Tiểu luận:Nền kinh tế Mỹ - Pdf 11

Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 1 BÁO CÁO MARKETING QUỐC TẾ

Nền kinh tế Mỹ

Thực hiện nhóm 07 – D07 QT2 – HVCNBCVT
Các thành viên bao gồm:
Vũ Ngọc Anh
Lê Thanh Hoài
Nguyễn Thành Trung
Nguyễn Phương Ngân
Trần Thị Vân Anh
Lê Đức Anh
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 2

MỤC LỤC

I: Đặc thù nền kinh tế Mĩ và những nhận định về cơ hội, thách thức đối với DN Việt
Nam. 4
1: Những nhân tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế Mỹ. 4
1.1: Nhân tố cấu thành đầu tiên của một hệ thống kinh tế quốc gia là nguồn tài
nguyên thiên nhiên của quốc gia đó. 4
1.2: Nhân tố cấu thành thứ hai là lao động, yếu tố chuyển hóa các tài nguyên thiên
nhiên thành hàng hoá. 4
1.3: Quản lý khoa học. 6

2- General Motors - Sự tồn tại, phá sản và tái cơ cấu. 32
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 4

I: Đặc thù nền kinh tế Mĩ và những nhận định về cơ hội, thách thức đối với DN
Việt Nam.
1: Những nhân tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế Mỹ.
1.1: Nhân tố cấu thành đầu tiên của một hệ thống kinh tế quốc gia là nguồn tài
nguyên thiên nhiên của quốc gia đó.
Nước Mỹ rất giàu khoáng sản, đất đai canh tác màu mỡ và được phú cho khí hậu ôn
hoà. Nó còn có đường bờ biển trải dài cả hai bên bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương
cũng như trên vịnh Mêhicô. Những con sông bắt nguồn từ sâu trong lục địa và hệ thống
Hồ Lớn - gồm năm hồ lớn nội địa dọc theo biên giới của Mỹ với Canada - cung cấp thêm
mạng lưới giao thông đường thuỷ. Những tuyến đường thủy mở rộng này đã giúp nước
Mỹ tạo ra tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm và nối liền 50 bang riêng rẽ thành một
khối kinh tế thống nhất.
1.2: Nhân tố cấu thành thứ hai là lao động, yếu tố chuyển hóa các tài nguyên
thiên nhiên thành hàng hoá.
-So với châu Âu, văn hóa doanh nghiệp nước Mỹ có những điểm khác biệt. Mặc dù
đa số người Mỹ là người Anh và người châu Âu di cư, nhưng khi sang lục địa mới, họ
nuôi dưỡng trong mình chí tiến thủ mạnh mẽ, tinh thần chú trọng thực tế cộng với tinh
thần trách nhiệm nghiêm túc. Tất cả những điều đó đã tạo nên một bản sắc văn hóa mới –
bản sắc văn hóa Mỹ. Người Mỹ cho rằng, ai cũng có quyền lợi hưởng cuộc sống hạnh
phúc tự do bằng sức lao động chính đáng của họ. Bản sắc văn hóa Mỹ làm cho người ta
học được chữ tín trong khế ước và tất cả mọi người đều bình đẳng về cơ hội phát triển: ai
nhanh hơn, thức thời hơn, giỏi cạnh tranh hơn thì người đó giành thắng lợi. Có thể nói, ý

hướng đến đây. Họ thường sẵn sàng làm việc với mức lương thấp hơn đôi chút so với
lương lao động có văn hoá; và họ nhìn chung đều phát đạt, kiếm được nhiều tiền hơn rất
nhiều so với ở quê hương. Nước Mỹ cũng thịnh vượng làm cho nền kinh tế phát triển
nhanh, đủ sức thu hút nhiều người mới đến hơn nữa.
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 6

