Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng TMCP Việt Á - Pdf 11

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan chuyên đề này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu đưa ra trong bài viết là chính xác, trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế của ngân hàng thương mại cổ phần Việt á giai đoạn 2003-2005.
1

Danh mục chữ cái viết tắt
Tmcp Thương mại cổ phần
Nhnn Ngân hàng nhà nước
Tscđ Tài sản cố định
Tslđ Tài sản lưu động
Nhtm Ngân hàng thương mại
Vab Ngân hàng thương mại cổ phầnViệt á
Pgd Phòng giao dịch
Tckt Tổ chức kinh tế
Xnk Xuất nhập khẩu
Cnvc Công nhân viên chức
MỤC LỤC
Lời mở đầu……………………………………………………………...........5
2
Chương 1:cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại
1.1. tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế 7
1.1.1.Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng………………………..7
1.1.1.1.Khái niệm……………………………………………………………..7
1.1.1.2.Đặc trưng của tín dụng ngân hàng…………………………………….8
1.1.2.Phân loại tín dụng ngân hàng…………………………………………...9
1.1.2.1.Thời hạn tín dụng……………………….…………………………….9
1.1.2.2.Đối tượng tín dụng…………………….
……………………………..10
1.1.2.3.Mức độ tín nghiệm đối với khách hàng.……………………………..10

được………………………………………………..38
2.3.2.Hạn chế và những nguyên
nhân………………………………………..39
Chương 3:
Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại
ngân hàng tmcp việt á...................................................................................41
3.1.Mục tiêu, định hướng phát triển của ngân
hàng……………………….....41
3.1.1.Mục tiêu của ngân hàng……………………………………………….41
3.1.2.Định hướng phát triển của ngân
hàng………………………………….41
3.2.Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng tmcp
việt á………….………………………………42
3.2.1.Xây dựng chiến lược kinh doanh………………………………………
42
3.2.2.Đa dạng hoá hoạt động tín dụng……………………………………….44
3.2.3.Thực hiện có hiệu quả quy trình nghiệp vụ tín dụng…………………..45
4
3.2.4.Tăng cường kiểm tra kiểm soát đối với các khoản tín
dụng…………...46
3.2.5.Xử lý tốt các khoản nợ quá hạn………………………………………..47
3.2.6.Giải pháp về nhân tố con người………………………………………..49
3.3.Một số kiến nghị...…………………………………………………..........52
3.3.1.Kiến nghị đối với nhà
nước…………………………………………….52
3.3.2.Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước………………………………..53
Kết luận…………………………………………………………………......55
Tài liệu tham khảo………………………………………………….............56
Xác nhận của ngân hàng….……………………………………..................57
5

Phân tích, đánh giá thực trang hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP
Việt á chi để từ đó chỉ ra kết quả dạt được, những vấn đề còn tồn tại và
nguyên nhân của những tồn tại đó đồng thời kiến nghị nhằm củng cố và nâng
cao chất lượng tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng là phạm trù rất rộng, bao
gồm nhiều hoạt động như các hoạt động huy động vốn, cho vay, bảo lãnh…
trong bài chuyên đề này chỉ đề cập chủ yếu tới chất lượng tín dụng ở góc độ
cho vay.
Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan trực tiếp
đến hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại và chất lượng tín dụng tại
ngân hàng TMCP Việt á.
4. Những đóng góp của chuyên đề
Bài viết làm rõ những vấn đề mang tính lý luận về chất lượng tín dụng
tại ngân hàng.Phát hiện những vấn đề, nguyên nhân của vấn đề và kiến nghị
những giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng, từ đó góp phần:
- Nâng cao khả năng sinh lời
- Giảm rủi ro
- Đảm bảo thanh khoản
- Nâng cao uy tín của ngân hàng.
Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian cũng như trình độ, chuyên đề không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rất mong được sự tham gia, góp ý
kiến của thầy cô, các nhà quản trị Ngân hàng và những người quan tâm đền
chuyên đề.
7
Chương 1:
Cơ sở Lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền
kinh tế

