Tiểu luận :Tổng quan về nhà máy lắp ráp tại Việt Nam - Pdf 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA Tiểu luận

Tổng quan về nhà máy
lắp ráp tại Việt Nam

NHÀ MÁY LẮP RÁP
MỤC LỤC
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI "NHÀ MÁY LẮP RÁP" 2
1.1 Nhà máy lắp ráp là gì & tại sao xử dụng mô hình này? 2
1.2 Ưu điểm 3
1.3 Nhược điểm: 3
1.4 So sánh nhà máy lắp ráp và nhà máy sản xuất theo hợp đồng 3
Phần 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG LẮP RÁP TẠI VIỆT NAM 7
2.1 Đặc điểm của thị trường Việt Nam tạo thuận lợi để phát triển mô hình Nhà máy lắp ráp.7

các sản phẩm.
Hợp đồng sản xuất và lắp ráp là một loại hình mang tính hợp tác, có thể là gia
công sản xuất hoặc lắp ráp sản phẩm. Hợp đồng sản xuất và lắp ráp thể hiện sự kết hợp
giữa xuất khẩu và gia công sản xuất ở nước ngoài. Trong trường hợp này doanh nghiệp
có thể đặt sản xuất một số linh kiện ở nước ngoài hoặc xuất khẩu những linh kiện rời ra
nước ngoài, những linh kiện đó sẽ được lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.Bằng
cách đặt sản xuất linh kiện ở nước ngoài và xuất khẩu các linh kiện rời doanh nghiệp
có thể tiết kiệm các khoản chi phí chuyên chở và bảo hiểm. Hoạt động sản xuất và lắp
ráp cũng có thể tận dụng nguồn lao động với tiền lương thấp từ đó cho phép giảm chi
phí sản xuất , hạ giá thành sản phẩm. Hợp đồng sản xuất và lắp ráp được áp dụng trên
nhiều lĩnh vực : hàng dệt, may mặc, lắp ráp điện tử, láp ráp đồ gia dụng… Dây chuyền
lắp ráp đầu tiên được thực hiện ở Mỹ bởi Eli Whitney năm 1979. Ông bắt đầu bằng
cách sử dụng dây chuyền lắp ráp để sản xuất súng hỏa mai có phần hóa đổi cho nhau.
Sau đó ông được ký hợp đồng cung cấp 10,000 súng hỏa mai của cho chính phủ Mỹ
trong hai năm.
Hiện nay có rất nhiều nhà máy lắp ráp đã được thành lập như nhà máy lắp ráp ở
Việt Nam như: Honda ở Vĩnh Phúc, nhà máy lắp ráp Yamaha, Thaco Group, Huyndai
Thành Công…
Một trong những loại phổ biến nhất là nhà máy lắp ráp ô tô. Kể từ đầu những
năm 1990, việc sản xuất lắp ráp đã được ứng dụng một cách hiệu quả. Một nhà máy có
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 3

thể nhận được các linh kiện như các thành phần động cơ, kính chắn gió, ghế ngồi,
khung thép… Bằng cách lấy các linh kiện khác nhau và áp dụng chúng vào một dây
chuyền lắp ráp, chỉ trong một thời gian ngắn có thể tạo ra một chiếc xe hoàn chỉnh.
Một trong những công ty thành công là Ford. Đây là công ty cho ra dây chuyền lắp ráp
chuyển động đầu tiên trên thế giới, giảm thời gian lắp ráp khung rầm từ 12.5 giờ xuống
2 giờ 40 phút, làm gia tăng lượng sản phẩm. Dây chuyền lắp ráp đã làm thay đổi hoàn Tương tự Honda là hãng xe máy của Nhật Bản. Công ty này cũng thực hiện sản xuất và
lắp ráp sản phẩm ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Khác nhau:
Sản suất theo hợp đồng: Sản xuất theo hợp đồng là sự hợp tác hoặc chế tạo hoặc
lắp ráp sản phẩm do nhà sản xuất thực hiện ở thị trường nước ngoài. Đây là một
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 5


Công ty TNHH Việt Nam Suzuki đã tổ chức lễ động thổ xây dựng nhà máy sản xuất và
lắp ráp ô tô mới tại KCN Bình Long, Biên Hòa, Đồng Nai, ngay bên cạnh nhà máy sản
xuất xe máy hiện hữu của Công ty. ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 7

