của dầu so với vị trí ban đầu một đoạn ∆h.

Hệ thống áp lực dầu:
- Trạm điều khiển nâng áp lực dầu: áp lực định mức của bơm dầu lấy 120 l/cm
2
. Lưu lượng
của bơm dầu dựa vào số lượng kích và thời gian một lần cấp dầu để tính toán xác định, nói
chung có thể lấy 25 ữ 50 l/phút. Dung tích hữu hiệu của thùng dầu phải > 3 lần dung tích của các
kích và đường ống, nếu dung tích thùng dầu không đủ có thể dùng thùng dầu phụ. Đối với môtơ,
van đổi chiều, van lọc, đường ống dầu nên bố trí đồng bộ theo áp lực lưu lượng tính toán.
- Bố trí đường dẫn: yêu cầu của việc bố trí đường dẫn là cần rút ngắn thời gian cấp và thu hồi
dầu, tăng tốc độ trượt, rút ngắn thời gian tối đa vênh thời gian và độ vênh của các kích trước và
sau khi trượt, để tránh một số kích trượt lên sớm mà dưới tác động của sàn cứng hoặc hệ thống
cốppha, xuất hiện trạng thái vượt tải. Bố trí đường dầu thường có các cách sau:
+ Phương pháp nối tiếp: ưu điểm là đường dầu về đơn giản, nếu lực cản của ống dầu tương
đối nhỏ, áp lực của kích có thể như nhau; nhược điểm của nó là độ chênh trượt tương đối lớn, dễ
tạo ra độ chênh trượt bậc thang, điều chỉnh phức tạp, phải cắt đường dầu khi cần thay đổi kích.
+ Phương pháp nhóm nối song song: ưu điểm nổi bật là thuận lợi cho việc điều chỉnh độ lệch
nâng, khi đổi kích không cần cắt đường dầu; nhược điểm của nó là thời gian hồi dầu dài, đường
ống dầu tương đối nhiều. Trong nối song song, về đường kính ống, chiều dài ống, phương thức
bố trí các nhóm yêu cầu như nhau để giảm độ lệch khi nâng do tốc độ cấp và hồi dầu không bằng
nhau.
+ Phương pháp hỗn hợp: trong mỗi đường nhánh nối song song, số lượng nối tiếp có gắng
giảm ít. Chiều dài đường dầu cần cố gắng như nhau để giảm độ chênh nâng của kích nối nối tiếp.

Đường dầu phân cấp bố trí các nhóm chia ra của nó phải đánh dấu rõ ràng, đường ống dầu nên
tập trung đặt ở sàn cố định ở mép sàn.
- Dầu thuỷ lực: cần có tính trơn và tính ổn định tốt, độ nhớt của nó được xác định dựa vào
yêu cầu của áp lực và điều kiện nhiệt độ.
Sau khi lắp đặt xong hệ thống áp lực dầu phải vận hành thử, đầu tiên phải bơm dầu xả khí,
sau đó tăng áp tới 100 kG/cm
2

công đạt kỷ lục thấp nhất.

- Phương pháp khắc phục dễ dàng trong những điều kiện xây dựng chật hẹp nhờ thiết lập
chính xác các bước của dây chuyền công nghệ kèm theo các nhu cầu và dự trữ tài nguyên, thiết
bị… đảm bảo cho quá trình thi công liên tục.
- Rút ngắn thời gian tháo cốppha, đảm bảo tốc độ thi công nhanh khi xây dựng tường, vách
cứng mà các phương pháp khác không thể có được. Trên thực tế tốc độ nâng cốppha tối ưu đạt 6
ữ 7 m/ngày hoặc 25 ữ 30 cm/h. Cốppha được nâng đồng thời và lấy công đoạn đổ bêtông làm
dây chuyền chủ đạo chính.
- Đảm bảo chất lượng thi công cao, tính liền khối của công trình vì không tạo ra mạch ngừng
(khớp nối). Thi công tường và sàn đảm bảo tính toàn khối với lượng thép giảm đáng kể.
- Thi công các công trình có chiều cao lớn (hàng trăm mét) mà không cần đến hệ cột chống
và dàn giáo quy mô như các phương pháp thông thường. Phương pháp này đảm bảo tiết kiệm
được vật liệu và chi phí lao động. Nếu thống nhất hoá và tạo ra được cốppha vạn năng (bằng
thép, gỗ, chất dẻo…) cho phép thi công được các dạng kết cấu công trình khác nhau thì hiệu quả
tiết kiệm càng cao.
- Việc hoàn thiện đồng thời với quá trình đổ bêtông lên cao cho nên đã tiết kiệm được vật
liệu và chi phí lao động khá nhiều. Khi hoàn thiện chỉ cần xoa nhẵn bề mặt tường vói lớp phủ 3 ữ
7mm thay cho lớp trát dày 25mm vì mặt tường ra khỏi cốppha đã khá bằng phẳng và đều đặn.
- Đảm bảo được độ luân lưu sử dụng cao với cốppha cũng như các bộ phận chi tiết (khoảng
150 ữ 500 lần). Cốppha sử dụng có chiều cao không lớn, thường từ 1 ữ 2m.
- Giảm chi phí lao động do việc cơ giới hoá cao trong quá trình thi công, công tác cốppha chỉ
cần một lần lắp dựng cho hết quá trình thi công. Ngoài ra còn làm thay đổi hẳn lao động vất vả
của người thợ.
- Đảm bảo thi công liên tục trong mọi điều kiện kể cả thời tiết lạnh nếu có các biện pháp
dưỡng nhiệt kèm theo.
2. Nhược điểm:
- Thi công phải được trang bị thiết bị nâng (kích nâng) và phải tốn thêm cốt thép làm thanh
trụ kích.
- Quá trình thi công phải tuân thủ nghiêm ngặt theo một quy trình công nghệ chặt chẽ.

