Anh huong den nen kinh te vn
Cuộc khủng hoảng lần này không tha bất cứ ai; mọi nền kinh tế ít nhiều sẽ chịu tác động của nó vì các
nền kinh tế đã ngồi chung trên một con thuyền, khi sóng to gió lớn thì không ai có thể tránh được nôn
nao. Nền kinh tế nước ta cũng không phải là ngoại lệ. Có ý kiến cho rằng, do chưa hội nhập sâu, ít quan
hệ làm ăn với các ngân hàng bị khủng hoảng hoặc phá sản, cho nên kinh tế nước ta chỉ chịu ảnh hưởng
gián tiếp và không lớn. Có lẽ những đánh giá như vậy cần được cân nhắc kỹ vì kinh tế nước ta tùy thuộc
lớn vào nền kinh tế thế giới: kim ngạch xuất - nhập khẩu ngang với 170-180% giá trị GDP, vốn nước
ngoài chiếm tới hơn 30% tổng số vốn của xã hội. Vấn đề là, tác động ấy có độ trễ nhất định và
trong hoàn cảnh hiện nay khó tách biệt: thế nào là tác động gián tiếp, thế nào là trực tiếp, một tác
động "nhỏ" đối với nước khác có thể sẽ là "lớn" đối với nước ta, nhất là trong lúc chúng ta đang kỳ vọng
sớm ra khỏi tình trạng nước kém phát triển và đẩy mạnh CNH, HÐH.
Kinh tế nước ta chịu tác động nhiều hay ít sẽ còn tùy thuộc vào độ sâu và độ dài của cuộc khủng hoảng
hiện nay. Tuy nhiên, trước mắt có thể hình dung một số tác động sau:
Xuất khẩu sẽ chịu tác động kép trên cả ba phương diện: đơn đặt hàng sẽ ít đi do bạn hàng giảm nhập
khẩu vì những khó khăn về tài chính - kinh tế ở nước họ, nhu cầu của người tiêu dùng giảm; giá cả
nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta như dầu thô, lúa gạo, cao-su, cà-phê, thủy sản... đều giảm.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, sẽ co lại do gặp khó khăn về vốn và đầu ra.
Về nhập khẩu, một mặt có khả năng giảm bớt nhập siêu do giá cả nhiều mặt hàng nhập khẩu giảm,
nhu cầu trong nước cũng ít đi, từ đó lạm phát sẽ dịu bớt. Nhưng mặt khác, lại nảy sinh khả năng
nhập khẩu sẽ gia tăng do giá cả trên thị trường thế giới thuyên giảm, thuế suất hạ thấp theo các cam
kết quốc tế và điều này sẽ gây sức ép mạnh lên sản xuất trong nước.
Nguồn vốn có nhân tố nước ngoài cũng có khả năng giảm. Tuy cam kết về FDI cao, nhưng mức độ giải
ngân sẽ có vấn đề do các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong huy động vốn và tiêu thụ sản
phẩm; cũng vì lý do đó, có thể đầu tư trực tiếp (FII) sẽ giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường chứng
khoán nước ta. Nguồn kiều hối từ cả phía cộng đồng người Việt ở nước ngoài lẫn lao động xuất khẩu có
thể sẽ không dồi dào. Thu nhập từ dịch vụ, kể cả du lịch, kinh doanh tài chính - tiền tệ, vận tải đều có
thể giảm.
Về tài chính tiền tệ, sự giao dịch, vay mượn sẽ không dễ dàng, và ẩn chứa nhiều rủi ro hơn; tỷ giá các
đồng tiền, giá vàng sẽ dao động mạnh, gây khó khăn cho sản xuất, kinh doanh.
Dưới tác động của những nhân tố trên, mức độ đầu tư, huy động vào ngân sách, tiêu dùng trong nước,
chức tín dụng được Quốc hội ban hành năm 1997 và được sửa đổi, bổ sung năm 2004 thì các loại
hình ngân hàng ở Việt Nam bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu
tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Nhưng dưới gốc độ
lập pháp thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng về chức năng của từng loại
ngân hàng. Đặc biệt, chưa có một văn bản pháp quy nào được ban hành để điều chỉnh hoạt động
của ngân hàng phát triển và NHĐT – là những hoạt động kinh doanh ngân hàng có rủi ro cao nhất.
Chính sự mập mờ này đã tạo điều kiện cho các NHTM, các CTTC “lấn sân”. Và trên thực tế,
nhiều NHTM và các CTTC đã “không ngần ngại” đầu tư vào bất động sản và chứng khoán đã
mang lại không ít hệ lụy cho nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào việc đẩy nền kinh tế đi đến lạm
phát thời gian qua.
