Phòng Và Trị Bệnh Trong Quá Trình Nuôi Heo Nái - Pdf 11

Phòng Và Trị Bệnh
Trong Quá Trình Nuôi
Heo Nái

A.Nguyên Tắc Phòng Bệnh Trong Chăn Nuôi Heo
Nguyên tắc quan trọng trong chăn nuôi là "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Vì
vậy muốn hạn chế được bệnh tật, đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế cao. Người
chăn nuôi cần lưu ý những việc sau:
1. Vận chuyển heo
- Chỉ nên nhận heo khi trời mát (sáng sớm hoặc chiều mát).
- Phương tiện vận chuyển phải rộng, thoáng và an toàn.
- Không vận chuyển số lượng lớn heo trên cùng một xe. Nếu có nhiều loại
heo khác nhau (đực, cái, lớn, nhỏ) thì cần phải ngăn riêng từng loại.
- Khi vận chuyển đường dài dưới trời nắng nóng thì cần:
+ Bỏ nước đá vào sàn xe
+ Hạn chế cho xe nghỉ dọc đường, nhất là lúc xe vừa mới chạy. Khi thật cần
thiết thì cho xe đậu vào nơi có bóng mát, thoáng gió. Tuyệt đối không tắm
heo dọc đường.
+ Chỉ nên cho heo ăn rau trong quá trình vận chuyển.
Ngoài ra để hạn chế stress khi vận chuyển có thể sử dụng Combisstress
1cc/100kg thể trọng.
2. Nhận heo vào trại
- Đối với heo con: dùng bàn tay trái đỡ ngực (ngay phía sau chân trước), tay
phải giữ chân sau để bắt heo.
- Đối với heo có trọng lượng lớn: tay trái đỡ ngực, tay phải nắm gốc đuôi.
Nếu heo quá nặng cần 2 người thì làm theo cách sau: tay trái của 2 người nắm
lấy nhau để đỡ ngực, tay phải của 1 người nắm gốc đuôi, tay phải của người
kia đỡ phần mông. Tốt nhất nên có hành lang để lùa heo.

2. Triệu chứng:
Heo sốt 40-41 0C, kém ăn hoặc bỏ ăn, chất nhầy và mủ chảy ra ở âm hộ trắng
đục hôi thối.
3. Điều trị:
- Dùng một trong những loại kháng sinh sau:
+ Ampicillin: 2 g/ngày;
+ Penicillin: 3-4 triệu UI/2 lần/ngày;
+ Tylan: 7-8 mg/kg trọng lượng/ngày; Septotrim 24% 1 cc/15 kg trọng
lượng/ngày.
Để tăng sức đề kháng và mau lành ta dùng thêm:
+ Anagin: 2 ống 5cc; Vitamin C: 2 g/ngày;
+ Dexamethasol: 5-10 mg/ngày.
- Thụt rửa tử cung bằng thuốc tím 0,1% ngày 1 lần từ 2-4 lít, sau khi thụt rửa
30 phút dùng Penicillin 2-3 triệu UI bơm vào tử cung.
II. Bệnh Viêm Vú:
1. Nguyên nhân: Vú bị xây xát dẫn đến nhiễm trùng (do răng heo con cắt
không sát, chuồng trại thiếu vệ sinh), kế phát bệnh viêm âm đạo, tử cung, sót
nhau dẫn đến viêm vú, sữa mẹ quá nhiều, heo con bú không hết dẫn đến viêm
vú.
2. Triệu chứng: Heo sốt cao 40-410C, bỏ ăn, phân táo, vú sưng, nóng, đỏ,
đau, vú viêm không cho sữa, vắt sữa thấy lợn cợn màu trắng xanh vàng. Heo
con bú sữa viêm bị tiêu chảy.
3. Điều trị:
- Nếu kế phát bệnh viêm âm đạo tử cung, sót nhau ta phải
điều trị.
- Dùng thuốc kháng sinh và tăng sức đề kháng tương tự bệnh viêm tử cung.
- Chườm lạnh vú viêm để giảm hiện tượng viêm đồng thời vắt bỏ sữa bị viêm.
- Khi đã hồi phục để tăng khả năng cho sữa: Chườm nóng bầu vú, chích
Oxitocin: 10 UI/ngày, 3-4 ngày, dùng chế phẩm có chứa Thyroxine, khoáng,
vitamin bổ sung cho nái.