-Đối với sự thành công về kinh tế của một đất nước, chất lượng lao động sẵn có, mọi
người sẵn sàng làm việc chăm chỉ như thế nào và tay nghề của họ ra sao - ít nhất cũng
quan trọng như số lượng lao động. Trong buổi ban đầu của nước Mỹ, cuộc sống tại vùng
đất hoang vu rộng lớn này đòi hỏi lao động nặng nhọc, và những gì được xem là nguyên
tắc làm việc của người Tin lành đã củng cố thêm nét đặc biệt này. Sự chú trọng đặc biệt
tới giáo dục, bao gồm cả đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, cũng góp phần đưa đến thành
công kinh tế cho nước Mỹ, cũng giống như ý chí sẵn sàng thử nghiệm và thay đổi.
-Tính lưu động của lao động cũng quan trọng như thế đối với khả năng của nền kinh
tế Mỹ để thích nghi với những điều kiện thay đổi. Khi người nhập cư tràn ngập thị trường
lao động ở bờ biển phía Đông, nhiều người lao động đã di chuyển vào sâu trong nội địa,
và thường là đến các vùng đất trang trại đang chờ được canh tác. Tương tự như vậy,
những cơ hội về kinh tế trong các thành phố công nghiệp ở miền Bắc đã thu hút người
Mỹ da đen đến từ các trang trại miền Nam vào nửa đầu thế kỷ XX.
-Chất lượng của lực lượng lao động vẫn tiếp tục là một vấn đề quan trọng. Ngày nay,
người Mỹ coi “vốn nhân lực” là chìa khóa dẫn đến thành công trong nhiều ngành công
nghiệp công nghệ cao, hiện đại. Do đó, các nhà lãnh đạo chính phủ và các quan chức
quản lý kinh doanh ngày càng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo để
phát triển lực lượng lao động có đầu óc nhanh nhạy và kỹ năng thích hợp cần thiết cho
các ngành công nghiệp mới như tin học và viễn thông.
1.3: Quản lý khoa học.
Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động mới chỉ là một phần của hệ
thống kinh tế. Các nguồn lực đó cần phải được tổ chức và quản lý để đạt được hiệu quả

chính phủ và doanh nghiệp). Trên thực tế, vai trò của người tiêu dùng lớn đến mức quốc
gia này thỉnh thoảng được mô tả là có một “nền kinh tế tiêu dùng”.
Sự nhấn mạnh này đối với sở hữu tư nhân xuất phát một phần từ niềm tin của người
Mỹ về tự do cá nhân. Ngay từ thời lập quốc, người Mỹ đã lo sợ quyền lực quá mức của
chính phủ, và họ luôn tìm cách hạn chế uy quyền của chính phủ đối với cá nhân - bao
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 8

gồm cả vai trò của chính phủ trong lĩnh vực kinh tế. Hơn nữa, người Mỹ nhìn chung đều
tin rằng một nền kinh tế được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân dường như hoạt động hiệu
quả hơn so với nền kinh tế đặc trưng bởi sở hữu nhà nước.
Tuy vậy, doanh nghiệp tự do cũng có những hạn chế. Người Mỹ luôn tin rằng một số
dịch vụ do nhà nước đảm nhận sẽ tốt hơn các doanh nghiệp tư nhân. Chẳng hạn, Chính
phủ Mỹ chịu trách nhiệm chủ yếu đối với các hoạt động về tư pháp, giáo dục (mặc dù có
rất nhiều trường học và trung tâm đào tạo tư nhân), hệ thống đường giao thông, báo cáo
thống kê xã hội và an ninh quốc phòng. Hơn nữa, chính phủ cũng thường được yêu cầu
can thiệp vào nền kinh tế để điều chỉnh những tình huống mà ở đó hệ thống giá cả không
hoạt động. Ví dụ, chính phủ điều tiết các nhà “độc quyền tự nhiên”, và sử dụng luật
chống độc quyền để kiểm soát hoặc ngăn chặn các tổ hợp kinh doanh trở nên quá mạnh
đến mức chúng có thể chế ngự các lực lượng thị trường. Chính phủ cũng giải quyết
những vấn đề nằm ngoài phạm vi của các lực lượng thị trường. Nó cung cấp phúc lợi và
trợ cấp thất nghiệp cho những người không có khả năng tự trang trải, do họ gặp rủi ro
trong cuộc sống cá nhân hoặc bị mất việc làm bởi biến động kinh tế đột ngột; nó thanh
toán hầu hết chi phí chăm sóc y tế cho người già và những người sống trong cảnh nghèo
nàn; chính phủ điều tiết ngành công nghiệp tư nhân nhằm hạn chế sự ô nhiễm không khí
và nước; nó cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp cho những người bị thiệt hại do
thiên tai; và nó đóng vai trò đầu tàu trong việc khám phá vũ trụ, một ngành có chi phí quá
cao đối với bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào.
Nền kinh tế hỗn hợp này chính là sự thể hiện rõ nhất nguyên tắc cơ bản trong

