Luận văn:Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Pdf 11


Năm học 2010 - 2012
Tên tài liệu: luận văn
“Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án
tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng”
Dương Thị Hải Uyên
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đào Thanh Bình
Hà Nội, tháng 12 năm 2011
1
LỜI CÁM ƠN
Tác giả xin trân trọng cám ơn Khoa quốc tế - Đại học quốc gia Hà Nội, cám ơn TS. Đào
Thanh Bình, các quý Thầy Cô đã tận tình hướng dẫn, ủng hộ em hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin cám ơn Lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Khối Đầu tư - Nguồn vốn, Ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
học tập và nghiên cứu.
Tác giả xin cám ơn bạn bè, toàn thể học viên lớp FBA3, đồng nghiệp và những người thân
trong gia đình đã ủng hộ, tạo điều kiện, chia sẻ khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình
học tập để hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
2
MỤC LỤC
L I CÁM NỜ Ơ 2
M C L C Ụ Ụ 3
2.2.3.1. Huy đ ng v nộ ố 31
2.2.3.2. D ch v tín d ngị ụ ụ 31
2.2.3.3. Chuy n ti n trong n c và thanh toán qu c tể ề ướ ố ế 33
2.2.3.4. D ch v thị ụ ẻ 33
2.2.3.5. Th tr ng v n và kinh doanh ngo i tị ườ ố ạ ệ 33
2.2.3.6. Đ u t tài chínhầ ư 34
DANH M C VI T T TỤ Ế Ắ 57
CHÚ THÍCH 58

phiếu doanh nghiệp, kinh doanh vốn, dịch vụ khác … Một trong những hình thức tài trợ doanh
nghiệp là tài trợ cho “tài chính dự án” (trong tiếng Anh gọi là “Project finance”).
Vấn đề quan trọng cần nhấn mạnh ở đây tài trợ cho “tài chính dự án” có sự khác biệt với
cho vay các dự án trung dài hạn. Sản phẩm cho vay trung dài hạn chỉ thể hiện quan hệ cũng như
cam kết giữa hai bên: Bên cho vay vốn (Ngân hàng) và Bên vay (doanh nghiệp) hoạt động chung
của dự án đảm bảo khả năng trả nợ cho Ngân hàng và lợi nhuận doanh nghiệp. Cho vay “tài
chính dự án” (project finance) liên quan tới việc thực hiện các cam kết và phân bố rủi ro giữa chủ
đầu tư với các bên liên quan như: Công ty quản lý dự án và ngân hàng (đơn vị tài trợ vốn) thông
qua việc sử dụng các mô hình hóa tài chính dự án để đảm bảo sự hiệu quả, thành công và đảm
bảo về tiến độ của dự án.
Thành công của dự án phụ thuộc rất nhiều yếu tố: lĩnh vực đầu tư, pháp lý dự án, khả
năng tài chính cũng như năng lực quản lý của chủ đầu tư, thị trường đầu ra, đầu vào, khả năng
quản lý và vận hành dự án, khả năng khai thác thị trường… nhưng một trong các yếu tố quan
trọng nhất đó là “tài chính dự án”.
Do vậy, công tác thẩm định tài chính dự án là vấn đề hết sức quan trọng và nó quyết định
hiệu quả hoạt động đầu tư cũng như sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Đồng thời thể hiện
đúng vai trò Ngân hàng là trung gian luân chuyển vốn từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” một cách có
hiệu quả. Mặt khác việc thẩm định tài chính dự án còn giúp chủ đầu tư lựa chọn đầu tư các dự án
khả thi và bỏ qua các dự án không hiệu quả.
5
Thực trạng thẩm định tài chính dự án tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam còn tồn tại
nhiều vấn đề bất cập: công tác thẩm định chưa có hệ thống, đánh giá các giả định doanh thu, chi
phí chưa chính xác, phương pháp xác định dòng tiền chưa đồng nhất, việc sử dụng các mô hình
hóa còn khá đơn giản… nên chưa phản ánh đúng hiệu quả tài chính dự án sát với hoạt động kinh
doanh thực tế.
Ngân hàng nơi tôi đang làm việc, công tác thẩm định tài chính dự án đã đạt những kết quả
nhất định. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề tồn tại: Ngân hàng chưa có một bộ phận thẩm định dự án
chuyên môn hóa, chưa sử dụng các mô hình hóa phân tích tài chính dự án để áp dụng trong toàn
hệ thống, đánh giá các giả định doanh thu chi phí chưa sát thực tế, phương pháp xác định dòng
tiền chưa chuẩn hóa, chưa được tính toán đúng tỷ suất chiết khấu WACC và lượng hóa được lợi

