Bridget Hayden 2009. ‘Displacing the subject: A dialogical understanding of the
researching self’. Anthropological Theory 9 (1): 81-101.
Đổi chỗ của chủ thể: Một cách hiểu có tính đối thoại về nghiên cứu bản thể
Tác giả:
Bridget Hayden, Trường Đại học Nam Mississippi, Mỹ
Người dịch: Nghiêm Liên Hương
Nguyên gốc: Tóm tắt: Những nhận thức luận có tính đối thoại về bản thể đã ảnh hưởng tới sự xem xét
lại của đời sống chính trị của dân tộc học. Mặc dù chỉ trích bản thể theo thuyết Carte,-
học thuyết coi bản thể như là trung tâm của trí thức, các các tiếp cận này chú trọng đến
người nghiên cứu và cho rằng đây là cốt lõi của chủ thể nhận biết về bản thân mình. Bài
báo này đưa ra quan điểm của Peirce cho rằng “con người” là một dấu hiệu của việc bổ
sung những lý thuyết then chốt của trí thức. Mặc dù Pierce tập trung vào biểu hiện của
nhận thức, chúng ta có thể áp dụng cơ cấu lý giải của ông để suy nghĩ về những phương
thức chuyển tải khác của dấu hiệu nghiên cứu, những diễn ngôn hình thành nên những ý
nghĩa của bản thể như là dấu hiệu và những rủi ro trong cuộc chạm trán với nghiên cứu
dân tộc học.
Từ ngữ chính: Nhận thức luận, nghiên cứu dân tộc học, điền dã, những quan điểm về sự
công nhận, bản thể, dấu hiệu, không gian gặp gỡ, thuyết quan điểm.
Thực ra, các bài viết phê bình trong nhân học không nên chỉ dừng lại ở việc hiểu cái gọi
là “những người khác” mà còn phải chỉ ra được làm sao mà trong bất cứ một trường hợp
nào thậm chí “chúng ta” (định nghĩa thế nào cũng được) không phải là những người
chúng ta nghĩ chúng ta là ai. (Keane, 2003:241)
Giới thiệu
lớn nhất đến nhà nghiên cứu bao gồm cả cảm giác lo lắng về việc một người nên đặt vị trí
bản thân như thế nào trong mối liên hệ với những người mà anh/chị ta đang nghiên cứu.
Trong bài viết này, tôi đặt ra câu hỏi là những người là đối tượng nghiên cứu của chúng
ta hay là những người đối thoại với chúng ta biết gì về chúng ta trong sự giao lưu với
những cách mà các học giả khái niệm hóa bản thể nghiên cứu trong dân tộc học và thuyết
nữ quyền về trí thức. Khuân khổ lý giải mà tôi đề xuất sẽ đưa nhà nghiên cứu, hay chủ
thể hiểu biết ra khỏi trung tâm của những suy tính về lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu mà không làm cho nhà nghiên cứu này bị biến mất hoàn toàn. Thay vì làm trệch tâm
vị trí trung tâm (Narayan và Harding, 2000), tôi muốn di dời vị trí của chủ thể này ít ra là
trong giây lát, một hành động mà tôi tin là cần thiết nếu chúng ta chấp nhận nhận thức
luận nổi rõ lên và mang tính đối thoại trong nghiên cứu. Sự di chuyển này tạo ra một
dạng phản chiếu đối lại thuyết duy ngã và công nhận rằng chúng ta chỉ có thể kiểm soát
được quan điểm của chúng ta ở thực địa ở một mức độ nào đó cũng như chúng ta cũng
chỉ có thể biết được về bản thân chúng ta chỉ ở một chừng mực nào đó. Trong bài viết
này, tôi muốn tìm hiểu cách thức mà chúng ta có thể nhận ra thực tế chúng ta không phải
“như chúng ta nghĩ”, theo cách nói của Keane.
Cảm hứng cho bài báo này ra đời trong hoàn cảnh một người Salvadoran sống ở Costa
Rica đối chất tôi không phải vì những gì tôi đã làm mà vì những gì tôi có thể làm trong
tương lai và vì tôi ít cảm thấy xấu hổ về điều này. Đầu tiên tôi sẽ trình bày sơ qua về việc
các lý thuyết hậu thuộc địa và nữ quyền có thể đóng góp gì vào cái cách tôi hiểu về sự đối
chất này. Đưa ra các lý thuyết này là cần thiết cho việc nhìn nhận có tính đối thoại về bản
thể như một liều thuốc giải cho thuyết Carte, lấy nhận thức luận về bản thể làm trung tâm
và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các quan hệ quyền lực trong nghiên cứu. Tuy
nhiên, tôi cũng lý luận rằng viếc sử dụng Hegel để giải quyết vấn đề này có xu hướng tạo
ra một lỗ hở trong hiểu biết của chúng ta về sự đối mặt trong nghiên cứu. Các cách tiếp
cận này không chỉ tiếp tục thừa nhận một bản thể khá là “cô lập” mà chúng còn đặt trung
tâm của chủ thể vào cá nhân sinh học và gặp khó khăn trong việc vượt qua mô hình về
mối quan hệ có tính trên dưới và có thể là đối kháng nhau giữa bản thân và người khác.
năm 1970s, nhìn chung là do bị khủng bố về chính trị, phần lớn đều chuyển tới nơi này
vào những năm 80s để chạy trốn sự tàn khốc của cuộc nội chiến ở El Salvador kéo dài từ
1981 đến 1992. Cuộc chiến đã khiến cho khoảng 80,000 người chết và một phần tư dân
chúng di tán hoặc trong nước hoặc quốc tế. Phần lớn những người mà tôi biết, mặc dù họ
hiếm khi tự thảo luận về vấn đề này, mất gia đình hay bạn bè trong cuộc chiến, một số thì
bị bắt hoặc thậm trí bị tra tấn. Những người khác, đặc biệt là thanh niên trong độ tuổi vị
thành niên hay đầu 20 vào đầu những năm 80s, đã trốn khỏi nghĩa vụ quân sự và được
cha mẹ đưa ra nước ngoài hay nếu họ nhỏ tuổi hơn vào lúc đó, cũng được gia đình mang
ra khỏi El Salvador để bảo vệ họ. Kết quả là, trong số những người tôi biết ở Costa Rica,
mặc dù một số thú nhận là có quan điểm trung lập trong cuộc chiến, nhiều người, mà có
lẽ là phần lớn ủng hộ quân du kích ngay cả khi họ không trực tiếp tham gia vào. Phần
lớn, có lẽ là tất cả, đều có nhận thức về mặt chính trị ở một mức độ nào đó và thường là
công nhận vai trò của Mỹ như một đế quốc, kể cả sự hỗ trợ về tài chính và quân sự của
Mỹ cho chính phủ Salvador trong cuộc nội chiến. Họ cũng nhận thức được về những mặt
tích cực của Mỹ thông qua kinh nghiệm về các dạng viện trợ khác, các cá nhân được
quan sát hay được nói chuyển ở Costa Rica, di cư của gia đình và bạn bè tới Mỹ và các
mối liên hệ khác.