hàng trải qua 3 giai đoạn:
- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay : ở giai đoạn này vốn tiền
tệ được chuyển từ ngân hàng sang người đi vay. Đây là đặc điểm khác với
mua bán hàng hoá thông thường vì trong quan hệ mua bán hàng hoá thì giá trị
chỉ thay đổi hình thái tồn tại.
- Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất: sau khi nhận được khoản vay
từ ngân hàng, người đi vay có quyền sử dụng lượng giá trị để thoả mãn một
mục đích nhất định. Trong giai đoạn này, vốn được sử dụng vào trong một
quá trình mua hàng hoá, vật tư, nguyên vật liêụ, máy móc…để phục vụ sản
xuất. Tuy nhiên, người đi vay không có quyền sở hữu lượng giá trị này, mà họ
phải hoàn trả trong một thời gian nhất định.
- Hoàn trả tín dụng : là giai đoạn kết thúc của chu kỳ tín dụng. Sau khi
vốn được sử dụng vào việc thực hiện một chu kỳ sản xuất, đến một thời hạn
nhất định (được thoả thuận giữa ngân hàng và người đi vay vốn) vốn tín dụng
được người đi vay hoàn trả lại cho ngân hàng với lượng giá trị cao hơn lượng
giá trị đã vay (bao gồm cả gốc lẫn lãi).
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu của nền kinh tế mà
còn kịp thời khắc phục những nhược điểm của các hình thức tín dụng khác
trong lịch sử như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại…
1.1.1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng
Một là, tín dụng là sự cung cấp một lượng giá tị dựa trên cơ sở lòng tin. ở
đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu qủa sau
một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ. Từ đặc trưng này
9
cho thấy quan hệ tín dụng chỉ xảy ra khi các bên có sự tin tưởng lẫn nhau. Để
có lòng tin đối với khách hàng, ngân hàng luôn thẩm định đánh giá khách
hàng trước khi cho vay. Nến khâu này được thực hiện một cách khách quan,
chính xác thì việc cho vay của ngân hàng gặp ít rủi ro và ngược lại.
Hai là, tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn.
Đặc trưng này của tín dụng xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời. Để

mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn
nhanh. Hình thức tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có
khả năng dự đoán được những biến động xảy ra.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để
cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công
trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, sân bay, bến cảng…) cải tiến và mở rộng
sản xuất với quy mô lớn. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong
thời gian dài thì có những biến động xảy ra không thể lường trước được.
1.1.2.2. Đối tượng tín dụng
Nếu căn cứ vào đối tượng tín dụng có thể chia tín dụng thành 2 loại:
Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu
động của cấc tổ chức kinh tế, có ý nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu động cho
vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán khoản nợ dưới hình thức chiết
khấu kỳ phiếu. Đây là loại tín dụng có mức độ ro thấp vì vốn lưu động của
doanh nghiệp là vốn luân chuyển trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nên ngân
hàng có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu
hồi vốn.
Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố
định, có nghĩa là đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật,
mở rộng sản xuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới. Hình thức tín dụng
này thường có mức dộ rủi ro cao hơn vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn.
1.1.2.3. Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Căn cứ vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 2 loại:
11
Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cấp tín dụng thì chỉ dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong
kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có
thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần một nguồn thu
nợ thứ hai bổ sung. Như vậy, mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây

các đơn vị kinh tế nói riêng. Thực hiện chức năng phân phối lại (cho vay ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn) tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các đơn vị
kinh tế dự trữ vật tư, hàng hoá, thoả mãn những chi phí trong quá trình sản
xuất cũng như lưu thông, tăng thêm giá trị TSCĐ, TSLĐ mà đơn vị đã sử
dụng, do vậy, tín dụng góp phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển vật tư, hàng
hoá trong nền kinh tế, rút ngắn thời gian lưu thông, giảm bởt chi phí, tạo điều
kiện nâng cao lợi nhuận. Qua các chức năng của mình, tín dụng ngân hàng tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển của các ngành kinh tế: công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá nghệ thuật... bởi hoạt động tín dụng thoả
mãn nhu cầu về vốn nhằm giúp đỡ các ngành nghề thực hiện thuận lợi nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả lao động,
vật tư, tiền vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật sẵn có, qua đó củng cố chế độ hạch
toán kinh tế.
Hai là, tín dụng ngân hàng là công cụ để Nhà nước tài trợ cho các
ngành kinh tế mũi nhọn hoặc các ngành kinh tế kém phát triển thông qua chính
sách ưu đãi, từ đó thúc đẩy các ngành kinh tế cùng phát triển, đẩy nhanh tốc
độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ba là, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức điều
hoà lưu thông tiền tệ. Trong nền kinh tế hàng hoá, quy luật giá trị và quy luật
lưu thông tiền tệ đòi hỏi sự cân đối giữa hàng hoá và tiền tệ, đảm bảo sự ổn
định tiền tệ, ổn định đời sống nhân dân, là một tiền đề quan trọng để vận dụng
có hiệu quả các quy luật trong hệ thống quản lí kinh tế. Việc sử dụng tín dụng
13
như một đòn bẩy kinh tế góp phần xác lập quan hệ cân đối hàng tiền không
những là cần thiết mà còn là một khả năng hiện thực. Trước hết, trong quá
trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng huy động và tập trung thực
những vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, đồng thời khi thu nợ cũng rút khỏi lưu
thông một bộ phận tiền tệ. Mặt khác, trong quá trình cân đối nguồn vốn tín
dụng, ngân hàng phát hành thêm tiền tệ cho vay phát triển sản xuất, tăng
nhanh tốc độ chu chuyển tiền mặt qua ngân hàng. Sau nữa, để thực hiện mối

hoặc nhờ vốn tín dụng bên ngoài mà phát triển kinh tế trong nước.
Sáu là, tín dụng ngân hàng là động lực đối với việc hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Để thực hiện thành công quá trình này thì cần phải có vốn. Nguồn vốn
dùng để tài trợ có thể là vốn trong nước hay vay nước ngoài trong đó ngân
hàng chính là trung gian tài chính huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế
để cho vay.
1.2. Chất lượng tín dụng của nhtm.
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng
Theo quan điểm của các học giả, chất lượng là sự phù hợp với mục
đích hoặc sử dụng hay là một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin
cậy với chi phí thấp, phù hợp với thị trường.
Nâng cao chất lượng trong hoạt động là yếu tố quan trọng để một đơn
vị kinh doanh đứng vững trên thị trường, đặc biệt là trong nền kinh tế cạnh
tranh.
Đối với ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lời thiết yếu , song
cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro. Chính vì vậy đây là điều mà các ngân
hàng thương mại quan tâm nhiều nhất.
Chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối, một phạm trù rộng
lớn, nó vừa cụ thể vừa mang tính tổng hợp. Vì vậy, không có định nghĩa
chính xác về chất lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng có thể được hiểu: là sự
15
đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và
đảm bảo sự tồn tại. phát triển của ngân hàng. Như vậy xét về tổng thể, ngân
hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế, vừa tạo ra được hiệu quả xã hội. Chất
lượng tín dụng được thể hiện:
- Đối với doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, chất lượng tín dụng thể hiện các khoản vay được
đáp ứng nhu cầu để đảm bảo quá trình luân chuyển vốn trong quá trình kinh
doanh, nâng cao chất lượng, hiện đại hoá và đa dạng hoá sản phẩm, tăng sức