định và đáng tin cậy. Thông thường mua hàng trên mạng giá rẻ hơn và đây là một thị
trường trong suốt về giá. Nghĩa là khi mua một sản phẩm khách hàng trên mạng thường
tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và nguồn nào cho giá rẻ nhất với dịch vụ tốt
nhất thì mua. Trong những cái tên lớn, phải kể đến Amazon.com, không chỉ là nhà cung
cấp rất nhiều chủng loại sản phẩm trên mạng, Amazon còn là một thị trường tập hợp các
nhà cung cấp khác nhau, ai muốn bán sản phẩm thì đăng ký với Amazon và sẽ được đăng
trên mạng này. Khi bán được sản phẩm nhà cung cấp trích phí cho Amazon. Để đảm bảo
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 10

chất lượng cung ứng, sau khi hoàn tất một giao dịch, khách hàng được yêu cầu đánh giá
chất lượng nhà cung cấp và đây là một thông số quan trọng để các khách hàng chọn nhà
cung cấp. Mặt khác, với các giao dịch giá trị lớn khách hàng được khuyến cáo mua bảo
hiểm để tránh rủi ro. Một cái tên lớn khác – E-bay.com lại là một thị trường bán đấu giá,
bán đủ thứ trên trời dưới đất. Sản phẩm và giá cả rất đa dạng và phản ứng rất theo cung
cầu của thị trường. Cần thấy rằng khi các giao dịch trên mạng phát triển thì hàng loạt các
ngành dịch vụ liên đới như vận chuyển, bưu chính, tính dụng – ngân hàng, bảo hiểm cũng
phát triển theo.
4: Nhận định cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Mỹ là một thị trường mở rộng lớn nhiều tiềm năng cho việc tiêu thụ sản phẩm với
mức giá cả cao cho tất cả các doanh nghiệp muốn tham gia vào nó, đây là một cơ hội lớn,
doanh nghiệp nào cũng muốn nắm bắt. Nhưng cũng chính vì vậy, đây cũng là thách thức
lớn với các doanh nghiệp Việt khi hoạt động trong một thị trường tự do canh tranh đầy
khốc liệt này, vốn dĩ đã có rất nhiều nhà cung cấp, đa dạng các chủng loại hàng hóa cung
cấp. Vậy nên, cái khó là chúng ta lựa chọn, DN Việt sẽ bán gì và như thế nào?
Việt Nam có thế mạnh về các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng thủy hải sản tươi
sống ngon, giá rẻ và thực tế khách hàng nước ngoài trong đó có Mỹ rất ưa chuộng mặt
hàng mây tre đan cũng như hoa quả, thủy hải sản của ta. Đây là một hướng đi cho các
doanh nghiệp trong nước. Nhưng trong tương lai, Việt Nam cần tìm hiểu nhiều hơn về thị

Mỹ về các thiệt hại do "thời tiết không thuận và thiên tai" trong các năm 2001-2002. Như
vậy, một mặt trong đơn kiện nộp cho Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Ủy ban Thương mại
quốc tế Hoa Kỳ (ITC), Hiệp hội các chủ trại cá nheo Mỹ (CFA) cố tình che giấu thực tế,
đưa ra các bằng chứng giả, đổ tội cho các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá filet đông
lạnh cá tra, cá basa, gây thiệt hại vật chất cho ngành nuôi cá nheo Mỹ, để các cơ quan này
kết luận sai, áp thuế chống bán phá giá trừng phạt Việt Nam. Mặt khác, CFA lại chứng
minh với USDA rằng thiệt hại của họ là do thiên tai để xin được hưởng tiền trợ cấp của
Chính phủ Mỹ. VASEP cho rằng việc xử lý của các cơ quan chính quyền Mỹ cũng tỏ ra
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 12