1.4. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
- Phân tích dự án minh họa mang tính điển hình
- Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
- Xây dựng luận chứng
- Tìm luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn
- Xử lý thông tin, phân tích
- Phát hiện các vấn đề tồn tại cần nghiên cứu
- Đưa ra giải pháp
- Tổng hợp kết quả; Khuyến nghị, Kết luận.
7
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Khái niệm đầu tư và dự án đầu tư
1.1.1. Khái niệm đầu tư
Khả năng tồn tại và phát triển của một quốc gia luôn được hình thành từ các nguồn lực về
vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên. Ðó là hệ thống các mối quan hệ phụ thuộc
với nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bằng phương trình dựa theo Mô hình tăng trưởng của
D.Recardo thông qua hoạt động đầu tư:
D = f (C,T,L,R)
Trong đó:
D: khả năng phát triển của quốc gia
C: khả năng về vốn
T: khả năng về công nghệ
L: khả năng về lao động
R: khả năng về tài nguyên
Khái niệm đầu tư: Hoạt động đầu tư được hiểu là việc huy động các nguồn lực để biến các
lợi ích dự kiến thành hiện thực trong một khoảng thời gian đầu tư dài trong tương lai. Các nguồn
lực bao gồm: vốn, con người, tài nguyên, thời gian và lợi ích dự kiến có thể được lượng hóa (đo
hiệu quả bằng tiền hay sự tăng lên của sản lượng) và lợi ích
không thể lượng hóa bao gồm các lợi ích xã hội: việc làm, giáo dục, an sinh xã hội, môi trường…

duyệt, cấp phép đầu tư, căn cứ quan trọng để đánh giá và đưa ra các điều chỉnh kịp thời những
tồn tại vướng mắc trong quá trình triển khai và khai thác dự án.
1.1.3. Tài chính dự án
Tài chính dự án: Tài chính dự án được hiểu là toàn bộ hoạt động tài chính dự án liên quan
đến hoạt động đầu tư, vận hành và khai thác dự án.
Vấn đề quan trọng cần nhấn mạnh ở đây tài trợ cho “tài chính dự án” có sự khác biệt với
cho vay các dự án trung dài hạn. Sản phẩm cho vay trung dài hạn chỉ thể hiện quan hệ cũng như
cam kết giữa hai bên: Bên cho vay vốn (Ngân hàng) và Bên vay (doanh nghiệp) hoạt động chung
của dự án đảm bảo khả năng trả nợ cho Ngân hàng và lợi nhuận doanh nghiệp. Cho vay “tài
chính dự án” (project finance) liên quan tới việc thực hiện các cam kết và phân bố rủi ro giữa chủ
đầu tư với các bên liên quan như: Công ty quản lý dự án và ngân hàng (đơn vị tài trợ vốn) thông
9
qua việc sử dụng các mô hình hóa tài chính dự án để đảm bảo sự hiệu quả, thành công và đảm
bảo về tiến độ của dự án.
1.2. Thẩm định dự án đầu tư
1.2.1. Khái niệm
Thẩm định dự án đầu tư là việc rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan, toàn
diện mọi khía cạnh liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi
của dự án trước khi đưa ra quyết định đầu tư.
1.2.2. Thẩm định tài chính dự án đầu tư
Thẩm định tài chính dự án đầu tư: là rà soát, đánh giá lại một cách khoa học và toàn diện
mọi khía cạnh tài chính của dự án trên các giác độ của nhà đầu tư, nhà tài trợ vốn hay Công ty
quản lý dự án.
Công tác thẩm định dự án tại các Ngân hàng ngày càng trở lên quan trọng và có ý nghĩa
hơn vì với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành các hoạt động cho
vay và đầu tư, NHTM đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như là người mở đường,
người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Việc tài trợ dự án
của Ngân hàng không hiệu quả không những ảnh hưởng đến Ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến
cả nền kinh tế.
1.3. Chu trình thực hiện dự án đầu tư