Theo kinh nghiệm của tôi về ghiên cứu quan sát tham dự trong số những người Salvador
ở Costa Rica vào những năm 90s, tôi không phải người duy nhất tham gia và quan sát.
Thực vậy, một số người Salvador nói với tôi rằng những người đồng hương của họ sẽ
không nói chuyện với tôi cho đến khi họ quan sát và quyết định rằng tôi là một người nào
đó mà họ muốn biết. Vào thời điểm họ nói với tôi điều này, tôi đã rút ra được một kết
luận từ một dạng gặp gỡ lần đầu gần như không thay đổi là người ta sẽ quan sát tôi trong
3
một thời gian dài trước khi cuối cùng đặt cho tôi một câu hỏi. Thậm chí trước khi tôi phát
hiện ra điều này, tôi đã cố gắng tránh đặt người ta vào vị trí mà họ cảm thấy phải có
nghĩa vụ nói chuyện với tôi. Điều này một phần là do tính cách của tôi và những bài học
mà tôi rút ra được từ việc đọc các bài phê bình tính chính trị của nhân học được xuất bản
nhau ở chỗ chúng đều đưa ra những giả định trước (tôi là người phân biệt chủng tộc, anh
đánh vợ) mà không thể được chứng minh là sai hay đúng trong câu trả lời, nhưng câu hỏi
của Hector lại được đặt ra ở thể giả định mà chỉ có thể xảy ra ở một nơi xa xôi ở một thời
điểm trong tưởng tượng trong một hoàn cảnh gần như là không thể xảy ra.
3
Vì vậy mà
giả định này không thể bác bỏ thông qua những hành vi trong quá khứ hay hay là những
quan sát về cá tính. Việc tôi không có bất cứ một hành vi phân biệt đối xử nào hay tỏ vẻ
cao xa quyền quí ở Trung Mỹ không thể chứng minh được rằng tôi sẽ không có những
hành vi như vậy ở đất nước của mình. Có cố lắm đi chăng nữa thì những hành vi của tôi ở
Trung Mỹ cũng chỉ có thể làm cho anh ta thoải mái khi đặt ra những câu hỏi như vậy. Tất
nhiên, tôi cũng muốn tin rằng bởi vì tôi chưa thể hiện mình là một kẻ phân biệt chủng tộc
và có vẻ như là một người bạn của họ nên họ có thể hỏi câu hỏi đó và chúng cũng khiến
cho những hành vi giả định của tôi ở Mỹ mà cho họ đau đớn hơn.
4
Đây cũng không phải lần đầu tiên Hector chất vấn tôi. Vào mùa hè trước khi bắt đầu làm
thực địa, tôi đã ở Costa Rica một vài tuần làm công việc thu thập dữ liệu và liên lạc với
một số các tổ chức Salvador. Tôi nhớ là có gặp ban giám đốc của hiệp hội để trình bày về
kế hoạch nghiên cứu của tôi và trả lời một số câu hỏi xã giao và tiếp theo là Hector lên
lớp cho tôi. Cuốn nhật ký từ mùa hè năm đó đã bị hỏng nát trong những năm tiếp theo vì
vậy tôi không còn nhớ chắc chắn là điều gì đã khiến anh ta bận tâm nhưng tôi nghĩ đó là
một bài thuyết giáo về vai trò của nước Mỹ trong cuộc chiến ở El Salvador. Lúc đó, tôi
cũng không biết anh ta rõ lắm. Anh ta chỉ xuất hiện trong mục lục của những ghi chép tại
thực địa của tôi có ba lần. Anh ta cũng không nằm trong nhóm người thường xuyên đến
địa điểm mà nhóm đã thuê. Vì vậy tôi không dám kết luận gì về động cơ hay xu hướng
chính trị của anh ta. Tôi cũng không có cơ hội phỏng vấn anh ta mà chỉ biết anh ta trong
một số lần tình cờ cùng có mặt tại cùng một địa điểm tụ họp cùng với những người khác.
Rõ ràng là anh ta phê phán quan hệ thuộc địa kiểu mới giữa các nước. Tôi cảm thấy an
ra rằng tôi là một vật thể trong số các vật thể khác (1967: 109).
Nỗi buồn của tôi bắt nguồn từ cảm giác về một sự chia rẽ, một cảm nhận rằng có thể thực
địa trở lại thành một nơi phân chia giữa “cái tôi” và “người khác”, nơi của sự khác biệt và
5
chiếm đoạt, thay cho cái chỉ đơn giản là một phần của cuộc đời tôi, mà trong đó điểm
giống nhau và khác nhau luôn luôn cùng tồn tại song song. Việc Hector biến tôi thành
một thực thể khách quan khiến tôi đi đến một câu hỏi là liệu tôi có thể rơi vào cái bẫy
“cái nhìn thực dân” không chỉ là khi tôi quay trở về Mỹ mà thậm chí là ngay khi ở thực
địa. Anh ta đã đưa lại gần nhau một cách có hiệu quả các địa điểm và thời gian mà nhân
học thường tách ra với một sự nghi ngờ rõ ràng rằng tôi đang sử dụng chúng vào mục
đích riêng của tôi. Bằng cách như vậy, anh ta đã ép buộc tôi phải nhìn nhận thực địa trong
cái khuân khổ của tôi/người khác mà tôi chối bỏ và anh ta đẩy tôi vào vị trí của kẻ thực
dân.