Tiếp theo, là sự ra đời ồ ạt của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, đặc biệt là các
CTTC. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã có trên 80 ngân hàng thương mại[6] và trên 20
công ty tài chính. Phần lớn các CTTC đều có nguồn góc vốn góp từ các tập đoàn kinh tế, các tổng
công ty nhà nước lớn. Với vai trò tạo vốn và điều hoà vốn giữa các thành viên trong tập đoàn, tổng
công ty, cho nên CTTC dễ dàng bỏ qua những chuẩn mực cần thiết của hoạt động tín dụng trong
việc tài trợ vốn cho các thành viên, các dự án của tập đoàn và tổng công ty. Điều này không những
làm cho rủi ro tín dụng tăng lên mà còn làm tăng nguy cơ “hiệu ứng dây chuyền” khi thị trường
tiền tệ hoặc lĩnh vực kinh doanh chính của tập đoàn, tổng công ty có biến động mạnh[7]. Việc có
quá nhiều ngân hàng (trong đó, có khoản 25% ngân hàng có hiệu quả kinh doanh hạn chế) và các
CTTC sẽ dẫn đến hai nguy cơ lớn là khả năng huy động vốn để duy trì kinh doanh ổn định và khả
năng quản trị ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn hiện nay.
Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng gia tăng do tăng trưởng tín dụng khá cao cũng đặt hệ
thống ngân hàng trước những thách thức không nhỏ. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước
(NHNN), tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh bất động sản hiện nay khoảng 115.500 tỷ đồng,
chiếm 9,15% trên tổng dư nợ toàn hệ thống. Riêng năm 2007, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của hệ
thống ngân hàng Việt Nam năm 2007 là 53% - một con số khá cao cộng với khoảng 50% các
khoảng dư nợ được thế chấp bằng bất động sản sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong những tháng cuối
năm 2008 khi các khoản cho vay vào bất động sản trước đây lúc thị trường này còn hấp dẫn sẽ đáo
hạn. Trong tình hình TTBĐS vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc thì việc các ngân hàng phải đối diện
với khoản lỗ lớn là khó tránh khỏi. Tại Đại hội đồng cổ đông bất thường của Ngân hàng Eximbank
trường xuất khẩu hàng hoá của nhiều doanh nghiệp niêm yết như Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật
Bản, Hàn Quốc…Khủng hoảng tài chính làm sức mua của các thị trường trên giảm sút nghiêm
trọng ảnh hưởng đáng kể đến kế hoạch doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết làm
giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này vốn đang sụt giảm lại khó có khả năng phục hồi.
Hai là, khủng hoảng tài chính đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài bán ròng cổ phiếu, trái phiếu.
Tính từ đầu tháng 8/2008 đến đầu tháng 10/2008 các nhà đầu tư nước ngoài đã liên tục bán ròng
cổ phiếu với tổng giá trị lên 1.278 tỷ đồng và khoảng 13,5 ngàn tỷ đồng đối với trái phiếu[9]. Với
giá trị bán ra khổng lồ này đã góp phần không nhỏ vào sự sụt giảm của chỉ số VN-Index và Hastc-
Index thời gian qua. Trước đó, nhiều ý kiến đã “trấn an” các nhà đầu tư là sẽ không có chuyện các
nhà đầu tư ngoại rút vốn vì phần lớn các quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là các quỹ đóng. Tôi
cho rằng, ý kiến trên là không thuyết phục. Vì xét về bản chất thì các quỹ đóng không mua lại
chứng chỉ đã phát hành cho nhà đầu tư nhưng họ hoàn toàn có thể thực hiện tái cấu trúc danh mục
đầu tư của mình, trong đó có việc bán chứng khoán ở thời điểm này để mua vào thời điểm khác
hoặc bán ở thị trường này để đầu tư vào thị trường khác hoặc đầu tư vào thị trường ngoại hối.
Thực tế cho thấy, đồng nội tệ của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng nặng bởi lạm phát đã mất giá so với
đồng USD vài chục phần trăm trong khi sự giảm giá của đồng Việt Nam so với đồng USD và các
ngoại tệ mạnh khác là không đáng kể. Khả năng nhà đầu tư nước ngoài đã nhận định rằng đồng
Việt Nam sẽ tiếp tục mất giá cũng như các đồng tiền khác nên đã bán chứng khoán để mua ngoại
tệ nhằm kiếm lời là rất có thể. Nếu kịch bản diễn ra đúng như họ dự đoán thì khi đó họ sẽ bán
ngoại tệ để tiếp tục đầu tư vào chứng khoán.