1.4.1. Nguyên tắc xác định dòng tiền của dự án
+ Đánh giá dự án cần dựa trên cơ sở dòng tiền tăng thêm do dự án đầu tư đưa ra chứ không
dựa vào lợi nhuận kế toán. Dòng tiền mặt cho phép nhà đầu tư biết được lượng tiền thực có ở
từng thời điểm mà doanh nghiệp được phép sử dụng để có thể có những quyết định mới: dùng
tiền để trả nợ, hoặc trả cổ tức cho cổ đông, hoặc tăng vốn luân chuyển, hoặc đầu tư tài sản cố
định… Trong đó nếu sử dụng lợi nhuận kế toán thì không thể đưa ra được các quyết định như
vậy. Bởi vậy lợi nhuận kế toán một mặt phụ thuộc vào phương pháp hạch toán kế toán, mặt khác
doanh thu để tính lợi nhuận kế toán bao gồm cả doanh thu bán chịu, dẫn đến tình trạng doanh
nghiệp có lợi nhuận nhưng lại không có tiền. Đây điểm khác cơ bản giữa dòng tiền ròng dự án và
lợi nhuận kế toán.
+ Phải tính đến chi phí cơ hội khi xem xét dòng tiền của dự án. Chi phí cơ hội không phải là
một khoản thực chi nhưng vẫn được tính vào vì đó là một khoản thu nhập mà doanh nghiệp phải
mất đi khi thực hiện dự án.
+ Không tính chi phí chìm vào dòng tiền dự án. Chi phí chìm các chi phí phát sinh từ trước
khi hình thành dự án và không phụ thuộc vào việc dự án có được phê duyệt và thực hiện hay
11
không. Chi phí chìm không phải là chi phí làm tăng thêm nên không bao hàm trong phân tích.
+ Phải tính đến yếu tố lạm phát khi xem xét dòng tiền. Lạm phát có ảnh hưởng rất lớn đến
dòng tiền thu và dòng tiền chi, đồng thời ảnh hưởng đến chi phí cơ hội của vốn. Lạm phát cao có
thể làm thu nhập mang lại từ dự án trong tương lai không đủ bù đắp cho các khoản đầu tư hôm
nay. Do vậy nếu có lạm phát phải tính đến ảnh hưởng của lạm phát đến dòng tiền và tỷ suất chiết
khấu khi đánh giá dự án.
+ Ảnh hưởng chéo: Phải tính đến ảnh hưởng của dự án đến các bộ phận khác của doanh
nghiệp.
Một vấn đề cần lưu ý cần tách biệt quyết định đầu tư và quyết định tài trợ. Việc tách bạch
quyết định tài trợ ra khỏi quyết định đầu tư nhằm hiểu rõ thêm tính chất khả thi về tài chính của
bản thân dự án, tức là dự án có sinh lợi đáng để đầu tư hay không là do bản thân của dòng tiền
sinh ra từ nội bộ dự án chứ không phải do tác động của dòng tiền từ nguồn tài trợ bên ngoài.
1.4.2. Xác định dòng tiền chi của dự án (dòng tiền ra)
Những khoản chi liên quan đến việc bỏ vốn thực hiện đầu tư tạo thành dòng tiền ra của chủ