không thống nhất, thiếu phối hợp, mang nặng tính bảo hộ sản xuất trong nước, trái với
tinh thần tự do thương mại và cạnh tranh bình đẳng.
Nhìn rộng ra, mức thuế cao trên không chỉ đe doạ trực tiếp đến người nuôi cá tra,
basa, mà các DN đang xuất mặt hàng này có nguy cơ mất thị trường Mỹ, nơi vẫn tiêu thụ
gần 50% lượng cá tra, basa của Việt Nam. Việt Nam làm gì để vừa bảo vệ lợi ích của các
nhà nuôi catfish Mỹ mà vẫn đưa được cá basa sang thị trường này?
Và qua đây, chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam có thêm những bài học về kinh
nghiệm khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Một thị trường rộng mở nhưng đầy khó
khăn thách thức, không phải cứ mặt hàng xuất khẩu của ta ngon, rẻ đã là một lợi thế. Sau
sự kiện này, chính phủ Việt Nam, đặc biệt các tham tá thương mại Việt Nam nên cung
cấp cho các doanh nghiệp Việt nhiều thông tin hơn về thị trường quốc tế cũng như những
pháp định của kinh tế nước ngoài, bên cạnh đó có những chính sách hỗ trợ bảo trợ giúp
đỡ các doanh nghiệp Việt xuât khẩu, để trong những tình huống bất ngờ như vụ kiện cá
basa, chúng ta có thể ứng phó kip thời. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt nói chung cần có
sự kết hợp chặt chẽ với các vùng cung cấp nguyên nhiên liệu để đảm bảo quy trình quản
lý tốt, đảm bảo chất lượng và bảo vệ lợi ích người nuôi trồng.

II: Phân tích tiến trình phát triển của nền kinh tế Mỹ thông qua GDP, tỷ lệ lạm

dịch vụ trong nước - đạt trên 8,5 nghìn tỷ USD. Mặc dù chiếm chưa đến 5% dân số thế
giới, nhưng nước Mỹ lại chiếm tới hơn 25% sản lượng kinh tế toàn thế giới. Nhật Bản,
nước có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, cũng chỉ tạo ra gần một nửa sản lượng trên.
Trong khi nền kinh tế Nhật Bản và nhiều nền kinh tế khác vật lộn với tăng trưởng chậm
và các vấn đề khác vào những năm 1990 thì nền kinh tế Mỹ lại có được thời kỳ phát triển
liên tục và kéo dài nhất trong lịch sử của mình.
Nhưng, Nền kinh tế này cũng phải đối mặt với những thách thức đang diễn ra liên tục
trong dài hạn. Mặc dù nhiều người Mỹ có sự bảo đảm về kinh tế và một số người tích lũy
được rất nhiều của cải, nhưng còn một số lượng đáng kể - đặc biệt là các bà mẹ không
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 14

chồng cùng con cái họ - tiếp tục sống trong cảnh nghèo khó. Chênh lệch về của cải, tuy
không cao như một số nước khác, nhưng cũng lớn hơn so với rất nhiều nước. Sự hội nhập
kinh tế toàn cầu mang đến những bất ổn nhất định bên cạnh các lợi thế. Đặc biệt, các
ngành công nghiệp chế tạo truyền thống sa sút, quốc gia bị thâm hụt thương mại lớn và
dường như không thể đảo ngược được trong buôn bán với các nước khác.
1.2: Phân tích tình hình nền kinh tế Mỹ qua những con số.
Những số liệu chỉ giúp đánh giá tình trạng lành mạnh của nền kinh tế, nhưng chúng
không đo được hết mọi phương diện của phúc lợi quốc gia. GDP cho biết giá trị thị
trường của hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế tạo ra, nhưng nó không đo được chất
lượng cuộc sống của một quốc gia và một vài biến số quan trọng - ví dụ như sự bình an
và hạnh phúc cá nhân, hoặc môi trường trong sạch hay sức khỏe tốt - hoàn toàn nằm
ngoài phạm vi của nó.