Phần 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG LẮP
RÁP TẠI VIỆT NAM
2.1 Đặc điểm của thị trường Việt Nam tạo thuận lợi để phát triển mô
hình Nhà máy lắp ráp.
 Lực lượng lao động dồi dào
Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với 88,8 triệu dân với nguồn nhân lực
trẻ, năng động, được đào tạo tốt và ham làm việc. Lãnh đạo của nhiều công ty đánh
giá: “Khoảng 60% dân số ra đời sau năm 1975, tỷ lệ người lớn biết chữ là 93%. Người
lao động Việt Nam thông minh, khéo léo và rất chăm chỉ”.
 Chi phí rẻ của nguồn nhân lực
Trong sự so sánh với rất nhiều quốc gia láng giềng châu Á, lao động Việt Nam
có mức lương thấp hơn. Với thợ máy, mức lương khoảng 200 USD/tháng trong khi
những nhà quản lý quan trọng và các kỹ sư, chuyên gia lâu năm được trả khoảng 1.500
USD/tháng. Lao động Việt Nam làm việc khoảng 48 giờ/tuần và các chương trình xã
hội của chính phủ ước tính chiếm khoảng 25% chi phí lương. Trong khi đó, Trung
Quốc có 40 giờ làm việc một tuần và chi phí xã hội chiếm khoảng 50-60% lương.
Việc sản xuất tại khâu lắp ráp thường xuyên đòi hỏi một số lượng lớn lao động,
do đó thị trường Việt Nam với nguồn nhân lực dồi dào, chi phí nhân công rẻ góp phần
giảm đáng kể chi phí sản xuất cho các công ty.
 Thị trường nội địa tiềm năng
Với dân số 88,8 triệu dân, phương tiên đi lại chủ yếu là xe máy, bên cạnh đó,

Nam.
Ngoài những đặc điểm nêu trên đặc biệt có lợi thế đối với hoạt động sản xuất
lắp ráp, thị trường Việt Nam còn mang những ưu điểm sau đây góp phần không nhỏ
thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, cụ thể là:
 Ưu đãi thuế
Việt Nam đã áp dụng một chương trình ưu đãi thuế thu nhập rất linh hoạt. Ví dụ
như miễn thuế bốn năm kể từ năm đầu tiên có lãi; tính thuế thu nhập bằng ½ mức thuế
thông thường trong vòng 7 năm. Mức thuế thông thường có thể là 10%, 15%, 20% tuỳ
thuộc vào lĩnh vực công nghiệp, phân loại đầu tư và vị trí địa lý. Trong khi đó, mức
thuế chung cho doanh nghiệp là 28%.
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 9

Khi một công ty lựa chọn địa điểm đầu tư, thì hàng loạt khu đất, các chính sách
thuế ưu đãi và điều kiện để được hưởng ưu đãi được giới thiệu. Ở đây có cả những
chương trình miễn thuế cho một số loại hàng hoá nhập khẩu.

 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng khi gặp làn sóng đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài. Chính phủ Việt Nam đã cam kết phát triển cân bằng cơ sở
hạ tầng, đặc biệt là cung cấp điện - nước, dịch vụ cảng biển và viễn thông.
 Sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng pháp luật
Nhằm tăng cường công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ và thực thi những thủ tục pháp
luật phù hợp với cam kết gia nhập WTO, chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều biện
pháp để bảo hộ sở hữu trí tuệ và ban hành các đạo luật bảo vệ riêng đối với nhà đầu tư.
Hệ thống luật pháp có ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục được cải thiện, tạo
một khuôn khổ hợp pháp và minh bạch với các hoạt động đầu tư.
Quốc hội Việt Nam cũng đã thông qua nhiều luật mới nhằm tạo ra sự đồng bộ
về khung luật pháp cho các nhà đầu tư như: Luật Chứng khoán, Luật chuyển giao công

Stt
Tên công ty
Tên nhãn hiệu
Năm thành
lập
1
Công ty TNHH Ford Vietnam
Ford
5/9/1995
2
Công ty Liên doanh Hino Motors Vietnam
Hino
18/6/1996
3
Công ty TNHH Isuzu Vietnam
Isuzu
19/10/1995
4
Công ty ô tô Mekong
Fiat, Ssanyong, Iveco
22/6/1991
5
Công ty Liên doanh Mercedes-Benz Vietnam
Mercedes-Benz
1995
6
Công ty TNHH ô tô Toyota Vietnam
Toyota
5/9/1995
7


ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 11
(Nguồn: Website Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA)
http://www.vama.org.vn/)
Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam được đánh giá là một trong những ngành công
nghiệp gần như sớm nhất thu hút được lượng vốn FDI cao và có tốc độ tăng trưởng
mạnh mẽ. Bắt đầu từ năm 1991 với sự xuất hiện của hai công ty ôtô có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) là Mekong và VMC. Niềm tự hào của công ty Mekong Auto là
liên doanh đầu tiên chuyên sản xuất và lắp ráp ô tô tại Việt Nam, góp phần đưa Việt
Nam đứng tên trong 36 nước trên thế giới có ngành công nghiệp sản xuất và chế tạo ô
tô. Trong khi đó, công ty Ford Việt Nam (thành lập năm 1995) là liên doanh ô tô có
14
Tổng công ty Công nghiệp than & khoáng sản

là liên doanh giữa Toyota Motor Corporation – Nhật Bản (TMC) 70%, Tổng công ty
Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) 20% và công ty Kuo
(Singapore) 10% với mạng lưới 22 đại lý và chi nhánh đại lý rộng khắp toàn quốc.
Toyota Việt Nam giữ vị thế là nhà tiên phong trong sản xuất ô tô ở Việt Nam với tổng
vốn đầu tư 89,6 triệu USD, vốn pháp định 44,2 triệu USD và vốn đầu tư thực hiện 68,6
triệu USD. Lĩnh vực hoạt động chính của TMV bao gồm sản xuất, lắp ráp và kinh
doanh ô tô Toyota các loại; sửa chữa, bảo dưỡng và kinh doanh phụ tùng chính hiệu
Toyota tại Việt Nam; xuất khẩu linh kiện phụ tùng ô tô Toyota sản xuất tại Việt Nam.
Với nguồn nhân lực hơn 1600 người người (bao gồm cả nhân viên mùa vụ) và công
suất nhà máy là 36.500 xe/năm/2 ca làm việc, sản phẩm chính của TMV bao gồm:
- Sản xuất và lắp rắp tại VN: Camry, Corolla Altis, Innova, Vios và Fortuner
- Kinh doanh xe nhập khẩu: Land Cruiser, Hilux, Yaris, Land Cruiser Prado,
Hiace và Toyota 86.
Tuy nhiên, toàn bộ lực lượng nòng cốt trong hoạt động sản xuất lắp ráp ô tô nói
trên mới chỉ làm việc lắp ráp ô tô chủ yếu từ nguồn linh kiện nhập khẩu, chứ chưa hoàn
toàn chế tạo ô tô. Do linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước khan hiếm nên hầu hết
các linh kiện, phụ tùng Việt Nam đang sử dụng phải nhập khẩu trực tiếp từ Trung
Quốc, Thái Lan, Malaysia…Các hãng xe như Toyota, Ford, Mazda…có nhà máy tại
Việt Nam thời gian qua phải nhập khẩu phụ tùng ở nước ngoài về phục vụ cho lắp ráp
cho các nhà máy ô tô của họ. Hãng nào nhập ít cũng phải từ vài trăm triệu USD mỗi
năm.
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 13

Bên cạnh đó, tuyệt đại bộ phận sản lượng đầu ra được nhằm vào tiêu thụ nội địa,
thị trường ô tô Việt Nam lại rất nhỏ bé nên trong những năm qua các nhà sản xuất ô tô
Việt Nam chỉ tiêu thụ được khoảng 30.000 - 50.000 xe/năm, luôn đạt dưới 1/3 công
suất thiết kế. Thị trường nội địa chưa đủ lớn để kích thích chế tạo linh kiện tại chỗ, do
vậy các doanh nghiệp phải nhập khẩu linh kiện, động cơ được nhập khẩu nguyên chiếc

http://www.vama.org.vn/)