1.4.4. Dòng tiền dự án - Ngân lưu ròng (Cash Flow)
Thu nhập ròng hay Ngân lưu ròng của một dự án đầu tư là căn cứ để đánh giá dự án đầu tư,
được xác định dựa vào số chênh lệch giữa dòng tiền nhận được và dòng tiền chi ra.
Sự khác biệt giữa dòng tiền dự án và lợi nhuận từ Bảng cáo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh: Dòng tiền dự án không hoàn toàn giống khái niệm thu nhập của kết quả kinh doanh trong
các Báo cáo tài chính doanh nghiệp do kế toán lập. Tuy nhiên những dự báo về thu chi của dự án
được lập theo phương pháp kế toán là căn cứ để xác định thu nhập ròng của dự án. Theo phương
pháp kế toán, việc xác định thu nhập và chi phí dựa trên cơ sở các khoản thu chi đã hoàn tất. Còn
theo phương pháp xác định dòng tiền, chúng ta chỉ tính thu, chi tại thời điểm ghi nhận nó.
Trong Báo cáo kết quả kinh doanh thì khấu hao được khấu trừ vào chi phí để xác định lợi
nhuận trong kỳ, nhưng thực tế khấu hao không phải là chi phí bằng tiền, khấu hao chỉ làm giảm
thuế thu nhập doanh nghiệp, do vậy khấu hao được coi là một nguồn thu của dự án.
Đối với các nhà đầu tư dù đứng ở góc độ nào đều mong muốn dòng tiền vào của dự án sau
khi trừ đi dòng tiền ra và cùng chiết khấu về thời điểm hiện tại phải đảm bảo có lãi đầu tư. Tuy
nhiên sau khi kết thúc giai đoạn đầu tư và dự án đi vào hoạt động không phải giá trị đầy đủ của
các luồng tiền hoạt động đầu tư đều thích hợp cho sự phân tích. Vấn đề quan trọng mà chủ đầu tư
quan tâm là dòng tiền sau thuế.
Để tính được dòng tiền dự án chúng ta bắt đầu bằng công thức sau:
13
Ký hiệu:
EBITDA: Thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao
EBIT: Thu nhập trước thuế và lãi vay
DA: Khấu hao
NI: Thu nhập ròng
T: Thuế thu nhập doanh nghiệp
CF: Ngân lưu ròng dự án
EBIT = EBITDA - DA (1.1)
Bên cạnh đó, ta có:
NI = EBIT (1-T) = (EBITDA - DA) * (1-T) (1.2)
Triển khai công thức (2) ta có:

lời yêu cầu tối thiểu đối với dự án phải cao hơn suất sinh lời đối với công ty. Chi phí sử dụng vốn
được xác định trên thị trường vốn và phụ thuộc vào rủi ro của công ty hoặc rủi ro của dự án.
1.5.1. Chi phí sử dụng vốn bộ phận
Chi phí sử dụng vốn bộ phận: là chi phí mà công ty hoặc dự án phải trả khi huy động nguồn
vốn đó. Chi phí sử dụng nợ và chi phí sử dụng vốn của chủ sở hữu.
Chi phí sử dụng nợ: công ty có thể huy động nợ dưới hình thức vay của các tổ chức tài
chính trung gian hay huy động vốn trái phiếu. Chi phí trả lãi được tính trừ vào lợi nhuận trước khi
tính thuế. Vì vậy chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp chính là chi phí đã được điều chỉnh hay
chi phí sử dụng vốn vay sau thuế. Có thể thấy chi phí sử dụng vốn vay sau thuế sẽ thấp hơn chi
phí sử dụng vốn vay trước thuế, từ đó giảm bớt gánh nặng chi phí sử dụng vốn đối với vốn vay
đó cũng là tác động “lá chắn thuế” của lãi vay.
Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi: Chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi chính là chi phí mà
công ty phải trả cho việc huy động vốn cổ phần ưu đãi. Đối với công ty cổ phần, chi phí sử dụng
cổ phiếu ưu đãi là tỷ suất sinh lời tối thiểu cần phải đạt được khi huy động vốn bằng phát hành cổ
phiếu ưu đãi để đầu tư sao cho thu nhập trên 1 cổ phần hay giá cổ phiếu của công ty không bị sụt
giảm. Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi được xác định bằng công thức sau: R
f =
D
f
/P
fn
Trong đó :
R
f
: Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi
D
f
: Cổ tức của một cố phiếu ưu đãi
P
fn

