BÁO CÁO " TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG THÍCH ỨNG Ở MIỀN NAM VIỆT NAM " - Pdf 11

Hội thảo “Cùng nổ lực để thích ứng biến đổi khí hậu”
CSRD – Acacia – Both ENDS – IVM, Thành phố Huế, Việt Nam. 11-13/5/2009 “Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam”
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
1

TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG THÍCH ỨNG Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

(An overview of climate change research and adaptation activities
in Southern Vietnam)

Lê Anh Tuấn
Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên
Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hâu - Đại học Cần Thơ
E-mail:
oOo

TÓM TẮT
Các báo cáo chính thức xuất bản vào năm 2007 của Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi
Khí hậu (IPCC), Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc
(UNDP) đều cảnh báo Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia chịu tác động cao do hiện
tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long được xem
nơi chịu tổn thương mọi mặt nghiêm trọng nhất của Việt Nam do lũ lớn, bão tố bất
thường, hạn hán kéo dài, mùa mưa đến trễ dầu vụ và lớn hơn vào cuối vụ, nước biển dâng,
sự xâm nhập mặn,

Báo cáo này như một lược khảo các kết quả nghiên cứu dẫn chứng cho sự phỏng đoán về
biến đổi khí hậu ở Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng, đặc biệt nhấn mạng vùng

,
CH
4
, CFC, vào bầu khí quyển gây nên hiệu ứng nhà kính, hệ quả tạo nên hiện tượng
nóng lên toàn cầu làm băng ở Bắc và Nam cực, cũng như các dải băng dãy núi cao tan
nhanh hơn khiến mực nước biển đang có xu thế dâng cao, cán cân tuần hoàn nước thay
đổi làm đe dọa toàn bộ hệ sinh thái hiện hữu, đặc biệt là các vùng đất thấp, vùng ven biển.

Việt Nam là một trong các nước chịu nhiều tác động của thiên tai. Các vùng đất thấp ven
biển ở miền Nam Việt Nam được xem là vùng nhạy cảm, dễ chịu nhiều tổn thương do nơi
đây có mật độ dân cư tập trung tương đối cao, sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp chịu
lệ thuộc lớn vào thời tiết, nguồn nước. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là
vùng sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản quan trọng nhất Việt Nam. Vùng này
cung cấp hơn 50% sản lượng lúa và 65% sản lượng thuỷ sản cho cả nước. Về mặt sinh
thái, vùng ĐBSCL là đất ngập nước lớn nhất Việt Nam (Tuan and Guido, 2007), có đầy
đủ các kiểu rừng sát ngập mặn, ngập lợ, rừng ngập nước có than bùn, vùng rừng tràm
ngập nước ngọt, nước phèn. Tuy là nơi sản xuất nông ngư nghiệp lớn, vùng ĐBSCL vẫn
còn là một khu vực có mức tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp, GDP bình quân đầu
người năm 2007 là 9,47 triệu đồng, tương đương 591 USD, đạt tốc độ tăng trưởng GDP
là 12,34%, trình độ dân trí còn kém, thiếu thốn về cơ sở hạ tầng, nhà cửa tạm bợ. ĐBSCL
là một trong ba châu thổ trên thế giới có nguy cơ ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng của
biến đổi khí hậu trong 30-50 năm nữa (IPCC, 2007).

Đến nay, việc nghiên cứu liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam nói chung và miền
Nam Việt Nam nói riêng chưa có nhiều. Việc chuẩn bị thích ứng chỉ mới ở bước đầu và
mới được thực hiện ở một số địa phương riêng rẽ. Mục tiêu của báo cáo này lược khảo
các kết quả nghiên cứu đã và đang thực hiện, các dự án đang triển khai và một số công
việc chuẩn bị ban đầu để thích ứng, tìm cách giảm nhẹ các tác động tiêu cực và tận dụng
những cơ hội có thể có ứng với từng kịch bản thay đổi khí hậu trong tương lai. Báo cáo
cũng liệt kê một số hoạt động của Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ.

nghiên cứu liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam và Đồng bằng sông Cửu Long.

Reiner và các cộng sự (2004) đã công bố một nghiên cứu trên mô hình toán thuỷ lực để
phỏng đoán các diễn biến ngập lũ ở Đồng bằng sông Mekong trong thời đoạn tháng 8 đến
tháng 11 với kịch bản mực nước biển dâng 20 cm và 50 cm. Kết quả cho thấy đường
Hội thảo “Cùng nổ lực để thích ứng biến đổi khí hậu”
CSRD – Acacia – Both ENDS – IVM, Thành phố Huế, Việt Nam. 11-13/5/2009 “Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam”
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
4
đồng mức ngập lũ sẽ mở rộng tương ứng với mức nước dâng 20 cm và 50 cm sẽ là 25 km
và 50 km về phía hạ lưu. Ở giai đoạn đầu của lũ (tháng 8), mực nước trung bình vùng
Đồng bằng sẽ gia tăng thêm 14,1 cm (khi nước biển dâng 20 cm) và 32,2 cm (khi nước
biển dâng 50 cm). Đến kỳ đỉnh lũ (tháng 10), mức gia tăng mức ngập tương ứng này sẽ là
11.9 cm và 27,4 cm.