Biểu đồ chỉ số dữ liệu lịch sử. Theo số liệu nhà Trắng công báo, qua biểu đồ trên, ta thấy:

xuống còn 11,4% năm 1978. Từ đó đến nay nó dao động trong phạm vi tương đối hẹp.
Năm 1998, nó ở mức 12,7%.
Nhưng thực tế các số liệu tổng quan còn che giấu tình trạng nghèo đói nghiêm trọng
hơn rất nhiều. Năm 1998, hơn một phần tư số người Mỹ gốc Phi (26,1%) sống trong
nghèo đói; mặc dù cao một cách đáng lo ngại, nhưng số liệu này đã cho thấy một bước
cải thiện từ năm 1979, khi có tới 31% người da đen chính thức được coi là nghèo, và đây
là tỷ lệ nghèo đói thấp nhất của nhóm người này kể từ năm 1959. Các gia đình do các bà
mẹ độc thân làm chủ hộ đặc biệt dễ lâm vào cảnh nghèo túng. Một phần do hiện tượng
này mà năm 1997, gần một phần năm trẻ em (18,9%) thuộc diện nghèo. Tỷ lệ nghèo của
trẻ em Mỹ gốc Phi là 36,7%, của trẻ em gốc Tây Ban Nha là 34,4%.
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 17

-Dù trong trường hợp nào, một điều rất rõ rang ta nhận ra là thực tế hệ thống kinh tế
của Mỹ không phân phối công bằng của cải làm ra. Theo Viện chính sách kinh tế, một
tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington, năm 1997, một phần năm số gia đình Mỹ
giàu nhất chiếm tới 47,2% thu nhập quốc dân. Ngược lại, một phần năm số gia đình
nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập quốc dân, và 40% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 14%
thu nhập quốc dân.
-Mặc dù nền kinh tế Mỹ nhìn chung là thịnh vượng, nhưng những lo lắng về tình
trạng bất bình đẳng vẫn tiếp tục kéo dài. Cạnh tranh toàn cầu tăng lên đe dọa các công
nhân trong nhiều ngành sản xuất công nghiệp truyền thống, và đồng lương của họ bị o ép.
Cùng lúc đó, chính phủ liên bang lại nới lỏng các chính sách thuế, những chính sách tìm
cách hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp bằng chi phí của các gia đình giàu, và nó cũng
cắt giảm chi tiêu cho nhiều chương trình xã hội trong nước trợ giúp người có hoàn cảnh
khó khăn.
2: Nền kinh tế Mỹ năm 2010, và những tháng đầu năm 2011.
-Theo NBER - Cục Nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), một tổ chức phi lợi
luận của các nhà kinh tế hàng đầu đến từ các hãng nghiên cứu, trường đại học và một số

suy giảm trong đầu tư tư nhân và chi tiêu chính phủ liên bang và giảm tốc độ một trong
các đầu tư cố định nơi ít dân cư sinh sống.
Trước đó, Theo Bộ Thương mại Mỹ, tăng trưởng kinh tế Mỹ quý 2/2010 chỉ còn
1,6% từ mức 3,7% của quý 1/2010 và 5% trong quý 4/2009.
Kinh tế Mỹ đã hồi phục được 70% so với mức trước khủng hoảng.
Lakshman Achuthan, giám đốc điều hành tại Viện nghiên cứu chu kỳ kinh tế (ECRI)
và là chuyên gia về suy thoái kinh tế, nhận xét kinh tế Mỹ hiện đã hồi phục được 70% so
với trước khủng hoảng.
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 19

Tuy nhiên ông cũng thừa nhận đà phục hồi lần này không giống những lần phục hồi
trước đây. Hiện kinh tế Mỹ mới chỉ lấy lại được 9% số lượng việc làm đã mất trong thời
kỳ suy thoái kinh tế.
Khả năng kinh tế rơi vào suy thoái lần 2 khá hiếm. Lần gần nhất kinh tế Mỹ suy thoái
lần 2 là vào năm 1981 – 1982 sau khi kinh tế suy thoái vào năm 1980.
Chỉ số giá cho việc mua bán chung trong nước tăng 2,1% trong quý thứ tư, so với
mức tăng từ 0,7% trong quý ba.
Chi tiêu dùng cá nhân tăng 4,4% trong quý thứ tư, so với mức tăng 2,4 % trong quý
ba.
Dù Lạm phát Mỹ tăng 1,5% trong tháng mười hai, năm 2010, nhưng Tỷ lệ thất
nghiệp vẫn đã giảm 0,4 % trong tháng mười hai, và việc làm phi nông nghiệp tăng lương
103.000 (Cục Thống kê Lao động Mỹ báo cáo). Việc làm tăng trong giải trí và khách sạn
và trong chăm sóc sức khỏe, nhưng rất ít thay đổi trong ngành công nghiệp lớn khác.
Cũng tình trạng tương tự cuối năm 2010, Theo tính toán của Cục thống kê Lao động
của Mỹ, Lạm phát Mỹ tăng 1,6% trong tháng Giêng, năm 2011, nhưng Tỷ lệ thất nghiệp
Mỹ giảm đến 9% trong tháng Giêng 2011.
3: Mỹ và những cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử.
Dù là cường quốc kinh tế số một hiện nay trên thế giới, nhưng nền kinh tế Mỹ cũng