Những lý giải đầu tiên của tôi về cuộc gặp gỡ này bị ảnh hưởng bởi việc đọc các bài phê
bình trong nhân học và các nghiên cứu về nữ quyền trong suốt thời kỳ học cao học vào
những năm 90s, nhấn mạnh đến những vị trí tương quan mà Hector và tôi chiếm giữ
trong hệ thống thế giới về quyền lực và danh vọng và những cái cách mà hệ thống này
kết hợp những dạng khác của sự khác biệt, đặc biệt là về “chủng tộc”. Trong vài thập kỷ
qua, các học giả trên nhiều lĩnh vực kể cả nhân học và các nhà nữ quyền, đã suy nghĩ lại
về nhận thức luận của khoa học xã hội. Chỉ trích quan điểm của Cartes cổ xúy các mô
hình của chủ thể nhận thức tách biệt ra khỏi đối tượng của nhận thức trong thời kỳ phục
hưng, họ đã đề xuất một số các cơ cấu nghiên cứu, viết bài và hành động khác. Điều này
bao gồm cả sự quan tâm đến tính chính trị và tính thơ ca của dân tộc học cả trong nghiên
cứu lẫn trong viết lách, kể cả mối quan hệ của người nghiên cứu với chủ thể nghiên cứu
của anh ta ở trong cả hai khía cạnh của dân tộc học, thường là nằm ở thực địa và ở quê
nhà.
Đại diện
Các lý thuyết về quan điểm không chỉ đơn thuần là công nhận bản chất tình huống của
kiến thức mà còn tiến xa hơn trong việc đề xuất rằng quan điểm của những người không
có quyền lực ở trong hệ thống có thể đưa ra những điểm xuất phát tốt cho nghiên cứu.
Cuộc sống và những kinh nghiệm của họ dẫn tới những nhận thức quan trọng và những
câu hỏi mà không thể nhìn thấy được hay là bị che mờ đi khi nhìn từ phía những ví trí
khác của quyền lực. Điều này không có nghĩa là các vị trí của chủ thể được tự động nâng
lên hay là những cá nhân đó ở những hoàn cảnh được ưu đãi hơn thì không thể có một ý
thức phê phán. Thay vào đó, các luận điểm được hình thành và hỗ trợ cho việc tìm hiểu
về sự vận hành của các hệ thống quyền lực. Đầu tiên hệ thống lý thuyết này được khái
niệm hóa bởi các học giả về thuyết nữ quyền trong sự khác biệt về kinh nghiệm sống của
nam và nữ. Sau đó nó đã phát triển và trở nên phức tạp hơn cùng với việc đưa vào các chỉ
trích từ những phụ nữ không phải xuất thân từ tầng lớp trung lưu, da trắng, theo chủ
nghĩa nữ quyền kiểu châu Âu. Việc đưa chủ thể sản sinh ra kiến thức ra xa khỏi vị trí
trung tâm còn được thúc đẩy hơn bởi sự công nhận quan trọng về tính giao thoa, hay là
những cách thức mà các cấu trúc xã hội khác nhau liên kết với nhau và thông tin với nhau
trong việc hình thành nên các vị trí chủ thể. Một quan điểm gần gũi với quan điểm này
(Alarcon, 1990) là đa chủ thể cũng đi đến nhận xét rằng sự di chuyển giữa các quan điểm
hay là các lập trường dẫn tới một thực tế là kiến thức không chỉ nằm ở một quan điểm cá
lẻ nào cả. Lập luận này cũng tương tự với một lập luận trong nhân học về phương pháp
so sánh như một phần cố hữu của bộ môn khoa học này: các nhà nhân học chiếm giữ một
vị trí trong một nền văn hóa thông qua quá trình lớn lên và cố gắng tìm hiểu về một nền
văn hóa khác thông qua thực địa (cũng như thông qua việc đọc các bài đọc lý thuyết và
miêu tả dân tộc học) và điều này đã cho phép họ nhìn nhận cả hai hệ thống thực hành
bằng những cách mới (Myerhoff, 1980).
Từ nhận xét chung này, một lý giải về cuộc gặp gỡ của tôi với Hector sẽ có thể là nhận ra
sự khác biệt của chúng tôi trong hệ thống chủng tộc ở Mỹ, nơi mà những người di cư từ
châu Mỹ La Tinh thường xuyên phải đối mặt với sự bài ngoại và chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc cũng như một nhận thức mới về cái gọi là chủng tôc là gì. Nhận thức về vị trí
định vị trí của chúng ta như thế nào và ít để ý đến những tình huống khi mà những người
chúng ta tiếp xúc từ chối để chúng ta định vị chúng ta như là khi Hector liên tục chặn lại
những nỗ lực của tôi nhằm bảo vệ bản thân khỏi những lời buộc tội trong tương lai về
phân biệt chủng tộc/tỏ vẻ thuộc đẳng cấp thượng lưu.
Các cấu trúc xã hội được cụ thể hóa và được coi như là những đơn vị nguyên sơ để phân
tích tính nhân quả mà không xem xét đầy đủ chúng tạo những quan điểm như thế nào và
những quan điểm này có thể có những ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau.
Đầu tiên, bản sắc được ví với không gian, một quan điểm đưa một cách nhìn cụ thể trên
thế gian này và điều này làm nảy sinh những vấn đề về lý thuyết mà cần phải được tháo
gỡ. Vì vậy mà, không thể nào có mặt ở nhiều hơn một không gian trong cùng một thời
điểm và điều này làm cho những người có nhiều vị trí chủ thể hay đứng ở những điểm
giao thoa của các hệ thống, cảm thấy khó xử, và hiển nhiên là một vấn đề đối với những
người không nằm ở trong khu vực thống trị. Tương tự, khó mà biết được làm thế nào để
đối phó với sự phức tạp của các hệ thống quyền lức đối lập nhau giữa người nghiên cứu
và người được nghiên cứu trong khuân khổ này, chẳng hạn như việc tôi là một phụ nữ
cũng là một phần của lý do tại sao Hector cảm thấy có thể đối mặt với tôi một cách mạnh
mẽ như vậy về những khía cạnh khác của sự bất công bằng. Thứ hai, người ta phần lớn
coi các vị trí xã hội được tạo ra bởi những hệ thống này là bất biến về mặt thời gian và
không gian, một thực tế nằm ở gốc rẽ của vấn đề mà phiên bản chính thống của chủ nghĩa
nữ quyền (trung lưu, da trắng, mang nặng tư tưởng châu Âu) gặp phải trong trường hợp
của những phụ nữ nằm ở những sắc tộc, chủng tộc, địa lý và vị trí xã hội khácvà những vị
trí này giao thoa với nhau. Vấn đề này có thể được nhìn thấy trong cuộc thảo luận giữa
tôi và Hector về chủng tộc. Mặc dù chúng tôi nói về chủng tộc ở Mỹ, và họ cũng đã hiểu
về quan hệ chủng tộc ở nước đó ở một mức độ nào đó, chủng tộc ở Châu Mỹ Latinh là
một khái niệm có đặc thù là lỏng lẻo và có tính giai cấp hơn ở Mỹ. Điều quan trọng là
anh ta xác định địa điểm của nơi gặp gỡ trong tương lai của chúng tôi là trường đại học
bởi vì điều này cho thấy rằng anh ta nghĩ đến tôi như một người có trình độ học vấn cao
8
nhận ra lẫn nhau’ (Hegel, 1998:112).