Nicholls và Lowe (2006) tính rằng khi mực nước biển dâng cao 40 cm, số nạn nhân của
lũ trên thế giới hiện nay là 13 triệu người sẽ tăng lên 94 triệu người. Khoảng 20% trong
số họ sống ở vùng Đông Nam Á, trong đó vùng bị ảnh hưởng nặng nhất là vùng Đồng
bằng sông Cửu Long và tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng.

Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu - IPCC (2007) qua phân tích và phỏng đoán
các tác động của nước biển dâng đã công nhận ba vùng châu thổ được xếp trong nhóm
cực kỳ nguy cơ do sự biến đổi khí hậu là vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông
Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập). Chương trình Phát triển của
Liên hiệp quốc – UNDP (2007) đánh giá: “khi nước biển tăng lên 1 mét, Việt Nam sẽ mất
5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp
(tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội. ĐBSCL sẽ có khoảng 2 triệu ha

“Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam”
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
5 Hình 2: Sự thay đổi nhiệt độ lớn nhất trung bình thập niên 2030 so với thập niên 1980 Hình 3: Sự thay đổi lượng mưa tháng ở ĐBSCL thập niên 2030 so với thập niên 1080 Hình 4: Phỏng đoán sự thay đổi diện tích ngập vào thập niên 2030 so với thập niên 1080
Hội thảo “Cùng nổ lực để thích ứng biến đổi khí hậu”
CSRD – Acacia – Both ENDS – IVM, Thành phố Huế, Việt Nam. 11-13/5/2009 “Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam”
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ

lớn trong số họ cũng đã từng nghe đến hiện tượng này.

Các năm gần đây, những diễn biến khí hậu bất thường đã xuất hiện thường xuyên hơn ở
Việt Nam khiến mọi người bắt đầu chú ý và đã có những hoạt động ban đầu nhằm đối
phó và thích ứng với hoàn cảnh mới. Báo chí đã thường xuyên có những phóng sự về
biến đổi khí hậu. Một số Hội thảo về Biến đổi Khí hậu đã được tổ chức ở TP. HCM và
các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Ngày 20/11/2008, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Khí hậu – Đại học Cần Thơ (gọi tắt
là Viện DRAGON-Mekong-CTU) đã ra mắt như một tổ chức hợp tác giữa Cục Khảo sát
Địa chất Hoa Kỳ (USGS) và trường Đại học Cần Thơ. Viện này được hình thành theo
một thoả thuận giữa hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam sau cuộc gặp gỡ của Tổng thống
Hoa Kỳ George W. Bush và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Viện này là thành
viên đầu tiên của các Viện DRAGON (Delta Research and Global Observation Network
– Mạng lưới Nghiên cứu Đồng bằng và Quan trắc Toàn cầu). Trong bài phát biểu ra mắt
Viện, Bà Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anne Murray nhấn mạnh đây là cơ sở nghiên cứu
khoa học đầu tiên liên quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu của Việt Nam và cơ sở nghiên
Hội thảo “Cùng nổ lực để thích ứng biến đổi khí hậu”
CSRD – Acacia – Both ENDS – IVM, Thành phố Huế, Việt Nam. 11-13/5/2009 “Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam”
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
7
cứu khoa học đầu tiên của Hoa Kỳ nằm ngoài lãnh thổ của nước này. Năm 2009, trường
Đại học Cần Thơ đầu tiên đưa môn học “Biến đổi Khí hậu và Khả năng Thích ứng” vào
chương trình giảng dạy Thạc sỹ.

Tháng 3/2009, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã kết hợp với
Trung tâm Vùng START Đông Nam Á (SEA START RC), Nhóm Nghiên cứu Phát triển

Thơ Ứng phó với Biến đổi Khí hậu (gọi tắt là Chương trình 158).

Đầu năm 2009, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ đã
có dự án hợp tác với tổ chức JIRCAS của chính phủ Nhật Bản để bước đầu triển khai các
hoạt động thí điểm cho Cơ chế Phát triển Sạch (Clean Development Mechanism – CDM).
Mục tiêu của dự án là tìm các biện pháp giúp người dân giảm thiểu sự phát thải khí nhà
kính ở địa phương.