kinh doanh của mình, rất nhiều doanh nghiệp đã và đang phá sản, và khó khăn này
các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ cũng phải gánh chịu nặng
nề.
3.2: Suy thoái đầu năm 2000
Được châm ngòi bởi sự đổ vỡ của "khủng hoảng chấm com", vụ tấn công khủng bố
11/9, và scandal kiểm toán, cuộc suy thoái kinh tế tại Mỹ trong 3 năm từ 2001 tới 2003
không chỉ ảnh hưởng lớn đến kinh tế Mỹ, mà còn tới nhiều quốc gia châu Âu.
Mọi chuyện được châm ngòi bởi sự đổ vỡ hàng loạt của các công ty trong cuộc "khủng
hoảng chấm com", tạo ra một làn sóng phá sản của các công ty công nghệ và tin học.
Kinh tế Mỹ tiếp tục bị giáng một đòn mạnh khi vụ khủng bố 11/9/2001 nổ ra, từ đó khiến
chỉ số công nghiệp Dow Jones và các chỉ báo chính của thị trường chứng khoán trải qua
tuần tồi tệ nhất trong lích sử.
3.3: Suy thoái cuối thập kỷ 90
Ngày thứ hai đen tối, tháng 9/1987, đà sụt giảm chưa từng có 22,6% trên chỉ số Dow
Jones là phát súng báo hiệu thời kỳ suy thoái tồi tệ nước Mỹ. Chỉ trong ba năm, sự sụp đổ
của thị trường tín dụng, và cho vay đã đe dọa tiền tiết kiệm của hàng triệu người dân. Một
loạt cường quốc chịu nhiều ảnh hưởng của Mỹ như Canada, Australia, Nhật, hay Anh
cũng bị cuốn theo vòng xoáy suy thoái.
Dù thị trường chứng khoán hồi phục khá nhanh nhưng thị trường bất động sản, lao
động, giá năng lượng, cán cân thương mại và GDP của Mỹ và một số quốc gia khác vẫn
đi xuống cho tới 2 năm sau khủng hoảng.
3.4: Suy thoái đầu những năm 1980
Cuộc cách mạng tại Iran đã đẩy giá dầu thế giới tăng với tốc độ chóng mặt trong thập
niêm 70. Đây chính là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kéo dàn 30 tháng tại Mỹ và được
coi là lần suy thoái tồi tệ nhất kể từ đại khủng hoảng 1930. Giá năng lượng đi lên kéo
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 22