Hoạt động trong ngành xe máy.
Năm 2000, cùng với sự bùng nổ của 56 doanh nghiệp sản xuất lắp ráp xe máy
nội địa chiếm 86% thị phần, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất
những nhãn hiệu xe máy nổi tiếng thế giới như Honda, Yamaha, Suzuki, Piaggio và
SYM chỉ hoạt động co cụm lại một góc.
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm, các doanh nghiệp FDI nhờ liên tục mở rộng kênh
phân phối, thay đổi mẫu mã hàng năm, dịch vụ hậu mãi chuyên nghiệp, chiến lược phát
triển bài bản, liên kết với các nhà cung cấp và đại lý trong khi doanh nghiệp nội lại
không có kiểu dáng khác biệt, chủ yếu là xe “nhái” mẫu mã của các hãng lớn, thương
hiệu không rõ ràng, quy mô đầu tư, thương hiệu, khoa học, công nghệ, quản lý đều yếu
kém, không nhận được sự chuyển giao và hỗ trợ chuyển giao công nghệ nào, khiến cục
diện thay đổi từ chỗ chiếm tới 86% thị phần vào giai đoạn năm 2000, tới nay các doanh
nghiệp nội địa chỉ còn chiếm tới chưa đến 2% thị phần (từ 56 doanh nghiệp ở thời kỳ
đỉnh cao giờ chỉ còn chưa tới 10 doanh nghiệp). Có thể nói các doanh nghiệp FDI đang
gần như thâu tóm toàn bộ thị trường xe máy Việt Nam.
Khác với công nghiệp ô tô, ngành công nghiệp xe máy Việt Nam đã có những
lợi thế nhất định vì thế càng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài không ngừng mở rộng
hoạt động sản xuất tại Việt Nam. Đó là việc có được một thị trường đủ lớn để tạo động
lực phát triển với khoảng 2 triệu xe/năm. Theo dự báo của Viện nghiên cứu chiến lược
chính sách công nghiệp thuộc Bộ công nghiệp, đến năm 2020 tại hai thành phố lớn là
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ xe máy trên tổng số các phương tiện giao
thông chiếm từ 30% đến 35%. Đặc biệt, nhu cầu về xe máy tại các vùng nông thôn
Việt Nam sẽ tăng mạnh do đời sống người dân ngày được nâng cao. Bên cạnh đó tiềm
năng xuất khẩu là rất lớn khi trong nước đạt tới trạng thái bão hòa. Theo báo cáo của
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 15


đồ nghề của xe
40
5
Khóa yên và khóa điện
40
6
Giá bắt ắc quy của xe
40
7
Ắc quy của xe gắn máy
50
Nguồn: Quyết định số 66/QĐ - BTC ban hành ngày 25/5/2002
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 16

Tỷ lệ nội địa hóa của một số kiểu xe máy
Tên hãng
Loại xe
Tỷ lệ nội địa hóa
HONDA
Wave
64,48

Future
76,76


Ở nước ta, ngành công nghiệp điện gia dụng là một ngành còn khá non trẻ và
chủ yếu là sản xuất để thay thế nhập khẩu. Các ngành điện, điện tử gia dụng bắt đầu
phát triển tại Việt Nam vào đầu thập niên 1990. Phần lớn do các công ty Nhật như
Sanyo, Toshiba, Hitachi, Matsushita, Sony và JVC, và công ty LG của Hàn Quốc đầu
tư sản xuất thay thế nhập khẩu.
Trong một thời gian dài, cho đến giữa năm 2003, thuế nhập khẩu sản phẩm
nguyên chiếc là 50%, từ tháng 7/2003 giảm xuống còn 20%, những mức thuế đủ để
bảo hộ thị trường trong nước trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, vì chỉ cung cấp dịch vụ
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 17

cho thị trường nội địa, một thị trường còn nhỏ, nên quy mô sản xuất quá nhỏ, chỉ bằng
trên dưới 10%, có các loại chỉ bằng 2-3% sản lượng của Thái Lan.
Ngoài quy mô sản xuất nhỏ, các công ty lắp ráp đồ điện gia dụng ở Việt Nam
còn gặp một khó khăn lớn là công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, phải nhập phần lớn
linh kiện, bộ phận mà thuế nhập khẩu của các sản phẩm trung gian, phụ trợ này lại rất
cao. Hiện nay thuế nhập khẩu các loại này lên tới 50%, thấp nhất cũng 15%. Từ năm
2006, theo chương trình cắt giảm thuế theo khuôn khổ AFTA, thuế nhập khẩu đánh
trên các loại linh kiện, bộ phận nhập từ các nước ASEAN sẽ giảm xuống còn 5%,
nhưng các công ty lắp ráp tại Việt Nam đang và sẽ tiếp tục nhập khẩu nhiều loại linh
kiện, bộ phận từ Nhật và các nước khác ngoài ASEAN vì ASEAN chưa thể cung cấp
toàn bộ các loại linh kiện, bộ phận với phẩm chất và giá thành tương đương với Nhật
hoặc các nước khác.
Do đó, các công ty lắp ráp đồ điện, điện tử gia dụng một mặt phải tiếp tục nhập
khẩu linh kiện, bộ phận với phí tổn cao vì thuế quan cao nhưng mặt khác phải cạnh
tranh với sản phẩm nguyên chiếc giá rẻ (vì thuế quan giảm xuống dưới 5%) nhập khẩu
từ ASEAN mà chủ yếu là từ Thái Lan. Như vậy chính sách vừa giữ mức thuế quan cao
đối với linh kiện, bộ phận nhưng vừa cho tự do nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc
trong khuôn khổ AFTA đang đặt ngành điện, điện tử gia dụng của Việt Nam trước một