heo con bị nhiễm một số virus: Rotavirus, Coromavirus; Vi trùng Ecoli,
Clostridium, Samonilla, cầu trùng.
2. Triệu chứng: Heo con thường không sốt hoặc sốt nhẹ, thời kỳ đầu bụng
hơi chướng, về sau bụng tóp, lông xù, đít dính phân nhoe nhoét, ói mửa (ít
xảy ra). Đặc trưng là phân lỏng trắng như vôi, vàng đôi khi có bọt, cá biệt có
thể có máu, phân có mùi tanh đặc biệt
3. Điều trị: Trước khi điều trị ta phải xác định rõ nguyên nhân, vừa điều trị
nguyên nhân, vừa điều trị triệu chứng tiêu chảy trên heo con thì mới có kết
quả.
- Điều trị tiêu chảy: Thuốc cầm tiêu chảy (se niêm mạc ruột) cho uống các
chất chát: Lá ổi, cỏ sữa, măng cụt Bổ sung vi khuẩn đường ruột: Dùng
Biolactyl: 1 g/con/ngày. Dùng kháng sinh uống hoặc chích một trong những
loại sau (từ 2-3 ngày liên tục):
- Uống:
+ Baytrill 0,5%: 1 cc/5 kg trọng lượng/ngày;
+ Flumcolistin: 1 cc/3-5 kg trọng lượng/ngày
+ Spectinomycine: 1 cc/4-5 kg trọng lượng/ngày;
+ Baycox 2,5 %: 0,8 cc/kg trọng lượng/ngày (nghi bị cầu trùng).
- Chích:
+Baytrill 2,5%: 1 cc/ 10 kg trọng lượng/ngày;
+ Septotrim 24 %: 1 cc/10 kg trọng lượng/ngày;
+ Bencomycine S: 1 cc/ 15-20 kg trọng lượng/ngày;
+ TyloPC: 1 cc/5 kg trọng lượng/ngày. Để phòng mất nước, chất điện giải ta
bổ sung thêm Orezol, Lactatringer…
V. Bệnh Cúm Heo H1n1
Bệnh cúm neo H1N1 gây nguy hiểm và đe dọa thường xuyên cho heo nuôi
theo hình thức công nghiệp.
Đây là bệnh gây ra bởi virus cúm Haemaglutinin và Neuraminidase (H1N1)
và có khả năng biến thể giữa các type như từ H1N1 thay đổi sang dạng cao
hơn H1N2. Bệnh xuất hiện nhiều nhất và thường xuyên trên heo thịt, được

chứng ban đầu thường gặp là sốt cao, sau đó là ho, đau họng, chảy nước mũi,
đau người, đau đầu, ớn lạnh, ỉa chảy và ói mửa, đôi khi người bệnh cảm thấy
khó thở sau vài ngày mắc bệnh.
- Đại dịch cúm Tây Ban Nha, năm 1918 (do một chủng cúm H1N1, tương tự
như cúm hiện nay), dẫn tới cái chết của từ 20 đến 100 triệu người trên thế
giới, và được xem là bắt nguồn từ Mỹ, lan sang các đảo tận Thái Bình Dương.
- Hiện nay không có loại văcxin ngừa cúm heo dành cho người.
Các biện pháp phòng ngừa thông thường cho người (tương tự phòng chống
dịch SARS):
- Che miệng khi ho hoặc hắt hơi bằng khẩu trang, khăn tay hoặc tay áo.
- Giữ gìn vệ sinh cá nhân. Rửa tay thường xuyên VỚI XÀ PHÒNG và tránh
chạm tay vào mặt.
- Tránh xa những người bị bệnh.
- Ở trong nhà nếu bạn không khỏe.
- Đi khám nếu bạn sốt, ho, đau họng, đau người, đau đầu, ớn lạnh và mệt mỏi.
VII. Bệnh Do Haemophilus Parasuis Ở Lợn
Đây là bệnh truyền nhiễm của heo con, chủ yếu heo con sau cai sữa. Đặc
trưng của bệnh là xảy ra đột ngột, tuần hoàn ngoại vi của cơ thể bị trở ngại
làm cho các vùng ngoại biên của cơ thể có màu tím tái (chót tai, chân ), ứ
nước ở mí mắt, viêm khớp. Bệnh chỉ xảy ra lẻ tẻ và giới hạn trong phạm vi
của trại.
1. Nguyên nhân:
Bệnh do vi khuẩn Haemophilus parasuis và Haemophilus suis gây ra. Bệnh
thường xảy ra ở heo sau khi sinh đến tháng tuổi thứ ba. Mầm bệnh thường ký
sinh sẵn trên đường hô hấp heo khi có nguyên nhân làm giảm sức đề kháng
như: thời tiết thay đổi hay các yếu tố gây stress vi khuẩn sẽ tăng độc lực gây
bệnh.
2. Triệu chứng
Bệnh xảy ra thình lình trên một số con hoặc nhiều heo và bệnh xảy ra ở thể
quá cấp tính. Con vật sốt từ 40,5 – 42 độ C, lờ đờ, ăn ít hoặc bỏ ăn, nhịp tim