Thứ ba, tác động rõ nét nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến TTCK Việt Nam là ở
yếu tố tâm lý. Thật ra, yếu tố tâm lý trên TTCK thì ở quốc gia nào cũng có, đặc biệt là các quốc gia
có thị trường này mới hình thành. Yếu tố tâm lý đã làm cho TTCK Việt Nam bao phen lâm vào
tình trạng mất cân đối cung cầu: khi giá chứng khoán lên thì mua không được, ngược lại khi giá
rớt thì chỉ toàn lệnh bán mà không có lệnh mua. Sở dĩ có hiện tượng này là do phần nhiều các nhà
đầu tư Việt Nam chưa chuẩn bị kiến thức và bản lĩnh cũng như kinh nghiệm cần thiết để tham gia
mua bán chứng khoán, mặt khác môi trường thông tin chưa thật sự đảm bảo cho thông tin đến với
tất cả các nhà đầu tư cùng một lúc và chuẩn xác. Việc đầu tư theo đám đông đã gây khó khăn trong
việc hoạch định chính sách và điều tiết thị trường của cơ quan quản lý và trở thành mảnh đất màu
mỡ cho các hành vi làm giá, giao dịch nội gián, tung tin đồn thất thiệt…để trục lợi. Tâm lý mua
Thứ hai là ngành du lịch Việt Nam cũng sẽ không bị tác động nhiều vì khách du lịch vào Việt Nam rất đa dạng chứ
không tập trung ở phân khúc khách cao cấp. Thứ ba là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
cũng không bị suy giảm vì đó là những dự án sử dụng nhân công rẻ, sản xuất mặt hàng thông thường nên cũng
không ảnh hưởng lắm đến việc xuất khẩu. Chỉ có FDI vào lĩnh vực khu cao ốc văn phòng, resort cao cấp là có thể bị
ảnh hưởng, tuy nhiên sự suy giảm trong lĩnh vực đầu tư này không phải là điều đáng quan ngại.
* Với ngành ngân hàng trong nước thì sao, thưa ông?
- Ngành ngân hàng (NH) Việt Nam cũng bị ảnh hưởng không đáng kể bởi hầu hết các NH Việt Nam là NH thương
mại, phục vụ cho vay tiêu dùng, cho vay doanh nghiệp, độ phân tán rủi ro cao và không có sự liên thông đầu tư với
các ngân hàng đầu tư lớn của Mỹ như các nước khác.
Sự ảnh hưởng nếu có thì chỉ do tác động tâm lý nhất thời của nhà đầu tư (NĐT). Tuy nhiên không loại trừ khả năng
một số nhóm NĐT sẽ làm động tác “xả hàng” cổ phiếu (CP) ngành NH nhằm làm trầm trọng thêm tình hình để kéo
giá CP NH xuống.
Xét về phân tích giá CP ngành NH thì trước đây, CP NH được xem là CP “vua” với giá cao quá mức vào năm 2007.
Trong năm 2008 cùng với sự suy thoái của thị trường thì giá CP NH bị suy giảm.
Tuy nhiên NĐT đã phản ứng quá mạnh khi cho rằng kinh tế suy thoái thì NH sẽ suy thoái mạnh nhất, do đó rất nhiều
CP NH đã giảm giá hơn mức giảm bình quân của thị trường và dưới mức hợp lý. Nếu phân tích nhiều mặt thì các
NH vẫn có độ an toàn và khả năng sinh lời cao hơn các công ty ngành khác.
Mặt khác, khi nền kinh tế có thể đưa lạm phát xuống còn 1 con số và khởi sắc mạnh mẽ vào năm 2009 thì CP
các NH giá thấp sẽ có mức tăng mạnh hơn các ngành khác và có khả năng đạt mức sinh lời 100%. Do vậy nếu
NĐT cá nhân đang nắm giữ các CP NH giá thấp mà vì tâm lý vội bán ra sẽ bị thua thiệt.
* Thưa ông, thị trường chứng khoán (TTCK) đã bật dậy vào phiên giao dịch cuối tuần vì nguyên nhân gì?
- Quan sát TTCK thời gian qua có thể thấy thị trường bật lên lại là do những yếu tố nội tại của nền kinh tế trong
nước. Sau khi chỉ số VN-Index giảm mạnh, các NĐT nước ngoài tăng mua và sau khi VN-Index vượt qua mức 400
điểm, các NĐT trong nước bắt đầu tham gia nhiều hơn. TTCK tăng giảm là chuyện bình thường. Khi chỉ số VN-Index
giảm mạnh xuống sát 400 điểm thì lực đỡ của thị trường sẽ tăng cao nên vực dậy là chuyện đương nhiên.
Thêm một điểm khá quan trọng góp phần vào sự tăng điểm của phiên giao dịch cuối tuần qua đó là lượng tiền của
NĐT vàng. Khi giá vàng tăng cao, nhiều người đã đổ xô bán vàng ra và đổ vốn sang TTCK lúc đó đang giảm điểm.