Phần lớn các bài phê bình của nhân học và của các ngành khoa học xã hội phương Tây
khác như thể hiện ở trong chủ nghĩa thuộc địa đã được rút ra dựa trên logic hình thành cái
tôi/người khác này. Thuật ngữ nhận diện cái tôi mạnh mẽ của khoa học xã hội đôi lúc
thay đổi (phương Tây, thế giới thứ nhất, phía bắc, các nước phát triển) nhưng vị trí của nó
trong mối tương quan với kẻ khác yếu đuối hơn không thay đổi. Nhiều nhà phê bình đã
lưu ý đến những cái cách mà chúng ta xây dựng mối quan hệ này trong văn bản. Quá
trình định nghĩa về cái tôi này thông qua việc xử dụng quyền lực được tìm thấy không chỉ
ở trong văn bản mà còn được phản ánh trong logic của cuộc chiến tranh ‘lạnh’ ở Mỹ,
cuộc chiến đã lý giải tất cả các sự kiện trên thế giới thông qua cái nhìn từ hai nửa bán cầu
đối lập nhau nhưng cũng là những thực thể cấu thành nên nhau tham gia vào một trận
tuyến rộng lớn. Hiện tại vẫn còn tồn tại một niềm tin mãnh liệt có tính chính trị cho rằng
gần như có một trận tuyến qui mô thế giới giữa ‘phương Tây’ và ‘Hồi giáo’. Một quan
điểm của Hegel về cái tôi và người khác trong sự công nhận lẫn nhau dẫn tới việc người
này bị người khác khuất phục cũng có thể được nhận thấy ở trong các chính sách kinh tế
và chính trị như thể hiện ở trong lý thuyết hiện đại hóa và bây giờ hay được người ta nói
đến xung quanh vấn đề toàn cầu hóa về mặt kinh tế. Chúng ta là những bản thể hùng
9
mạnh được phân biệt bởi những chủng tộc khác, những chủng tộc mà chúng ta sẽ biến
đổi và một phần nào đó bao trùm lên họ thông qua toàn cầu hóa và dân chủ hóa.
Như vậy, mặc dầu mô hình tôi/người khác được Hegel mô tả làm nổi bật lên cả bản chất
giao lưu của cái tôi và trật tự trên dưới trong sự bất công bằng xã hội, việc sử dụng mô
hình này trong các nghiên cứu hậu thuộc địa và nữ quyền đã có đầy rẫy những sự mâu
thuẫn. Hegel đưa ra quan điểm quan trọng về giao lưu và bài viết của ông về quan hệ địa
chủ /nông nô cho thấy rằng ở một số mặt thì nông nô còn có mạnh hơn cả địa chủ bởi vì
thông qua công việc mà anh ta làm hành động trực tiếp tác động lên thế giới cho phép
anh ta nhận thức được sự thuần khiết của cái tôi. Tuy nhiên, mô hình triết học của Hegel
– với việc biến cái của người khác thành cái của mình như một hình thức tự nhận thức –
tộc chính là những người đã từng đến Costa Rica du lịch và dường như là rất vui vẻ khi
nói chuyện với bạn của tôi, bạn của họ ở trong quán bar, và ở trên đường phố nơi họ bán
hang của họ. Điều này liệu có thể xảy ra không? Anh ta hỏi tôi. Anh ta đã rời El Salvador
nhiều năm trước đây khi mà anh ta bị bắt đi lính như nhiều thanh niên Salvador khác và
trốn khỏi nghĩa vụ quân sự ở đây. Rồi sau đó anh ta đi lên về phía bắc. Anh ta đến
Mexico vì nghĩ rằng mình sẽ sang Mỹ nhưng anh ta không đi nữa bởi vì anh ta nói là anh
10
sợ bị phân biệt chủng tộc. Anh ta quay trở về Salvador vì nhớ nhà rồi sau đó lại ra đi bởi
vì anh ta mệt mỏi vì phải trốn chui lủi và lần này thì về phía nam. Anh ta dừng lại ở Costa
Rica với gia đình, sợ gặp phải sự kỳ thị dẫn đến bị trục xuất ở Argentina nếu anh ta tiếp
tục đi về phía nam một mình. Như vậy, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là một mối quan
tâm ít nhất là trong số những người đàn ông thảo luận về các khả năng di cư. Thậm chí,
tôi cảm thấy ngạc nhiên trước thực tế rằng họ đưa ra những khả năng cụ thể về việc
không được công nhận hay không được tham gia vào một cách công bằng chứ không
phải là phân biệt chủng tộc một cách chung chung. Trong một dịp khác, Victor hỏi tôi
nếu anh ta đến thăm tôi ở Mỹ thì tôi có cảm thấy xấu hổ hay hạnh phúc khi gặp anh ta.
Hector hỏi tôi tại sao tôi không nói chuyện hay là nhận ra họ nếu tôi đi cùng với các bạn
mình ở trong trường đại học của tôi ở Mỹ? Trọng tâm của những hiểu biết có tính giao
lưu về cái tôi nảy sinh từ những tương tác có liên quan đến việc công nhận người khác là
‘tính chính trị của sự công nhận’, một thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ quyền được
khác biệt, quyền được người khác công nhận sự khác biệt của mình (Baum, 2004; Fraser,
2000; Taylor, 1994; I.Young, 1990). Cụm từ này không ám chỉ tới bất cứ một sự khác
biệt cụ thể nào cả mà chỉ nhằm tới những khác biệt khiến cho một người trở thành một
thành viên của một nhóm xã hội. Việc công nhận các bản sắc đã bị chối từ bởi “trung
tâm’ hay là khả năng xác định thực tế và sự tồn tại có thể được chấp nhận bởi quyền lực
thống soái đã trở thành một phần quan trọng của cuộc đấu tranh cho sự tự do. Tuy nhiên,
mặc dù tập trung vào sự khác biệt, nhưng trong thực tế tính chính trị của sự công nhận
cũng nhất thiết phải bao gồm cả sự công nhận về những điểm giống nhau. Điều này do
tình huống và dễ mâu thuẫn hơn là những điều chúng ta đọc được từ các cấu trúc khách
quan. Thay vào đó, chúng ta cần phải hiểu được về những rủi ro có thể xảy ra trong sự
tương tác và công nhận tại thực địa và trong cả tương lai nữa. Cụ thể, chúng ta cần công
nhận những rủi ro là kết quả của việc tạo ra những sự khác biệt có tiềm năng hay có vẻ bề
ngoài không tương xứng. Họ tin rằng việc tạo ra sự khác biệt này ở Mỹ thì khác so với ở
Costa Rica và rằng nguy cơ về việc tôi cảm thấy xấu hổ khi nói chuyện với những người
từ Mỹ La Tinh có thể là môt rủi ro.