- Vimefloro F.D.P (cặp) 1ml/2 – 4kg thể trọng/ngày. Kết hợp Vime-Liptyl
(1ml/15 – 20kg thể trọng) giúp heo giảm đau, hạ sốt, kích thích tim mạch và
hô hô hấp.
Sau thời gian điều trị bệnh bằng kháng sinh cần bổ sung men tiêu hoá 2 – 3
ngày để tránh loạn khuẩn đường ruột, giúp tiêu hoá tốt hơn:
- Vime-6-way 100gr/50kg thức ăn;
- Vime – Subtyl: 100gr/20kg thức ăn (cho heo từ 1 tháng tuổi); và bổ sung
Biotin H AD với liều 1kg/1tấn thức ăn.
VIII. Bệnh Đóng Dấu Lợn
Bệnh đóng dấu là một bệnh truyền nhiễm, xảy ra chủ yếu ở lợn trên 3 tháng
tuổi và dưới 5 năm tuổi với tính cấp tính hay mãn tính và đặc trưng lâm sàng
là chết đột ngột, sốt cao với những mảng xung huyết, mẩn đỏ định hình trên
da, lợn bị viêm khớp.
1. Nguyên nhân:
Do vi trùng Erysipelas (Erysipelothrix) Rhusiopathiae gây ra. Vi trùng có
hình que bắt màu gram dương (+). Vi trùng tồn tại trong đất từ những nguồn
nhiễm từ phân, nước tiểu của gia súc bệnh hay gia súc mang trùng có sẵn
trong niêm mạc họng, amiđan và mũi lợn. Khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ trỗi
dậy phát bệnh đặc biệt là thời tiết nắng nóng, oi bức, độ ẩm cao.
2. Triệu chứng:
Có thể bệnh nhiễm 3 thể: Thể quá cấp, thể cấp tính, thể mãn tính. Đối với thể
quá cấp, xảy ra nhanh, lợn sốt cao từ 41-42oC có khi lên tới 43oC, lợn bỏ ăn
nằm ì một chỗ, trụy tim rồi chết. Bệnh thường xảy ra ở lợn từ 3-4 tháng tuổi.
Đối với thể cấp tính, tương tự như thể quá cấp, lợn sốt từ 41-42oC, quỵ gục,
bỏ ăn và chết sau 24-48 giờ do bị nghẹt thở với những nốt sần xung huyết
thâm tím trên tai và loang lổ khắp cơ thể. Những đám xung huyết có hình tròn
hay vuông đôi khi đa dạng hình và có kích thước khác nhau và tạo thành
những nốt viêm da nổi mẩn cứng khắp cơ thể. Ở lợn trắng rất dễ nhận biết,
nhưng ở lợn đen có thể lấy tay sờ thấy các nốt sần mẩn cứng xung huyết này.
Đối với thể mãn tính, lợn sốt 40-41oC, bỏ ăn nằm bẹp một chỗ, chảy nước