Nếu ngân hàng có uy tín tốt thì khả nâng mở rộng tín dụng cao hơn do
thu hút được nhiều khách hàng hơn và như vậy chất lượng tín dụng của ngân
hàng tăng. Để làm được điều này, các ngân hàng phải đáp ứng tốt nhất nhu
cầu khách hàng, đồng thời phải thực sự trở thành người bạn của doanh
nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ khó khắn với họ. Làm được như vậy thì
nguồn vốn tín dụng sẽ thực sự phát huy được vai trò đòn bẩy, giúp doanh
nghiệp cải tiến thiết bị, đổi mới công nghệ mở rộng sản xuất, tăng khả năng
cạnh tranh. Điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng có thể tránh được rủi ro
không thu hồi được vốn, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của chính mình.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội :
Một khoản tín dụng có chất lượng cao phải kết hợp được hài hoà lợi ích
của khách hàng, ngân hàng và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.
Vì vậy, ngoài việc đánh giá dưới góc độ ngân hàng và khách hàng, chất lượng
tín dụng còn được đánh giá dưới góc độ kinh tế xã hội thông qua các chỉ tiêu
sau:
+ Giải quyết vấn đề lao động : Tỷ lệ thất nghiệp luôn là mối quan tâm hàng
đầu của bất kỳ một quốc gia nào. Khi tỷ lệ này tăng thì đời sống của người
dân sẽ gặp khó khăn, tệ nạn xã hội gia tăng… Vì vậy với những khoản cho
vay dự án nào giải quyết được vấn để thất nghiệp thì được coi là có hiệu quả,
có chất lượng về mặt kinh tế xã hội.
17
+ Khả năng khai thác tiềm năng trên địa bàn hoạt động : Một dự án khai thác
được tiềm năng của địa bàn hoạt động ( tài nguyên, con người …) thì sẽ góp
phần thúc đẩy nền kinh tế của địa bàn phát triển, chuyền dịch cơ cấu kinh tế,
tăng thu ngân sách.
+ Giải quyết vấn đề môi trường : Nến dự án gây ô nhiễm môi trường sống
xung quanh ảnh hưởng tới sức khoẻ của người lao động, năng suất lao động
sẽ giảm sút, ảnh hưởng tới đời sống của người dân xung quanh, ảnh hưởng
xấu tới đời sống xã hội và như vậy dự án không mang lại hiệu quả cho nền
kinh tế xã hội

=
Vốn huy động
Dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết vốn huy động đảm bảo bao nhiêu phần trăm nhu
cầu tín dụng, từ đó cho thấy khả năng tự chủ của ngân hàng trong việc cấp tín
dụng cho nền kinh tế. Ngoài ra,chỉ tiêu này còn ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán của ngân hàng. Tỷ lệ này cao chứng tỏ ngân hàng cho vay nhiều
và đã sử dụng tốt nguồn vốn huy động. Nếu tỷ lệ này thấp kết hợp với khả
năng huy động vốn cao thì có thể kết luận ngân hàng đã sử dụng vốn lãng phí,
không hiệu quả, ảnh hưởng tới lợi nhuận và an toàn trong hoạt động ngân
hàng.
+ Ba là, thu nhập từ hoạt động cho vay
Thu nhập từ hoạt động cho vay
=
Lợi nhuận từ tín dụng
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay cho biết khả năng sinh lời của
tín dụng . Bất kỳ một khoản tín dụng nào, dù ngắn hay dài hạn, không thể coi
Tỷ trọng vốn huy động =
Vốn huy động
Tổng nguồn vốn
19
đó là có chất lượng cao nếu không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra
còn có thể thấy được vị trí của tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thông
qua chỉ tiêu:
Khả năng sinh lời =
Lãi từ hoạt động cho vay
Tổng thu nhập
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn
Tín dụng là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng trong nền kinh tế thị

dụng và ngân hàng là điều khó tránh khỏi, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín
dụng của ngân hàng thương mại.
+ Môi trường pháp lý:
Thực tiễn cho thấy pháp luật là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế
thị trường có điều tiết của Nhà nước. Nếu không có pháp luật hoặc pháp luật
không phù hợp với sự điều tiết của nền kinh tế thị trường thì mọi hoạt động
trong nền kinh tế đó sẽ có nhiều gian lận, thiếu công bằng và khó thực hiện
trôi chảy.
Đối với tín dụng ngắn hạn nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống
pháp luật, tính đầy đủ, thống nhất của các văn bản dưới luật và việc chấp hành
pháp luật. Nhân tố pháp lý có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng hoạt
động ngân hàng nói riêng, và chất lượng tín dụng ngắn hạn nói riêng.
Một khung pháp lý đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho hoạt động ngân hàng mở rộng
và phát triển. Các quy định rõ ràng trong việc xét duyệt cho vay, bảo đảm
tiền vay … sẽ tạo thuận lợi cho ngân hàng trong việc xét duyệt cho vay, giám
sát thực hiện các khoản vay cũng như thu hồi nợ … Các ngân hàng có thể mở
rộng cho vay đến đâu phụ thuộc nhiều chế độ pháp lý.
Việc thế chấp và xử lý tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng gặp nhiều khó
khăn, phức tạp do ở nước ta chưa có luật sở hữu. Không những thế pháp lệnh
kế toán thống kê chưa đủ hiệu lực bắt buộc các doanh nghiệp thực hiện với
thực trạng sản xuất kinh doanh, tài chính của các doanh nghiệp. Những đièu
21
này có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương
mại.
Ngoài khung pháp lý chung cho hoạt động ngân hàng, các quy định pháp luật
trong lĩnh vực khác cũng có ảnh hưỏng đến hoạt động cho vay của ngân hàng.
Điển hình là Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật dân sự… Nếu
các quy định trong các luật này phù hợp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có nghĩa là cũng tạo điều kiện cho
hoạt động của ngân hàng và ngược lại.