Các không gian gặp gỡ
Việc khách quan hóa đặt các hành động và các nhân vật vào sự rủi ro bằng cách cho họ
một hình thức có tính ký hiệu (tức là có tính chất công chúng) và thay đổi vị thế trí thức
và thực dụng của họ (xem Keane, 1995, 1997). Nhưng đây không phải chỉ là một căn
bệnh của khoa học xã hội mà đây chính là tính chính trị của sự nhận thức và tương tác
hàng ngày. (Keane, 2003:239)
Một vấn đề thường gặp trong việc phát triển các nhận thức luận của việc điền dã dân tộc
học là sự căng thẳng giữa bản thể và khác thể, giữa sự giống nhau và khác nhau, giữa sự
loại bỏ và bao gồm. Mặc dù, có thể chia tách những đối lập này, trong thực tế chúng có
xu hướng bị coi là ngang bằng nhau và được coi là những cặp đôi trái ngược nhau. Như
vậy, ví dụ như, việc đưa lên thành lý thuyết thường có xu hướng về người khác hay sự
khác biệt giữa mình/người khác chứ không phải sự so sánh không ngừng những điểm
giống nhau và khác nhau. Sự đối lập giữa cái tôi và người khác cũng có xu hướng ngang
bằng với những đối lập có tính cặp đôi trái ngược nhau giũa cấu trúc/cá thể, chủ nghĩa
định mệnh/ý nghĩa, chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa lý tưởng. Keane (2003) xem xét lịch
sự của nhân học từ góc nhìn về sự căng thẳng này. Ông nhìn nhận theo hai nhận thức luận
đối ngược nhau: một là về sự thân mật và một là về sự ghẻ lạnh. Ông chỉ ra rằng mặc dù
người ta chỉ trích nặng nề luận thức luận thứ hai là có tính “loại bỏ”, cả thân mật và ghẻ
lạnh đều cần thiết thậm trí trong việc thể hiện một bản thân cá nhân. Ông lưu ý rằng mặc
dù nó trở thành một tính ngữ thông thường để kết tội một nhà nhân học về việc đơn giản
quân sự để hỗ trợ chính phủ El Salvador trong cuộc chiến vào thập kỷ 80s, di cư, du lịch,
các tập đoàn xuyên quốc gia, phim ảnh và vân vân. Cái mà người ta biết về tôi thay đổi
cùng với những kinh nghiệm của họ về những mối liên hệ này. Ví dụ như, những người
hoạt động chính trị tích cực nhất ở El Salvador thường có một không gian mang tính khái
niệm hơn về một người Mỹ, người đã đồng ý với họ về mặt chính trị hơn là những người
có kinh nghiệm về nước Mỹ ở El Salvador phải va chạm trực tiếp với trực thăng và bom
đạn. Có nhiều khả năng hơn là những người trước đã nghe hoặc gặp những người có
tham gia vào các hoạt động đoàn kết ở Mỹ. Câu chuyện về những người Mỹ có vẻ tử tế
khi đến Costa Rica nhưng lại không nói chuyện với người Mỹ La Tinh khi họ ở Mỹ được
những người di cư đưa quay trở lại đường phố của Costa Rica. Thực vậy, niềm tin về việc
khi người ta đi Mỹ, người ta sẽ quên những người ở lại Trung Mỹ, không chỉ giới hạn ở
lý thuyết về hành vi gringo, ít nhất là trong một số người mà tôi đã gặp. Nó được củng cố
bởi kinh nghiệm về một số người Trung Mỹ ra đi mà không bao giờ có hồi âm hay quay
trở lại. Theo tôi được biết thì Hector chưa bao giờ đến đất nước của tôi nhưng anh ta biết
được đất nước và đồng bào của tôi như thế nào và kết quả là anh ta biết được tôi phải như
thế nào. Những người khác thì không chắc chắn bằng Hector nhưng cũng cảm thấy lung
túng không kém bởi những khả năng này.
Tầm quan trọng của nhận thức luận về sự thân mật được thể hiện ở trong quan sát cho
rằng những người Salvardor sẽ không nói chuyện với tôi trừ phi họ quyết định là họ
muốn như vậy. Đôi khi, cái cách mà người ta nhìn tôi khác với mong đợi được lý giải là
một phong cách riêng và dường như ít có ảnh hưởng đến nhận thức luận về sự ghẻ lạnh
của người Bắc Mỹ vốn dĩ đã có; vài lần người ta nói với tôi rằng tôi đã được sinh ra
không đúng chỗ. Một số người ngạc nhiên về việc tôi thường xuyên có liên lạc với gia
đình bởi vì trong kinh nghiệm của họ người Bắc Mỹ không gần gũi với cha mẹ và anh chị
em như người Trung Mỹ. Những người khác cảm thấy bất ngờ trước quan điểm chính trị
của tôi. Trong trường hợp của một người bạn, nhận thức luận về sự thân mật đã vượt qua
nhận thức luận về sự ghẻ lạnh tới một mức độ mà anh ta gần như quên rằng tôi là người
nước ngoài. Thỉnh thoảng anh ta cũng buồn về tôi khi tôi nói rằng tôi không biết một cái
gì đó. Đến khi tôi phải nhắc nhở anh ta rằng tôi không sinh ra và lớn lên ở đó thì anh ấy
trường hợp khác, tôi chắc chắn đã tham gia vào cuộc đối thoại mà có thể tạo ra những sự
tương đồng như là tôi đề cập tới kinh nghiệm làm phục vụ khi nói chuyện với những
người phụ nữ về việc chủ đối xử với những người phục vụ trong gia đình như thế nào hay
là kiến thức về việc trồng trọt trong trang trại trong câu chuyện với những người đã sống
phần lớn cuộc đời họ ở vùng nông thôn. Dạng kiến thức thứ hai về sự thân thiện nổi lên
từ những câu chuyện chúng tôi kể, các cuộc thảo luận các câu trả lời của tôi cho câu hỏi
của họ, những quan sát và lý giải của họ về cách tôi hành động và loại kiến thức mà tôi
có và đưa vào trong câu chuyện. Cả sự lạnh lùng và thân thiện đều quan trọng đối với
những hiểu biết của chúng ta về nhau, cũng giống như chúng đều quan trọng đối với
những lý giải của tôi về các tương tác ngoài thực địa. Trong không gian gặp gỡ, có một
sự biện chứng qua lại giữa ghẻ lạnh và thân mật bởi vì kiến thức xã hội phát sinh từ các
tương tác xã hội.