: Lợi suất của tài sản có độ rủi ro thị trường
β: Hệ số rủi ro của tài sản đầu tư so với rủi ro bình quân của thị trường.
Để vận dụng mô hình này ta phải biết lợi suất phi rủi ro, lãi suất đền bù rủi ro thị trường và
ước lượng hệ số β tương đương. Trong thực tế để xác định được hệ số β là tương đối khó khăn vì
nó còn chịu ảnh hưởng của mỗi ngành kinh doanh trong từng thời kỳ, thông thường nếu dự án có
rủi ro tương đương rủi ro công ty thì ta dùng hệ số β của công ty, nếu dự án có rủi ro lớn hơn rủi
ro công ty ta phải tăng hệ số rủi ro.
1.5.2. Chi phí vốn trung bình có trọng số
Trong phần trên đã xem xét chi phí của từng nguồn vốn tài trợ riêng biệt. Tuy nhiên trong
thực tế hoạt động kinh doanh, để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều
nguồn vốn khác nhau, mỗi nguồn tài trợ lại có chi phí sử dụng không giống nhau. Do vậy, cần
xác định chi phí sử dụng vốn bình quân. Chi phí vốn bình quân WACC được xác định theo
phương pháp bình quân gia quyền và được xác định bằng công thức sau:
Thực vậy, ta có công thức tính WACC như sau:
WACC = (
V
D
) x R
D
x (1-T) + (
V
E
) x R
E
16
(1.5)

Trong đó :
WACC: Tỷ suất chiết khấu hay chi phí vốn bình quân
(

ảnh hưởng bởi sự lượng hóa các giả định lợi suất của tài sản không rủi ro, tài sản có độ rủi ro
trung bình và hệ số β
Lãi suất vay vốn : tuy cơ cấu vốn đã ảnh hưởng đến WACC nhưng lãi suất vay vốn tại
từng thời điểm khác nhau cao hay thấp cũng là nhân tố ảnh hưởng đến WACC.
1.6. Khấu hao và vấn đề xác định thời gian khấu hao
17
Về mặt lý thuyết có 3 phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp có thể áp dụng: phương pháp
khấu hao theo đường thẳng, phương pháp khấu hao nhanh và phương pháp khấu hao theo sản
lượng.
Trong kế toán khấu hao là một khoản chi phí làm giảm tài sản cố định. Tuy nhiên chi phí này
không phải chi ra bằng tiền thực nên nó được coi là một khoản thu của dự án. Phần chi phí khấu
hao càng cao thì dòng tiền thuần của dự án càng cao.
Bên cạnh đó khấu hao còn ảnh hưởng đến dòng tiền thông qua thuế. Với mức khấu hao khác
nhau dẫn đến mức thuế nộp cũng khác nhau, bản chất doanh nghiệp tiết kiệm được một phần thuế
từ chi phí khấu hao. Mức khấu hao tăng dẫn đến tổng mức chi phí tăng, thuế thu nhập giảm nên
dòng tiền dự án tăng.
Từ quy luật trên ta thấy có thể nhận định Phương pháp tính khấu hao của doanh nghiệp ảnh
hưởng đến dòng tiền dự án. Cùng giá trị tài sản cố định với thời gian khấu hao nhanh hơn, chi phí
trong mỗi kỳ tăng dẫn đến thu nhập trước thuế giảm nên giảm thuế TNDN phải nộp và ngược lại.
Với mỗi loại tài sản khác nhau có quy định về thời gian khấu hao khác nhau. (có thể tham khảo
Theo thông tư số 203/2009/TT - BTC về khấu hao tài sản cố định của Bộ tài chính Việt Nam quy
định thời gian khấu hao tối thiểu và tối đa đối với từng hạng mục tài sản cố định: công trình xây
dựng, máy móc thiết bị, công cụ dụng cụ )
1.7. Các chỉ tiêu thấm định đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư
1.7.1. Phương pháp giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value)
CF
1
CF
2
CFn