. h . δ
F: Lực ma sát:
2
bt
.h
F = f.
2
γ
.
Vậy theo bất đẳng thức (1) ta có: γ
bt
. h. δ ≥ 2.
2
bt
.h
f.
2
γ
→ δ > f . h
Với:
γ
bt
: Trọng lượng riêng của bêtông: γ
bt
= 2500 kG/m
3
h : Chiều dày lớp đổ bêtông trên cùng: h = 20 ữ 30 cm
f : Hệ số ma sát giữa thành cốppha và bêtông, lấy f = 0,6
→ δ ≥ 0,6. 30 = 18 cm
Với lõi thang máy ta có chiều dày δ = 30 cm, so sánh thấy điều kiện chiều dày tối thiểu của

max
= v. t
0
(m)
v: Tốc độ trượt trung bình của hệ cốppha, v = 12,5 cm/h
t
0
: Thời gian bêtông bắt đầu ninh kết: t
0
= 4 h
→ h
max
= v. t
0
= 0,125. 4 = 0,5 m
Vậy: p
max
= h
max
.γ = 0,5. 2,5 = 1,25 T/m
2
= 1250 kG/m
2
Áp lực do đầm bêtông: P
2
= 200 kG/m
2
Chọn cốppha thép định hình có kích thước như hình vẽ:

15 15 15

q .l 5,655.60
M = = = 2544,75 kG.cm
8 8

2
3
0,4.5
W = 3. = 5 cm
6

2
max
max
M
2544,75
= = = 508,95 kG/cm
W 5
σ

Nhận thấy σ
max
= 508,95 kG/cm
2
< [σ] = 2300 kG/cm
2
.
Vậy các tấm cốppha đảm bảo điều kiện bền và khoảng cách giữa các thanh đà ngang bằng
60cm là đảm bảo.
Kiểm tra theo điều kiện độ võng:
Cốppha được gia cố bởi các sườn ngang, sườn dọc → Độ võng của cốppha là rất nhỏ. Do vậy

j
: Trọng lượng bản thân và hoạt tải của sàn công tác phía dưới.
l: Khoảng cách giữa 2 thanh trụ kích.
Khả năng chịu lực của thanh trụ kích được xác định theo công thức Ơle:
2
2
.E.J
P =
k.( .L)
π
µ
 
 

Trong đó:
k: Hệ số an toàn, lấy k = 2
ỡ: Hệ sốphụ thuộc vào liên kết của ti kích, lấy µ = 0,7
L: Chiều dài làm việc của ti kích.
E: Môđun đàn hồi của vật liệu làm ti kích.
J: Mômen quán tính của tiết diện ti kích.
Vậy để thanh trụ kích làm việc tốt thì :
P
max
≤ [P] →
2
2
s f i
.E.J
l
2.k.(P + F + P).( .L)

.h
2500.0,5
F = 2.f. = 2.0,6. = 375 kG/cm
2 2
bt
γ

P
s
+ P
i
+ F
f
= 300 + 375 = 675 kG/m = 6,75 kG/cm.