tiền khổng lồ vào thời điểm đó, chỉ sau một tháng rưỡi. Suy thoái và làm phát diễn ra tràn
lan gây ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác cho tới tận thập niên 80.
3.6: Suy thoái năm 1958
Trong 2 năm trước khi khủng hoảng diễn ra, chính sách thắt chặt tiền tệ và cắt giảm
đầu tư tại Mỹ khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Tại Detroit, trái tim của ngành công nghiệp
xe hơi, tỷ lệ thất nghiệp đạt mức 20% trong tháng 4/1958 . Doanh số bán xe giảm tới
31% trong năm 1957, và biến năm 1958 thành năm tồi tệ nhất cho các nhà sản xuất xe kể
từ sau kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần II. Nhu cầu nhập khẩu tại Mỹ vẫn cao trong khi
châu Âu lại giảm nhập khẩu từ Mỹ khiến thâm hụt thương mại leo thang.
Tệ hơn nữa, thay vì mặt bằng giá giảm, điều thường xảy ra khi suy thoái, giá cả trong
giai đoạn 1957 đến 1959 lại leo thang. Thực tại trên đã gây không ít hoang mang cho các
nhà kinh tế trong quãng thời gian này.
3.7: Suy thoái năm 1953
Dù chỉ kéo dài trong 10 tháng, bắt đầu từ quý II /1953 tới quý I/1954, cuộc suy thoái
năm 1953 vẫn gây thiệt hại ước tính lên tới 56 tỷ đôla cho nước Mỹ.
Nguyên nhân suy thoái bắt đầu từ một số biến động chính trị, kinh tế những năm đầu
thập niên 50. Trong đó, lạm phát leo thang bắt đầu từ 1951, sau chiến tranh Triều Tiên,
khiến lãnh đạo FED dự đoán năm 1952 lạm phát sẽ còn cao hơn. Trước tình hình đó,
FED đã áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt, thể hiện ở việc cắt giảm chi tiêu Chính
phủ, tăng thuế, lãi suất, và tích lũy dự trữ. Chính các biện pháp mạnh tay trên đã tạo ra sự
bi quan trong người dân, dẫn đến việc giảm chi tiêu tăng tiết kiệm, gây suy giảm tổng cầu
của nền kinh tế.
3.8: Suy thoái năm 1947
Lần suy thoái này của nước Mỹ bắt nguồn từ những bước tiền thần tốc của giai đoạn
hồi phục kinh tế sau chíến tranh thế giới. Tính tới đầu năm 1947, nước Mỹ chiếm tới 50%
tổng sản lượng nông nghiệp toàn thế giới, trước chiến tranh thế giới con số này chỉ là
Marketing quốc tế - Nhóm 7

D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 24


Theo đó, trong thập niên 20, mở rộng cung tiền quá mức đã dẫn đến sự phát triển
bùng nổ nhưng thiều bền vững của khối tài chính. Việc FED nhận ra rủi ro và thực hiện
chính sách thắt chặt tiền tệ là quá muộn để ngăn chặn suy thoái. Hơn nữa, khi các ngân
hàng lớn có dấu hiệu sụp đổ FED đã không tích cực cứu trợ, từ đó tạo ra hiệu ứng sụp đổ
dây chuyền trong ngành ngân hàng, dẫn đến cạn kiệt đột ngột nguồn tiền. Hệ quả là nhiều
công ty phá sản do thiếu vốn, hoạt động sản xuất, kinh doanh tiêu dùng bị đình trệ, thất
nghiệp tràn lan gây ảnh hưởng to lớn tới kinh tế Mỹ và toàn thế giới.

III: Nền kinh tế Mỹ vận hành như thế nào?
1: Chính phủ cố gắng điều tiết nền kinh tế, nhưng quyền lực quyết định về kinh
tế là ở các doanh nghiệp, các cá nhân.
Nước Mỹ coi hệ thống doanh nghiệp tự do của mình như là một mô hình cho các
quốc gia khác. Thành công về kinh tế của đất nước này dường như củng cố quan điểm
cho rằng nền kinh tế vận hành tốt nhất khi chính phủ để cho các doanh nghiệp và cá nhân
giành lấy thắng lợi - hay thất bại - bằng năng lực của chính họ trên những thị trường cạnh
tranh và rộng mở. Nhưng chính xác thì kinh doanh trong hệ thống doanh nghiệp tự do của
Mỹ được “tự do” đến mức nào? Câu trả lời là “không hoàn toàn”. Một tập hợp những quy
định phức tạp của chính phủ đã định hình nhiều phương diện của hoạt động kinh doanh.
Mỗi năm, chính phủ lại thảo ra hàng ngàn trang những quy định mới, thường là giải thích
rõ ràng và chi tiết những gì các doanh nghiệp được phép làm và không được làm.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của người Mỹ đối với hoạt động điều tiết của chính phủ vẫn
luôn thay đổi. Trong những năm gần đây, các chính sách điều tiết trở nên chặt chẽ hơn
trong một số lĩnh vực và nới lỏng hơn ở những lĩnh vực khác. Trên thực tế, một chủ đề
xuyên suốt trong lịch sử kinh tế Mỹ gần đây là cuộc tranh luận liên tục về việc khi nào thì
chính phủ nên can thiệp vào hoạt động kinh doanh và ở mức độ nào.

Trích đoạn Giới thiệu doanh nghiệp cụ thể hoạt động trên nền kinh tế thị trường Mỹ
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status