Khó khăn trong việc khách quan hóa các chủ thể nghiên cứu của chúng ta một phần có vẻ
như là nó từ chối tính cá thể của người khác mà ưu tiên những giải thích đã được xác
định trước. Cụ thể hơn nữa, có lẽ đây là mối quan tâm chính của tôi vào thời điểm người
phụ nữ ở đầu đoạn văn trước khách quan hóa tôi như một người đến từ Mỹ, bởi vì khi
làm như vậy bà ta đã khước bỏ sự tiếp cận dễ dàng của tôi với bánh bắp. Mối quan tâm
thứ hai của tôi trong trường hợp này là bà ta có thể đã hỏi tôi rằng bà ta có thể đã công
nhân tôi và cho phép tôi được lên tiếng cho bản thân tôi. Keane (2003: 242-3), lý luận
rằng chúng ta không cần phải dùng tự quyết định chống lại chủ nghĩa định mệnh mà nên
công nhận rằng ‘đặc thù của nghiên cứu dân tộc học’ là ‘một không gian gặp gỡ mà ở đó
14
người ta tìm kiếm hay chối bỏ sự công nhận lẫn nhau’. Khi sử dụng thuật ngữ ‘không
gian gặp gỡ’, Keane lặp lại miêu tả của ông về hành động nghi lễ ở Indonesia như một
‘cảnh gặp gỡ” (Keane,1997).
Khái niệm về các cảnh gặp gỡ làm nổi bật lên bản chất tương tác của cái tôi được lý
thuyết hóa lên bởi các học giả theo thuyết tương tác mang tính tượng trưng (ví dụ như
có thể sẽ không công nhận anh ta trong lần gặp gỡ trong tương lai dưới những điều kiện
khác.
Hector cho tôi một lời khen thông qua việc chất vấn tôi một cách trực tiếp cho dù tôi nghi
ngờ là anh ta có chủ định như vậy. Nhờ làm như vậy anh ta đã tạo nên một không gian
gặp gỡ mà ở đó anh ta thách thức tôi xem tôi có công nhận anh ta và những người khác
giống như anh ta mà không tính đến hoàn cảnh và các cấu trúc áp bức và đáng hổ thẹn ở
đất nước của tôi. Anh ta cũng tạo nên một quang cảnh mà ở đó tôi cố gắng thuyết phục
anh ta công nhận con người mà tôi hy vọng chính là tôi. Tôi không có lý do để trông chờ
rằng những người khác đáng lẽ ra phải làm tương tự như vậy mặc dầu trong lần đầu tiên
15
tôi gặp một người đàn ông khác, ông ta đã hỏi tôi tại sao ‘tôi ghét người da đen’, một
cuộc gặp gỡ khác mà ở đó chủ nghĩa phân biệt chủng tộc được hiểu như một đặc điểm
của đất nước tôi, lại được gán cho tôi dựa trên bằng chứng về quốc tịch và màu da của
tôi. Một loại người vào những năm 80s ở El Salvador là ‘oreja’ ‘tai’ hay là gián điệp,
người được định nghĩa một phần là nhờ sự trốn tránh các cảnh gặp gỡ mà ở đó người ta
sẽ công nhận bản sắc đó. Một ngày khi tôi đang đi với một người Salvador khác thì
chúng tôi đi qua một người và anh ta nói rằng người này đã từng là một oreja bằng cách
dỏng tai lên nghe ngóng. Anh ta giải thích làm thế nào để quan hệ với những loại người
như vậy; vui vẻ nhưng tránh nói bất cứ điều gì. Người ta cũng có thể sử dụng mô hình đó
với tôi. Tôi nghĩ là tôi đã vô tình ép buộc một người phụ nữ nói chuyện với tôi, mặc dù
bà ta tỏ ra rất cố gắng để duy trì cuộc nói chuyện. Sau đó tôi có nghe từ một người quen
chung là bà ta đã cảnh báo một người mà tôi biết là hãy cẩn thận vì bà ta đã có kinh
nghiệm với đồng bào của tôi và chúng tôi không đáng tin. Tất nhiên, tôi không thể biết
được bao nhiêu người nữa muốn hạn chế nói chuyện với tôi và tôi lại càng không biết
được tại sao; tôi cũng không thể biết đượ, tôi không thể biết tôi là ai đối với họ.