2018
2015
2015
2015
2015

Bảng Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong WTO của Việt Nam đối với các sản phẩm
điện tử (Nguồn: http://www.trungtamwto.vn)

ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 18

TT

Thuế suất
MFN trước
thời điểm gia
nhập (%)
Thuế suất cam kết trong WTO
Khi gia
nhập (%)
Cuối cùng
(%)
Thời gian
thực hiện
1
Thuế suất bình quân cả Biểu thuế
17,4
17,2

- Máy giặt
40
38
25
4 năm

- Tủ lạnh
40
40
25
4 năm

- Quạt các loại
50
40
30
3 năm

Bảng Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ CEPT/AFTA và ACFTA đối với một số
sản phẩm điện tử (Nguồn: http://www.trungtamwto.vn)
2.3 Lợi ích Việt Nam có được từ mô hình Nhà máy lắp ráp của các công ty
nước ngoài.
Xin được trình bày thông qua tổng quan các ngành sản xuất, lắp ráp như ô tô, xe
máy, … trong đó các doanh nghiệp FDI chiếm phần lớn thị phần.
 Đóng góp vào GDP
Ngành công nghiệp ô tô, xe máy là mô hình kinh doanh đa tầng gồm nhà cung
cấp, nhà sản xuất, và các đại lý phân phối. Chuỗi kinh doanh này đóng góp đáng kể vào
GDP của một quốc gia. Các ước tính khác nhau cho biết đóng góp này tại Việt Nam
nằm trong khoảng từ 3%-5%.
 Tạo cơ hội việc làm cho một lượng lớn người lao động

và tri thức.
2.4 Tại sao người ta đặt các nhà máy lắp ráp này tại Việt Nam mà k phải
nước khác?
Việc đặt nhà máy lắp ráp tại Việt Nam sẽ tận dụng được những điểm mạnh sau:
- Môi trường chính trị Việt Nam ổn định, tạo ra sự an tâm cho các nhà đầu tư
khi tiến hành kinh doanh tại Việt Nam.
- So với các nước trong khu vực, Việt Nam có lợi thế về chi phí nhân công, chi
phí sử dụng tài nguyên thấp, điều này sẽ cho phép giảm chi phí sản xuất.
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 20

- Chính phủ Việt Nam có nhiều chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
- Việc lắp ráp xe ở Việt Nam mang lại nhiều lợi thế hơn, những sản phẩm mới
lắp ráp sẽ được tiếp cận sớm hơn với khách hàng. Những điều chỉnh và quá trình chăm
sóc khách hàng cẩn thận hơn. Và trên hết, khách hàng sẽ có mức giá tốt vì sản phẩm
lắp ráp tại Việt Nam không phải chịu nhiều loại thuế như sản phẩm nhập khẩu.
- Những ưu đãi về thuế đánh vào phụ tùng, linh kiện điện tử tại các Việt Nam sẽ
giúp sản phẩm có giá thành cạnh tranh hơn.
- Việt Nam, đất nước của hơn 85 triệu dân với mức tăng trưởng cao về kinh tế,
việc đặt nhà máy lắp ráp tại đây cho phép đất nước tiết kiệm được những khoản ngoại
tệ đáng kể dành cho nhập khẩu, cũng như phát huy được một số thế mạnh nổi trội hiện
nay, như chi phí cạnh tranh của nguồn nhân lực.
- Thiết lập vị trí vững chắc trên thị trường Việt Nam, tránh những chi phí đắt đỏ
khi các rào cản thâm nhập ngành tăng cao.
2.5 Việc xây dựng nhà máy lắp ráp tại Việt Nam có ảnh hưởng đến sản
phẩm lắp ráp trong nước tức là kéo theo sự cạnh tranh với các sản
phẩm cùng chủng loại sản xuất tại nước sở tại hay không?
Việc xây dựng nhà máy lắp ráp tại Việt Nam chắc chắn có ảnh hưởng đến sản