2. Triệu chứng:
Bệnh thường xảy ra đối với heo con sau cai sữa.
Thời gian ủ bệnh khoảng 2 – 4 ngày, đôi khi chỉ vài giờ. Thông thường con to
nhất trong đàn dễ mắc bệnh, có triệu chứng phù nề mặt, mí mắt sưng mọng.
Heo còn khoẻ có triệu chứng thần kinh: đi vòng vòng, co giật, hoặc nhai, nằm
đạp chân kiểu bơi chèo hoặc chạy quanh, liệt hoặc nằm úp trên 4 chân. Heo
chết sau 2- 5 ngày. Tỉ lệ chết cao (60 – 70%).
3. Phòng bệnh:
Bệnh xảy ra thình lình và khó kiểm soát, gây thiệt hại cho người chăn nuôi.
Do đó để hạn chế ảnh hưởng của bệnh gây ra ta cần có kế hoạch trong việc xử
lý và phòng bệnh. Tiêm phòng heo mẹ vào thời điểm 5 – 6 tuần trước khi sinh
và lập lại lần 2 vào 2 tuần trước khi sinh bằng vacxin Litterguard LTC: 2
ml/con/1 lần. Tuy nhiên, vacxin chỉ bảo vệ được cho heo con trong giai đoạn
đầu đời từ 2 – 3 tuần, cần thực hiện các biện pháp bổ sung để bảo vệ lứa heo.
Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tránh stress.
Nền chuồng khô thoáng, tránh tạo các trũng nước trên mặt nền chuồng, đảm
bảo heo con luôn được ấm trong mùa lạnh và mát trong mùa hè. Khi tách bầy
cần chia nhỏ các bữa ăn, hạn chế khẩu phần ăn heo con xuống 50% lượng
thức ăn hàng ngày, sau 3 ngày tăng lượng thức ăn từ từ kết hợp bổ sung men
tiêu hoá Prozyme New với liều 250g/10 kg thức ăn. Tăng hàm lượng rau xanh
trong khẩu phần ăn cho heo con.
Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng bằng Vimekon. Điều trị bệnh bằng kháng
sinh, tuy nhiên khi chọn đúng kháng sinh bệnh cũng có tỉ lệ chết cao do độc
tố còn tồn tại trong máu, chưa loại thải được. Nên khi điều trị cần thực hiện
đủ các yêu cầu sau:
- Cách ly những con bệnh ra khỏi đàn, tiêu độc sát trùng chuồng nuôi bằng
Vimekon: 10g/2 lít nước phun hằng ngày vào chuồng.
-Dùng kháng sinh tiêm liên tục 3 – 5 ngày;
- Vimefloro F.D.P: 1ml/5 – 10kg thể trọng/ngày;
- Hoặc Genta - Colenro: 1ml/10kg thể trọng/ngày.

2. Đường truyền lây: qua đường tiêu hóa do heo con liếm láp các chất dơ
bẩn, phân heo mẹ, thức ăn rơi vãi, hoặc bú sữa ở vú viêm.
3. Triệu chứng và bệnh tích: thường xảy ra một cách đột ngột với các triệu
chứng ban đầu là bỏ ăn và rất khát nước, sau đó xuất hiện các triệu chứng:
Đối với thể nhiễm trùng máu, dấu hiệu thần kinh đặc trưng của bệnh là lúc
đầu không phối hợp được hoạt động, run rẩy, nằm đạp chân kiểu bơi chèo
hoặc chạy quanh, liệt hoặc nằm úp trên 4 chân. Đa số heo con sẽ chết trong
vòng 24 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng thần kinh; Nếu kết hợp với thể
phù khi kiểm tra kỹ, thấy phù ở mí mắt và xung huyết kết mạc mắt. Hiện
tượng phù tổ chức liên kết lan rộng khắp mặt và có thể dẫn đến triệu chứng
điển hình phù đầu.
Ngoài ra còn thấy heo khó thở, táo bón hoặc tiêu chảy trước khi xuất hiện
triệu chứng thần kinh. Đa số không thấy thân nhiệt tăng cao;
4. Triệu chứng tiêu chảy:
- Tiêu chảy trên heo con sơ sinh từ 0 - 4 ngày tuổi với các đặc điểm: Phân
màu vàng kem, hoặc hơi xanh, với nhiều nước, trong thời gian tiêu chảy heo
con vẫn bú, tuy nhiên suy nhược rất nhanh, gầy còm, nằm chồng chất lên
nhau. Sau 2 - 3 ngày tiêu chảy, một số con chết, số còn lại nếu điều trị tốt sẽ
khỏi bệnh.
- Tiêu chảy giai đoạn từ 5 ngày đến 3 - 4 tuần: Nguyên nhân phần lớn là do
không tiêu thức ăn, thiếu chất sắt hoặc do các yếu tố chăm sóc kém tạo điều
kiện cho vi trùng phát triển nhanh. Phân có màu trắng hoặc xám trắng, heo
con gầy ốm, lông dựng lên, có thể có sốt hoặc không.
- Tiêu chảy sau cai sữa: Thường do cho ăn quá nhiều, heo con không tiêu hóa
hết thức ăn, thức ăn còn thừa trong ruột tạo điều kiện cho vi trùng Salmonella
E.coli phát triển và gây bệnh.
5. Phòng bệnh:
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và việc vệ sinh sát trùng chuồng trại kỹ lưỡng là
yếu tố rất quan trọng để hạn chế tỷ lệ bệnh này. Để phòng ngừa cần chú ý
những điểm sau:

khi sử dụng kháng sinh nên trộn với thức ăn và phải cân nhắc, nếu không sẽ
không đạt hiệu quả tốt. Nếu sử dụng liều cao kéo dài sẽ dẫn đến mất cân bằng
hệ vi sinh đường ruột, heo sẽ tiêu chảy nặng hơn.
Đối với heo tiêu chảy phải nhanh chóng cung cấp cho cơ thể heo đủ nước,
chất điện giải và kết hợp sưởi ấm cho heo con. Đối với heo còn bú, vẫn cho
bú mẹ bình thường.
Khi heo bớt tiêu chảy và hồng hào trở lại, tiếp tục tiêm bồi dưỡng các loại
vitamin và kháng sinh để phòng ngừa phụ nhiễm và tăng sức đề kháng cho
heo.
Vì tính chất lây lan nhanh và tỉ lệ tử vong cao của bệnh. Khuyến cáo không
nên điều trị đối với những cá thể có những triệu chứng điển hình và nặng. Cần
nhanh chóng loại thải chúng khỏi đàn nhằm hạn chế mầm bệnh lưu trú trong
khu vực.
XI. Bệnh Viêm Khớp Ở Lợn Do Streptococcus Suis
Viêm khớp là yếu tố gây què ở lợn. Các yếu tố khác gây què ở lợn gồm liên
quan đến mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất, những tổn thương ở chân
do chấn thương, hình thành không đúng và thoái hóa xương và các thay đổi
khớp. Bệnh viêm khớp do nhiễm trùng khớp và các mô bao quanh bởi vi
khuẩn (Streptococcus suis, E. Coli, Staphylococcus…) và Mycoplasma.
Bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, gây thiệt hại
kinh tế cho người chăn nuôi; đồng thời bệnh làm cho lợn tăng trọng kém và
giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn.
1. Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram dương, gây viêm khớp
lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi. Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 – 6
tuần tuổi, bệnh được phân loại như một phần của hội chứng "yếu khớp" kết
hợp với viêm rốn.
2. Lây lan: Streptococcus suis có thể khu trú ở amidan của gia súc khỏe, khi
gặp điều kiện môi trường thuận lợi như: lợn trong tình trạng stress, nhiệt độ
môi trường thay đổi thất thường làm giảm sức đề kháng lợn…lúc này dễ dàng
phát bệnh. Mầm bệnh được tiết ra từ dịch âm hộ, dịch đường hô hấp và sữa

dưỡng chất giúp cân bằng khẩu phần, hạn chế suy dinh dưỡng như: Vime –
Amino: 100gr/20kg thức ăn; Vimix plus: 100gr/120 lít nước, dùng hàng ngày;
Biotin H AD: 100gr/100kg thức ăn.
Trị bệnh: Trong bệnh viêm khớp do Streptococcus suis ở lợn con, điều trị sớm
sẽ rất hiệu quả. Điều trị đúng liệu trình giúp heo hồi phục tốt hơn, có thể sử
dụng một trong các loại thuốc sau liên tục 3-5 ngày.
+ Kampico: liều 1ml/4kg thể trọng;
+ Procain Penicillin: 1ml/10kg thể trọng;
+ Colamp: 1ml/10kg thể trọng. Kết hợp Ketovet: 1ml/15kg thể trọng/ngày
nhằm giảm đau, hạ sốt cho lợn. Nên bổ sung tiêm Vimekat: 1ml/5kg thể
trọng, lặp lại sau 4 – 5 ngày giúp tăng cường trao đổi chất giúp heo mau hồi
phục sau bệnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status