- CF
1
, CF
2,
CF
n
: các luồng tiền ròng dự tính trong tương lai.
18
- Riêng dòng CF
n
có thêm thu nhập từ tiền thu từ thanh lý tài sản cố định và giá trị
vốn lưu động ròng thu hồi được.
- r = WACC = tỷ suất chiết khấu hay chi phí vốn bình quân.
Ý nghĩa: NPV đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án đem lại cho nhà đầu tư với
mức độ rủi ro dự kiến, đây là phương pháp tính phổ biến được sử dụng ở tất cả các nước.
Phương thức sử dụng chỉ số NPV:
Dùng hàm Excel để tính toán, tính giá trị hàm NPV (rate, value1, value2 …) dựa trên Bảng
dòng tiền dự án.
Chỉ số NPV được sử dụng làm căn cứ để lựa chọn và xác định dự án có đầu tư hay không.
NPV > 0 : dự án có hiệu quả với các giả định của dự án và chi phí vốn WACC
NPV < 0 : dự án không có hiệu quả
NPV = 0 : quyết định của chủ đầu tư phụ thuộc vào sự cần thiết của dự án.
Thực tế doanh nghiệp thường phải lựa chọn các dự án loại trừ nhau, đối với các dự án cùng
dương thì chủ đầu tư sẽ lựa chọn dự án có giá trị NPV lớn nhất. Trường hợp các dự án không vì
mục tiêu lợi nhuận là tính lợi ích toàn xã hội thì có thể lựa chọn dự án tối thiểu có NPV = 0.
• Ưu điểm của Phương pháp giá trị hiện tại NPV:
- Đánh giá được hiệu quả của dự án do phản ánh được giá trị thời gian của tiền thông qua
việc sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm tỷ lệ chiết khấu.
- NPV đo lường trực tiếp phần lợi nhuận mà dự án đóng góp và tài sản của chủ sở hữu vì
dòng tiền là dòng sau thuế.

, r
2
sao cho:
Với r
1
thì ta có NPV1 > 0; và r
2
thì ta có NPV2 < 0.
Lựa chọn r
1,
r
2
sao cho:
NPV1 ( r
1
- r
2
)
IRR = r
1
* (1.7)
/NPV1/ + /NPV2/
Chênh lệch giữa r
1,
r
2
không vượt quá 0,05 thì nội suy IRR mới tương đối chính xác. IRR là căn
cứ để xác định dự án có hiệu quả hay không? trước khi quyết định đầu tư. Để xác định cần căn cứ
vào kết quả so sánh như sau:
IRR > WACC: dự án có hiệu quả

+ Thời gian hoàn vốn không chiết khấu:
PP = Tổng vốn đầu tư (Lợi nhuận ròng + khấu hao TSCĐ)
+ Thời gian hoàn vốn có chiết khấu:
Co -

=
+
t
i
i
i
r
CF
1
)1(
= 0
(1.8)
Trong đó :
21
C
0
: vốn đầu tư ban đầu
CF
i
: Dòng tiền năm thứ i
i : năm thực hiện dự án
t: số năm thực thực hiện dự án
• Đặc điểm của phương pháp tính theo thời gian hoàn vốn:
- Ưu điểm: đơn giản, dễ tính
- Nhược điểm:

vốn đầu tư ban đầu.
Ta có công thức (1.10):
PV
PI =
C
0
Trong đó :
PV: thu nhập ròng hiện tại
C
0
: vốn đầu tư ban đầu
PV = C
0
+ NPV
Phương pháp này có ưu điểm hơn phương pháp IRR, NPV trong trường hợp tất cả các dự án
đều có NPV > 0 chủ đầu tư sẽ lựa chọn dự án thì sẽ ưu tiên các doanh nghiệp có chỉ tiêu PI cao
hơn. Do vậy khi quyết định đầu tư nên kết hợp cả 03 phương pháp để bổ sung cho nhau.
Đối với dự án độc lập (với điều kiện NPV > 0)
PI > 1 : dự án có hiệu quả
PI < 1 : dự án không có hiệu quả
PI = 1 : tùy theo mục tiêu kỳ vọng của doanh nghiệp để quyết định lựa chọn hay không?
Đối với dự án loại trừ: khi lựa chọn theo nguyên tắc dự án có PI > 1 thì sẽ lựa chọn dự án có
PI lớn nhất.
 Ưu điểm:
- Khi sử dụng phương pháp này thì quyết định chấp thuận hay từ chối dự án độc lập có sự
tương đồng và tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông.
- Chỉ số PI thể hiện được mối quan hệ giữa NPV và vốn đầu tư ban đầu, chỉ số này thể hiện
một đồng vốn sinh ra được dòng tiền dự án là bao nhiêu đồng?
 Nhược điểm:
- Không đo lường trực tiếp tác động của quy mô dự án, tổng mức đầu tư đối với lợi

đang được xem xét. Chỉ số nhạy cảm thường mang dấu âm (-) nên trị tuyệt đối của nó càng lớn
phản ánh độ nhạy càng lớn khi các yếu tố đầu vào biến đổi càng cao.
24
Có hai phương pháp phân tích như sau:
Phân tích tình huống: là việc đánh giá kết quả của dự án trong một số trường hợp với
những điều kiện nhất định của các yếu tố đầu vào. Thường các chủ đầu tư tính toán trên các giả
định tốt nhất (giá bán, lượng tiêu thụ, công suất sản xuất và khai thác…) và so sánh với mức biến
động của các yếu tố đầu vào theo hướng xấu nhất. Tuy nhiên phương pháp này thể hiện một số
hạn chế nhất định: chỉ phản ánh được một vài kết cục của dự án trong khi thực tế có rất nhiều khả
năng có thể xảy ra do vậy việc tính xác suất chính xác một tình huống có thể xảy ra là tương đối
khó khăn.
Phân tích mô phỏng: Phương pháp này có thể hạn chế được nhược điểm của phương pháp
trên. Nó đề cập đến phạm vi kết cục có thể xảy ra chứ không phải là một tình huống cụ thể.
Trong phạm vi đó đường biểu diễn hàm mật độ xác suất là một đường liên tục và việc tính toán
các hệ số đo lường rủi ro sẽ chính xác hơn.Tuy nhiên áp dụng phương pháp này đòi hỏi người
phân tích phải có các kỹ năng kinh nghiệm tốt và phải có sự trợ giúp của các phần mềm kỹ thuật
hiện đại.
 Ưu điểm: Phân tích độ nhạy cung cấp một phương tiện hữu hiệu để xem xét rủi ro dự án, giúp
Ngân hàng loại bỏ các dự án có độ rủi ro cao khi các yếu tố đầu vào thay đổi, thương lượng với
nhà đầu tư các cách giải quyết, quản lý các nhân tố đầu vào có nhiều biến động trong trường hợp
rủi ro có thế chấp nhận được.
 Nhược điểm:
- Rủi ro dự án không chỉ phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm mà còn phụ thuộc vào phạm vi các
giá trị có thể có của những đại lượng đầu vào được phản ánh trong sự phân bố xác suất của
chúng.
- Phân tích độ nhạy chỉ xem xét khía cạnh sự thay đổi của các yếu tố đầu vào nên sự phân tích
có thể chưa đầy đủ, hơn nữa có thể gặp khó khăn khi các yếu tố cùng thay đổi .
Nhìn chung dù áp dụng phương pháp nào thì mục đích cuối cùng trong phần phân tích độ
nhạy phục vụ cho mục đích xác định độ rủi ro của dự án, đánh giá thông qua mối quan hệ với
hiệu quả tài chính, khả năng thu hồi vốn, khả năng trả nợ Ngân hàng và Ngân hàng có chấp nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status