Vậy
2 2 6
2 2
s f i
.E.J .2,1.10 .5,5
l = = 383 cm
2.k.(P + F + P).( .L) 2.2.6,75.(105)
π π
µ

Thông thường bố trí kích với khoảng cách từ 1,2 ữ 2 m.
Với kết cấu lõi thang máy đang xét, tổng chu vi của tiết diện là 80,3 m
→ Số ti kích cần thiết:
80,3
n = = 37 67

- Ống lồng xích = 4 x 5 kG/ống = 20 kG
- Gỗ đà cho sàn thao tác = 0,156 x 0,15 x 1 x 2 x 1000 = 62,4 kG
- Lan can sàn công tác trên dưới = 1,3 x 40 kG/m = 52 kG
- Thanh giằng ngang mặt sàn công tác trên (L63 x 5) = 2 x 1,3 x 6 x 4,945 kG/m =
77,15 kG
- Thanh đà gỗ = 0,12 x 0,12 x 1,3 x 6 x 1000 = 112,32 kG
- Gỗ ván sàn công tác trên (t = 4 cm) = 1,5 x 1,3 x 2 x 0,04 x 1000 = 156 kG
- Tôn lát sàn + lưới an toàn = 1,5 x 1,3 x 2 x 5 kG/m
2
= 19,5 kG
→ Tổng tải trọng bản thân = 1140 kG
→ P
tt
= G x k = 1140 x 1,1 = 1254 kG
Trong đó:
G: Tổng tải trọng bản thân
k: Hệ số độ tin cậy của tải trọng, lấy k = 1,1
Hoạt tải:
P
ht
= P
ht
x S x k
Trong đó:
P
ht
= 300 kG/m
2
k: hệ số vượt tải, lấy k = 1,3
S: diện tích sàn tính toán, S = (1,3 x 1,5m)

[P] = 6 T (đối với loại kích sử dụng)
Thay số ta có: (1254 + 1521 + 943,8) x 1,5 = 5578,2 kG < 6000 kG
Vậy khoảng cách đặt kích là 1,3m. Đảm bảo tuyệt đối khả năng này của kích (loại kích sử
dụng có sức nâng 6 T)
c.2. Kiểm tra điều kiện làm việc của kết cấu khung trượt:
Thanh chống chéo: Tiết diện thanh chống: L75 x 75 x 6
- Sơ đồ tính toán:
α
B
Pn
C
P
D
A
Hình: Sơ đồ tính toán của thanh chống chéo
Trong trường hợp này thanh chống chéo BC chịu nén đúng tâm với 2 đầu liên kết khớp.
- Xác định chiều dài tính toán: l
0
= µ x l
Trong đó:
µ = 1 (đối với thanh hai đầu là khớp)
l = 154 cm (chiều dài thực của thanh)
→ l
0
= 1 x154 = 154 cm
- Xác định lực nén trong thanh BC:
n
P
P =
sin

0
P 492,34
P = = = 1048,7 kG
sin28 0,46947
Tra bảng I.4 (Kết cấu thép - NXB KHKT 2006) với tiết diện L75 x 75 x 6 ta có:
F = 8,73 cm
2
; i
min
= 2,3 cm.

max
min
.l 1.154
= = = 66,96
i 2,3
µ
λ
Tra bảng III.1 (Kết cấu thép - NXB KHKT 2006) với λ
max
= 66,96 ta xác định được hệ số uốn
dọc ử
min
= 0,825
- Kiểm tra khả năng chịu nén của thanh chống chéo theo công thức sau:
n
min c
P
= .f.
F

Mmax
= 1110,37 kG.cm
Hình: Sơ đồ tính toán thanh đà trượt
Công thức kiểm tra:
z
c
N
= f.
A
σ γ

(4)
Trong đó:
N
z
: Tổng tải trọng theo phương dọc trục, N
z
= 492,34 + 492,84 = 984,68 kG
A: Diện tích tiết diện thanh đà trượt tại điểm kiểm tra
A = 7,5 x 16 - 15,2 - 6,7 = 18,16cm
2
f: Cường độ chịu kéo của thép
γ
c
: Hệ số điều kiện sử dụng của kết cấu chịu kéo, lấy γ = 0,85 đối với thép hình
Thay vào (4) ta được:
2 2
984,68
= = 54,22 kG/cm < 2100.0,85 = 1785 kG/cm
18,16

6 6 6 6

2
max
111037
= = 1790,9 kG/cm
62
σ
Thay vào (5) ta có:
2 2
max
2100
= 1790,9 kG/cm < = 1826 kG/cm
1,15
σ
Vậy thanh đà trượt đảm bảo khả năng chịu uốn.
Kiểm tra thanh đà ngang (đòn gánh):
P
Hình: Sơ đồ tính toán thanh đà ngang
max
P.0,6 3718,8.0,6
M = = = 1156,4 kG.m
2 2
max
P
Q = = 1859,4 kG
2
Kiểm tra điều kiện bền chịu uốn:
th
M


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status