3.1 Sơ lược về Công ty Honda Motor & Nhà máy Honda Việt Nam
Công ty Honda Motor là một tập đoàn sản xuất ôtô lớn thứ 2 tại Nhật Bản,
do ông Soichiro Honda lập ra vào ngày 24/9/1948. L úc đầu thì là sản xuất xe
gắn máy, sau mới phát triển rộng ra và nay sản xuất cả ôtô và xe máy. Honda là
nhà sản xuất động cơ lớn nhất thế giới với số lượng hơn 14 triệu chiếc mỗi
năm.Tuy nhiên, có thể rằng nền tảng của sự thành công Thị trường tiêu thụ của
Honda rất rộng lớn, hãng Honda đóng trụ sở tại Tokyo và có niêm yết giá trên thị
trường chứng khoán Tokyo, Thành phố New York, Luân Đôn, Pari, California,
Canada
ĐỀ TÀI: NHÀ MÁY LẮP RÁP GVHD: Th.S Đinh Tiên Minh

Trang 22

Tên gọi: HONDA, được lấy theo tên của người sáng lập ra hãng: Soichiro
Honda. Chữ HONDA được viết hoa, nét đậm, màu đỏ thể hiện sự nổi bật, mạnh mẽ,
ổn định và bền vững.
Logo: hình cánh chim màu đỏ, thể hiện cho mơ ước và
khao khát được chắp cánh bay đi xa và lên cao, vừa thật lại vừa
ảo, giản dị mà có thể ẩn chứa nhiều thông điệp.
Slogan: “The Power of Dreams”, (tạm dịch là “Sức mạnh của giấc mơ”), câu
nói ngắn gọn nhưng ẩn chứa trong đó là một thông điệp to lớn, khi bạn có ước mơ, nó
sẽ thôi thúc bạn làm việc để đạt được ước mơ đó. Câu nói này nói lên sứ mạng của
Honda là nỗ lực hết mình vì mơ ước đem lại sự an toàn, tiện nghi và hạnh phúc cho
mọi người dân.
Công ty Honda Việt Nam (HVN): là công ty liên doanh gồm 03 đối tác:
- Công ty Honda Motor (Nhật Bản – 42%)
- Công ty Asian Honda Motor (Thái Lan – 28%)
- Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông Nghiệp Việt Nam – 30%)
3.2 Hoạt động lắp ráp của Nhà máy Honda Việt Nam
3.2.1 Cơ sở hạ tầng và hoạt động lắp ráp :


Trang 24

 Công suất: 500.000 xe/năm
Tính đến thời điểm hiện tại, tổng công suất sản xuất của cả 2 nhà máy xe máy là
1,5 triệu xe/năm, đưa Honda Việt Nam trở thành một trong những nhà máy sản xuất xe
máy lớn nhất tại khu vực và trên toàn thế giới.
- Nhà máy xe máy thứ ba

Lễ khởi công nhà máy sản xuất và lắp ráp xe máy thứ 3 của Honda tại Hà Nam
vào ngay 19/12/2011. Sau khi nhà máy này đi vào hoạt động (dự kiến cuối năm 2012
nhưng đã dời sang đầu 2013), liên doanh xe máy có thị trường lớn nhất Việt Nam sẽ
nâng tổng công suất lắp ráp lên mức 2,5 triệu xe/năm
- Dự kiến đi vào hoạt động : đầu năm 2013
- Trụ sở: Hà Nam
- Vốn đầu tư: 120 triệu USD
- Công suất dự kiến: 500.000 xe/năm (chủ yếu là sản xuất xe tay ga)
Bắt đầu sản xuất vào 1997, liên doanh Nhật sản xuất đạt mốc 5 triệu vào tháng 07
năm 2008 và đạt sản lượng 10 triệu xe máy vào tháng 09 năm 2011, doanh số tăng liên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status