CHƯƠNG IX. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC ẢNH HƯỞNG
9.1. Vấn đề phát thải khí nhà kính ở Quảng Ngãi
Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại)
được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó
phân tán nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính. Các khí nhà kính chủ yếu
bao gồm: hơi nước, CO
2
, CH
4
, N
2
O, O
3
, các khí CFC.
Tỷ lệ phần trăm các khí gây hiệu ứng nhà kính:
- CO2: 50%
- CFC: 20%
- CH
4
: 16%
- O
3
: 8%
- N
2
O: 6%
Tỷ lệ phần trăm các hoạt động của loài người đối với sự làm tăng nhiệt độ Trái
Đất:
- Sử dụng năng lượng: 50%
- Công nghiệp: 24%
- Nông nghiệp: 13%
phát thải khí nhà kính. Trong một khu vực nhất định có cùng điều kiện sinh thái, hồ
chứa và hệ thống nước tự nhiên tạo ra một mức phát thải như nhau tính theo một đơn
vị diện tích. Trong một vài trường hợp, các khối nước tự nhiên và các hồ chứa nước
ngọt hấp thụ nhiều khí nhà kính hơn là chúng thải ra.
Hồ chứa nước ngọt là nơi thu gom các vật liệu đến từ toàn bộ lưu vực sông. Như
là một phần của chu kỳ tự nhiên, chất hữu cơ được dồn vào nơi thu gom này từ các hệ
1
sinh thái trên cạn bao quanh. Ngoài ra, chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và ô
nhiễm nông nghiệp cũng dồn vào hệ sinh thái này và phát thải khí nhà kính. Khi ước
tính lượng phát thải khí nhà kính nguồn gốc con người từ một hồ chứa, chỉ cần tính
đến thay đổi ròng về lượng phát thải, bằng cách trừ đi lượng hấp thụ/phát thải tự nhiên
từ các vùng đất bị ngập, đầm lầy, sông và hồ nằm trong khu vực này trước khi ngăn
nước, cũng như phát thải gây ra bởi hoạt động của con người ở xa trong lưu vực.
9.2. Thiên tai
Là một tỉnh ven biển có địa hình đa dạng, phức tạp, hệ thống sông ngòi dày đặc,
khí hậu thuộc vùng giao thoa giữa khí hậu Đại dương và khí hậu Lục địa, lại nằm gần
một trong năm ổ bão lớn nhất thế giới vì vậy thiên tai, bão, lũ lụt, lũ quét, ngập úng,
hạn hán, hỏa hoạn, sa mặc hoá, xâm nhập mặn, lốc, tố, sạt lở đất, nước biển dâng..., là
các hiện tượng tự nhiên thường xẩy ra hàng năm gây rất nhiều thiệt hại về người và tài
sản cho nhân các địa phương trong tỉnh. Theo cảnh báo của các nhà khoa học, động
đất và sóng thần cũng là 02 loại thiên tai có thể xẩy ra, ảnh hưởng tới khu vực tỉnh
Quảng Ngãi.
Do ảnh hưởng của các yếu tố địa lý tự nhiên, địa hình, địa chất, khí hậu … hàng
năm Quảng Ngãi thường bị thiên tai, bão, lụt gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng về
người, tài sản, các công trình hạ tầng cơ sở, môi trường sống. Quảng Ngãi là tỉnh chịu
thiệt hại về người vào hàng cao nhất cả nước (Hình 9.1)
9.2.1. Bão
Việt Nam nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương là một trong những vùng
bão với số lượng lớn và cường độ mạnh với xu thế ngày càng gia tăng, đặc biệt là
3
Hình 9.2 Các cơn bão đổ bộ vào vùng biển Quảng Trị - Quảng Ngãi, 1961-2009
9.2.2. Lũ lụt
Lũ lụt là hiện tượng tự nhiên thường xuyên xẩy ra ở Quảng Ngãi. Các sông từ
Quảng Ngãi mùa lũ xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12. Lũ chính vụ thường xẩy ra
trong 2 tháng 10 và 11. Mùa mưa lũ chỉ kéo dài 4 tháng nhưng năm nhiều có thể có 5 -
6 đợt lũ, năm ít có tù 1-2 đợt lũ. Đây là khu vực có hệ thống sông ngắn, dốc, lũ lên
nhanh, xuống nhanh. Các sông ở khu vực này có hệ thống đê ngăn lũ thấp hoặc chưa
có đê. Nước lũ không chỉ chảy trong dòng chính mà còn chảy tràn qua đồng bằng, biên
độ dao động trên 8m