Trung tâm Học viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam (AITCV) đã phối hợp với Viện
Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã tổ chức một buổi Seminar cum Study
Hội thảo “Cùng nổ lực để thích ứng biến đổi khí hậu”
CSRD – Acacia – Both ENDS – IVM, Thành phố Huế, Việt Nam. 11-13/5/2009 “Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam”
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
8
Tour tại thành phố Cần Thơ ngày 31/3/2009 cho các quan chức cấp Bộ của Bangladesh.
Hai bên đã trao đổi về các tác động của biến đổi khí hậu lên cơ sở hạ tầng nông thôn của
giữa hai vùng đồng bằng và tham quan một vùng công trình hạ tầng có nguy cơ hư hỏng
do lũ lụt và nước biển dâng ở Cần Thơ.

Năm 2008 – 2009, một số nghiên cứu thích nghi về biến đổi khí hậu đã và đang thực hiện
ở một số tỉnh như Bến Tre (của Oxfam), Cà Mau (của Viện Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ,
của Quỹ WWF). Tổ chức GTZ (Đức) cũng đã có một số nghiên cứu ban đầu tìm phương
cách thích nghi của nông dân, các doanh nhân nhỏ và vừa ở tỉnh Trà Vinh. Dự kiến trong
thời gian tới, Tổ chức GTZ sẽ hợp tác với Viện DRAGON-Mekong-CTU để triển khai
một dự án thí điểm giúp người dân nghèo tìm biện pháp thích nghi với biến đổi khí hậu ở
tỉnh Trà Vinh.


• Các chương trình huấn luyện, chia sẻ tài liệu nghiên cứu. Hội thảo “Cùng nổ lực để thích ứng biến đổi khí hậu”
CSRD – Acacia – Both ENDS – IVM, Thành phố Huế, Việt Nam. 11-13/5/2009 “Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam”
TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
9

LỜI CẢM TẠ
Tác giả chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội – Huế, các Tổ
chức Acacia, Both ENDS, Viện Nghiên cứu Môi trường IVM (Hà Lan) và Viện Nghiên
cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ cùng các nhà khoa học đồng nghiệp tạo điều
kiện cho tác giả hình thành báo cáo này.

Lê Anh Tuấn, PhD.
Đại học Cần Thơ
Tháng 5/2009

TÀI LIỆU THAM KHẢO

ADB (Asian Development Bank), 1994. Climate Change in Asia: Vietnam Country
Report, p.27.
Dasgupta Susmita, Benoit Laplante, Craig Meisner, David Wheeler, and Jianping Yan,
2007. The Impact of Sea Level Rise on Developing Countries: A Comparative
Analysis. World Bank Policy Research, Working Paper 4136, February 2007.
Hanh, Pham Thi Thuy and Masahide Furukawa, 2007. Impact of sea level rise on coastal
zone of Vietnam. Bull. Fac. Sci. Univ. Ryukyus, 84: 45-59.

10
Thủ tướng Chính phủ, 2008. Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008 của Thủ
tướng Chính phủ về Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi Khí
hậu (National Target Program to Response to Climate Change). Hà Nội, Việt Nam
SRV, MONRE (Socialist Republic of Vietnam, Ministry of Natural Resources and
Environment), 2003. Vietnam Initial National Communication under the United
Nations Framework Convention on Climate Change (Thông báo đầu tiên của Việt
Nam cho Công ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi Khí hậu). Hanoi,
Vietnam.
SRV (Socialist Republic of Vietnam), 2004. National Report on Disater Risk Reduction
in Vietnam, Ha Noi, Vietnam.
SRV (Socialist Republic of Vietnam), 2007. National Strategy for Natural Disaster
Prevention, Response and Mitigation to 2020, Ha Noi, Vietnam.
Tuan, Le Anh and Guido Wyseure, 2007. Action Plan for the Multi-level Conservation
of Forest Wetlands in the Mekong River Delta, Vietnam. International Congress on
Development, Environment and Natural Resources: Multi-level and Multi-scale
Sustainability. Cochabamba, Bolivia.
Tuấn, Lê Anh. 2009. Biến đổi Khí hậu và Khả năng Thích ứng. Bài giảng Cao học ngành
Quản lý Môi trường, Trường Đại học Cần Thơ.
Tuan, Le Anh and Suppakorn Chinvanno, 2009. Climate change in the Mekong River
Delta and key concerns on future climate threats. Paper submitted to DRAGON
Asia Summit, Seam Riep, Cambodia.
UNDP (United Nations Development Program), 2007. Human Development Report
2007/8, Fighting Climate Change: Human Solidarity in a Divided World. Palgrave
MacMillan, New York.
UNFCCC (United Nations Framework Convention on Climate Change), 2003. Socialist
republic of Viet Nam, Ministry of Natural Resources and Environment:”VietNam
Initial National Communication” 2003. p. 18, 27-28. Nguồn truy cập trên Internet:

WWF (World Wide Fund for Nature), 2004. Seven from Mountain to Sea: Asia Pacific


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status