Những rủi ro trong giao tiếp và những cách mà các cảnh gặp gỡ có thể dẫn tới sự công
nhân sai thường xảy ra trước chính các buổi gặp gỡ. Những rủi ro này cũng không có thể
lý luận rằng tất cả các suy nghĩ đều có liên quan đến cả khía cạnh chủ quan và khách
quan (Pierce, 1991: 46). Trong khi Descartes bắt đầu từ sự chắc chắn trong nhận thức về
cá thể, Pierce lý luận rằng tự nhận thức xuất phát từ việc lý giải các ký hiệu trong suy
nghĩ, sự suy luận. Theo Pierce, suy nghĩ là một loạt các phép suy luận, nảy sinh ra trong
khi lý giải các ký hiệu. Đối với Pierce, kiến thức đến từ trải nghiệm có hàm ý rằng những
người khác nhau có những kiến thức khác nhau về thậm chí là cùng ‘một vật’, trong khi
đó đối với Descartes, kiến thức có được từ sự nghi ngờ những kinh nghiệm của chúng ta
vì chúng ta không biết những trải nghiệm này có đúng không. Tự nhận thức, hay là ‘sự
công nhận cái tôi riêng tư của bản thân’ (Pierce, 1991:43) thì lại không có được bằng trực
giác mà thay vào đó là kết quả của việc chủ quan hóa các kinh nghiệm ở bên ngoài thông
qua suy luận. Theo quan điểm của Pierce, chúng ta ở trong suy nghĩ chứ không phải suy
nghĩ ở trong chúng ta. Và: ‘khi chúng ta nghĩ, thì chính chúng ta, như chúng ta tại thời
điểm đó, xuất hiện như một ký hiệu’ (Pierce, 1991:67). Để có thể theo dõi tốt hơn những
hàm ý của cá thể như suy nghĩ hay là ký hiệu, nên nghĩ đến bản chất của ký hiệu, quan
tâm đặc biệt đến vai trò của lý giải
Ký hiệu, theo như Peirce, thì gồm có 3 phần: ký hiệu trình bày (đôi khi cũng được gọi là
ký hiệu), vật thể và ký hiệu đã được lý giải. Ký hiệu trình bày giới thiệu vật thể với một
người nào đó, tạo ra ở trong người tiếp nhận một ký hiệu, và đó là ký hiệu đã được lý
giải. Cấu trúc của ông khác với khái niệm nhị nguyên của Saussure, coi ký hiệu như là
mối quan hệ giữa cái biểu thị và cái được biểu thị bởi vì Pierce bao gồm cả hành vi lý giải
trong chính ký hiệu. Nói một cách khác ý nghĩa nằm ở ký hiệu lý giải, chứ không phải ở
ký hiệu trình bày/vật biểu thị (hay là nhận thức về nó), nhưng nằm ở trong mối quan hệ
giữa 3 phần của ký hiệu thông qua sự lý giải. Điều này có nghĩa là các ký hiệu là một
phần của một quá trình; ký hiệu trình bày không có ý nghĩa ở trong nó mà chỉ có nghĩa
nghĩa nhờ vào một suy nghĩ hay hành động sau đó – ký hiệu đã được lý giải. Một cử động
bàn tay theo kiểu bực bội hay buồn bực chỉ có thể trở thành một sự xúc phạm khiếm nhã
khi một người làm như vậy trước sự có mặt của một người lý giải theo cách đó. Ký hiệu
được lý giải là một suy nghĩ hay hành động, không phải là địa chỉ tiếp nhận và nó trở
thành một ký hiệu để dẫn tới những suy luận tiếp theo trong một chuỗi ký hiệu.
tôi – do tôi là một hình tượng của đồng bào của tôi. Điều quan trọng trong bài viết này là
quan điểm của chính bản thân tôi về cái tôi của tôi, về sự tự nhận thức của tôi có ít ảnh
hưởng đến cái loại ký hiệu mà tôi có ý nghĩa đối với người khác.
Bài viết của Pierce (1955) về cái tôi như một ký hiệu ở trong cuốn ‘Một số hậu quả của
bốn cái bất khả năng’ tập trung vào ý thức, thích hợp để đối lại với cái tôi độc thoại và
đứng ở vị trí trung tâm như một xuất phát điểm cho những tìm tòi khoa học có tính triết
lý và khoa học. Trong khuân khổ này, ý thức là kết quả của những suy luận, một chuỗi
các ký hiệu và suy nghĩ mà trong đó cái tôi nói với người khác trong bản thân. Pierce
nhấn mạnh rằng kiến thức không bắt nguồn từ sự xem xét trong nội tâm mà kiến thức ở
bên trong bắt nguồn từ việc lý giải các thực tế bên ngoài (1955:230). Hơn nữa, cái tôi
được phát triển trong cộng đồng và đây cũng chính là điều mà nhiều học giả nhấn mạnh
tới. Như vậy, ví dụ, De Lauretis (1987) dựa vào Pierce để lý luận về cái cách mà các diễn
ngôn hình thành cái tôi. Trong xã hội loài người, các điều kiện sống khác nhau dẫn đến
các thực tế khách quan khác nhau và các lập trường khác nhau. Mặc dù ông kết thúc bài
báo ‘Một số hậu quả của bốn cái bất khả năng’ với nhận xét rằng cá nhân con người chỉ
tồn tại ở trong cộng đồng, theo như tôi hiểu Pierce không phát triển nó thành một hàm ý
có logic là các cái tôi là những ký hiệu. Đó là loại ký hiệu nào và bản chất của các ký
hiệu lý giải là gì khi nó không phải là một người khác trong bản thân? Trong bài viết này,
đây chính là cái mà tôi coi là điểm chính trong cuộc gặp gỡ với Hector và là lý do tại sao
tôi không lý giải cảm giác bị xúc phạm của anh ta trước việc tôi có khả năng sẽ ít cảm
thấy xấu hổ trước sự công nhận sai của mình. Việc mở rộng khỏi sự tự ý thức này được
đảm bảo bởi vì đối với Pierce các ký hiệu lý giải của những ký hiệu không tự ý thức
không chỉ giới hạn ở những thói quen và niềm tin của chính vật thể.
Ký hiệu trong định nghĩa của Pierce luôn luôn năng động và không tĩnh tại; nó
bao gồm sự tương tác giữa người lý giải ký hiệu và một cá thể khác (có thể là con
người hay là một thực thể khác trên thế gian này) (CP 5.484). Hiển thị là một
hành động thực tế trong thế giới thực này. Ký hiệu trong định nghĩa này cũng cơ
bản là có tính trung gian, bởi vì nó bước vào và nối liền giữa hai vật (vật thể và ký
diễn ngôn về việc sử dụng quyền lực kinh tế và chính trị của Mỹ cộng với các diễn ngôn
khác về giới và chủng tộc cả ở Mỹ và Trung Mỹ. Nó cũng bao gồm cả hiểu biết về sự xấu
hổ trên khía cạnh văn hóa điều này có nghĩa một người không nên bị bắt gặp ở trên
đường phố, ở nơi công cộng vì nó làm cho vị trí của người ta bị thấp hơn là đẳng cấp mà
người ta thường cho là mình ở đó. Trong số các cuộc đối thoại thì có các cuộc đối thoại
của người di cư (bao gồm kể cả sự thất bại trong việc tham gia vào cuộc đối thoại vì
chính đó cũng là một dạng giao tiếp) trên đường phố về đất nước của tôi và nói lại với
những người ở Costa Rica, những chiếc trực thăng của Mỹ bay trên bầu trời nông thôn
của Salvador trong cuộc chiến tranh, và những cuộc nói chuyện trực tiếp với tôi. Nó bao
gồm cả cảm nhận của họ rằng da sang màu thì tốt hơn da tối màu. Như vậy, cách tiếp cận
này cho phép chúng ta công nhận ảnh hưởng của cả những vị trí cấu trúc và ý nghĩa của
chúng và những tương tác ở tầm vi mô trong cái cách mà người ta nhìn nhận tôi. Trong
khi người Salvador và quyết định liệu có nên bắt đầu cuộc nói chuyện hay không, họ
đang đọc tôi như một ký hiệu. Tôi là một ký hiệu cần được lý giải trong sự xem xét các
diễn ngôn khác nhau, bao gồm cả kiến thức và kinh nghiệm của họ về nước Mỹ, cũng
như việc tôi hành động như thế nào, tôi làm cái gì, tôi nói cái gì, tôi nói điều đó như thế
nào. Tôi là một ký hiệu cần được đọc kể cả trên phương diện những điều họ đã biết về
gringos nói chung và những điều họ cảm thấy họ có thể trông chờ từ một người nào đó
làm những điều có ý thức và vô thức, như họ đã quan sát tôi làm. Nói một cách khác, cái
cá thể của tôi là một ký hiệu mơ hồ được dẫn dắt bởi các diễn ngôn và những mong đợi
đối lập nhau, và những không gian đối lập mà tách rời ra cùng một lúc và tất cả đều được
liên hệ với nhau một cách chặt chẽ.