Lũ quét, lũ bùn đá thường xảy ra ở vùng đồi núi, nơi có độ dốc lớn, cường độ
mưa lớn mà đường thoát nước bất lợi. Lũ quét cũng có thể xảy ra do vỡ hồ chứa nhỏ,
sạt lở đất lấp dòng chảy... Lũ quét đã xảy ra và có nguy cơ xảy ra hầu khắp tại 33 tỉnh
miền núi trong cả nước thuộc 4 vùng: vùng núi phía Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên và
Đông Nam Bộ. Do sự biến đổi của khí hậu trong những năm gần đây, lũ quét xuất hiện
ngày càng nhiều ở nước ta, bình quân có từ 2 đến 4 trận lũ quét xảy ra trong mùa lũ
hàng năm. Có những nơi lũ quét xảy ra nhiều lần ở cùng một địa điểm. Lũ quét thường
phát sinh bất ngờ, xảy ra trong phạm vi hẹp nhưng rất khốc liệt và thường gây những
tổn thất nghiêm trọng về người và của. Các trận lũ quét điển hình như: trận lũ quét
4
ngày 27 tháng 7 năm 1991 tại thị xã Sơn La; trận năm 1994 tại Mường Lay, Lai Châu;
trận lũ quét tại Hà Tĩnh ngày 20 tháng 9 năm 2002; trận lũ quét năm 2005 tại Yên
Bái... Lũ quét hiện chưa dự báo được nhưng có thể chủ động phòng tránh bằng cách
khoanh vùng nhưng nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, xây dựng hệ thống cảnh báo.
Giải pháp ứng phó: Để bảo vệ mùa màng, tính mạng, tài sản của nhân dân, giảm
nhẹ thiệt hại do mưa lũ gây ra tỉnh đã áp dụng tổng hợp các biện pháp như: Nâng cao
thiên tai và ý thức chấp hành pháp luật trong công tác phòng chống thiên tai .
Một số đề xuất cụ thể.
Đẩy mạnh công tác chăm sóc quản lý rừng đầu nguồn, trồng rừng theo chương
trình 5 triệu ha rừng. Nghiên cứu đưa chương trình trồng rừng thêm nhiệm vụ trồng tre
ven các bờ sông để chống sạt lở sau khi đã quy hoạch xác định tuyến chỉnh trị sông.
Áp dụng mô hình tổng hợp về canh tác trên đất đốc là giữ nước, chống xói mòn,
bảo vệ và cải tạo đất: trên đỉnh trồng cây lâm nghiệp, lưng chừng đồi trồng cây ăn quả,
5
tiếp theo là vườn đồi và đến hàng rào; xen giữa hai hàng rào chắn cát (trồng cây răng
cưa, cây dứa ta,..) xây dựng nhà ở hoặc đất canh tác; tiếp theo đường giao thông có
trồng tre chắn cát, chắn gió và mương tiêu nước (mương tiêu nước có tác dụng tập
trung nước, cắt và lọc phèn); dưới cùng là ruộng lúa hoặc cây trồng cạn.
Rà soát quy hoạch, lập dự án chỉnh trị sông ngòi, cửa sông, cửa biển làm cơ sở
từng bước củng cố vững chắc, cải tạo toàn diện các tuyến đê, các công trình tiêu úng
thoát lũ, khai thông dòng chảy trên các sông suối, cảI tạo những đoạn sông quá cong
đảm bảo tiêu úng thoát lũ dễ dàng. Di chuyển dân cư, công trình xây dựng tại những
nơi làm cản trở dòng chảy và ảnh hưởng đến an toàn của đê. Đẩy mạnh chương trình
bê tông hoá kênh mương nhằm tiết kiệm đất, giảm tổn thất nước và an toàn phòng
chống bão lũ.
Xây dựng các cụm dân cư, các kiểu nhà cao trên mực nước lũ lịch sử, kết hợp với
các công trình công cộng cao tầng để nhân dân tạm trú khi xảy ra lũ lớn nhằm đảm bảo
an toàn lâu dài cho nhân dân các vùng thấp trũng, vùng hạ lưu các hồ chứa. Di dân ra
khỏi các vùng thường bị bão lụt uy hiếp và các vùng thuộc phạm vi bảo vệ các công
trình theo quy định của pháp luật.
Tăng cường khả năng thoát lũ trên các tuyến đường bằng cách cải tạo mở rộng
khẩu độ thoát lũ các cầu, cống đã có; xây dựng thêm cầu, cống, tràn thoát lũ trên các
tuyến đường, đặc biệt là tuyến đường Bắc - Nam; kết hợp quy hoạch các tuyến đường
với quy hoạch các khu dân cư mới theo hướng dòng chảy lũ. Các tuyến đường ở vùng
lũ cần đạt một cao trình tiêu chuẩn vượt lũ nhất định, các đoạn đường thấp dưới lũ cần