19
Cách tiếp cận mới mà tôi vừa trình bày vắn tắt này cho ta một số hiểu biết có thể bổ sung
một cách hữu ích cho những cách tiếp cận của những quan điểm nhận thức luận khác như
là thuyết lập trường. Một vấn đề nan giải trong khoa học xã hội đặc biệt là nhân học là
vật hóa những cái có thể là đối tượng phân tích. Trong trường hợp của thuyết lập trường,
cho dù có một thưc tế rằng lập trường có thể được hiểu như một thành tựu, sự ví von về
tích để gỡ ra nhiều sợi chỉ rối rắm của những cuộc đối thoại khác biệt nhau mà cho ta biết
về hiện thực của chúng ta và các bối cảnh nghiên cứu trong khi chúng ta lắp ráp nên bức
tranh văn hóa.
Nếu tôi là một ký hiệu theo cách nhìn nhận của Pierce thì một phần hiểu biết về thực địa
có liên quan đến việc chuyển cá thể của tôi từ chỗ tự ý thức sang những cách thức mà tôi
có thể trở thành một ký hiệu trình bày, hay một ký hiệu nói chung đối với người khác.
Nói một cách khác, nó đòi hỏi rằng chúng ta phải chấp nhận một dạng thức nào đó về sự
thật trong những công nhận sai lầm về các cuộc gặp gỡ cùng với những rủi ro trong tương
tác. Bởi vì quá trình biểu thị của Pierce có liên quan đến một chuỗi các ký hiệu tiến lên và
lùi xuống về mặt thời gian, nó cũng liên quan đến việc công nhận tầm quan trọng của
20
21 những rủi ro trong quá khứ và tương lai trong bất cứ cuộc gặp gỡ hiện tại nào. Những rủi
ro trong cuộc gặp gỡ của tôi với Hector bao gồm cả hai cái cách mà quá khứ đã hình
thành nên cá thể của tôi như một ký hiệu đối với anh ta và những cuộc gặp gỡ trong
tương lai. Những cái cách mà một cá thể bị di dời ảnh hưởng đến thực địa không chỉ là
không xác định mà còn là không thể biết được. Suy nghĩ về cái tôi của người nghiên cứu
theo cách này giảm nhẹ đi vấn đề về cá thể cá nhân để cho phép ta công nhận những cái
cách mà chúng ta hoàn toàn không kiểm soát được những điều chúng ta có thể biết và
rằng cá thể của chúng ta trong thực địa là một trong những thứ mà chúng ta có thể thương
thảo trong những cảnh gặp gỡ. Cuối cùng, cách tiếp cận này đòi hỏi việc đưa cả địa
phương và toàn cầu vào trong cùng một cấp độ phân tích thông qua việc xem xét những
cái cách mà trong đó các bối cảnh và diễn ngôn trước đây và trong tương lai hình thành
nên việc diễn giải các ký hiệu.
Lời cảm ơn
được dùng để chỉ bất cứ một người Bắc Mỹ da trắng nào hay người châu Âu chứ không chỉ người Mỹ. Nó
cũng không mang bất cứ một ý khinh miệt nào mà nó có thể mang khi được sử dụng ở những nước khác;
cùng một lúc, người ta cũng nhận thức được những điều này, và điều này có thể giải thích tại sao, theo kinh
nghiệm của tôi thì, nó không được sử dụng trước mặt người ta chỉ trừ những mối quan hệ gần gũi thỉnh
thoảng. Có thể xem Nelson (1999) để biết thêm về những thảo luận về mặt lý thuyết và nhiều số liệu điền
dã dân tộc học, cũng như cái cách mà vị trí chủ thể gringa được đưa ra trong mối quan hệ với người khác ở
Guatemala
5
Hall (1996) đã đưa ra ‘tính chính trị của sự phân tán vô tận’ bắt nguồn từ sự công nhận có tính phản chiếu
về những khác biệt. Ông cho rằng cần phải có “tính chính trị của quá trình thống nhất” tức là tìm điểm
thống nhất trong sự khác biệt.
22
6
Những rủi ro của việc công nhận người Salvadorans cũng có thể tìm thấy ở những định kiến mà người
Costa Rica đôi khi tỏ ra đối với người Nicaraguan, những người thường được coi là có lán da sẫm màu hơn
người Costa Rica và cũng từ một nước nghèo và có nhiều xung đột. Những người Salvadoran cũng thường
bị nhìn nhận như vậy khi họ là những người nhập cư chính vào những năm 1980s.
7
Hiểm họa của việc áp đặt bản chất các cấu trúc xã hội vào trong các vị trí chủ thể có thể được tìm thấy ở
trong trường hợp của Mỹ La Tinh nơi mà sự hợp thành khác nhau vào trong các cấu trúc của chủ nghĩa tư
bản cũng đồng nghĩa với việc các cấu trúc về giai cấp khác với chủ nghĩa tư bản nòng cốt. Những người
Salvadore mà tôi biết ở Costa Rica thường có những tiểu sử khác phức tạp khiến cho ta khó có thể đặt họ
vào trong các phân loại về giai cấp chuẩn mực trong khoa học xã hội. Thêm vào đó, một hộ gia đình có thể
bao gồm cả những người có trình độ, lao động chân tay và người làm công trong khu vực phi chính qui.
8
Cần phải lưu ý rằng, interpretant không phải là người hay vật dùng để lý giải mà theo như Peirce mà là
quá trình diễn giải có thể xảy ra và xảy ra trên và dưới hay là ở ngoài nhận thức Cartesian. Tập trung của