nguyên tắc tín dụng nhưng thực sự những nguyên tắc đó được thực hiện hay
không lại phụ thuộc rất nhiều vào tình hình tài chính của khách hàng, kết quả
hoạt động kinh doanh của khách hàng, năng lực quản lý và phẩm chất đạo đức
của khách hàng. Nếu các đơn vị làm ăn có lãi thì họ luôn tuân thủ các nguyên
tắc đã ký kết để có thể tiếp tục được vay nhiều hơn nhằm mở rộng hoạt động
kinh doanh. Ngược lại, các đơn vị làm ăn thua lỗ sẽ lâm vào tình trạng khó
khăn, không có khả năng thanh toán và sau này cũng là vỡ nợ, gây ảnh hưởng
xấu đến ngân hàng.
Trong thực tế, năng lực, trình độ và kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp còn thấp, chưa đắp ứng được nhu cầu của cơ chế
thị trường, lại thêm bản thân doanh nghiệp đó yếu kém về trình độ sản xuất kỹ
thuất công nghệ lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra không có khả năng cạnh tranh
trên thị trường, dẫn đến thua lỗ không có khả năng trả nợ ngân hàng. Mặt
khác nhiều khách hàng tìm thủ đoạn lừa đảo như làm giả giấy tờ, mạo chứng
từ nhận sở hữu nhà cửa, lập phương án sản xuất kinh doanh giả để vay vốn
ngân hàng, sau đó sử dụng vốn vay tuỳ tiện, không đúng mục đích, không mang
lại hiệu quả kinh tế, gây ảnh hưởng đền chât lượng tín dụng của ngân hàng.
Hiện nay hầu hết khách hàng không đáp ứng được các điều kiện để vay
vốn ngân hàng. Phần lớn tài sản của các doanh nghiệp không có giấy chứng
nhận sở hữu. Các doanh nghiệp nhà nước vốn tự có rất nhỏ, tài sản cố định
23
phần lớn là nhà xưởng máy móc thiết bị lạc hậu không đủ tiêu chuẩn thế chấp.
Trong khi đó chức năng nhiệm vụ trong giấy phép đăng ký kinh doanh của
doanh nghiệp tương đối lớn. Yêu cầu vay vốn của doanh nghiệp lại lớn hơn
nhiều so với vốn tự có. Nếu cho vay theo đúng chế độ thì hầu hết các doanh
nghiệp không đủ điều kiện. Vì vậy có thể thấy những khó khăn mà ngân hàng
phải đối mặt khi hậu quả xảy ra.
Như vậy bản thân khách hàng là nhân tố quan trọng tác động đến chất
lượng tín dụng nói chung, tín dụng ngắn hạn nói riêng. Vì thế, các ngân hàng
luôn quan tâm đến chiến lược khách hàng để tìm cho mình những khách hàng

phương pháp, đường lối chính sách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã
hội. Điều đó cũng có nghĩa là chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc xây
dựng chính sách tín dụng của ngân hàng có đúng đắn hay không. Vì vậy,
muốn nâng cao chất lượng cho vay các ngân hàng phải có chính sấch phù
hợp, đúng hướng.
Ba là, chất lượng thẩm định và quy trình tín dụng
Thẩm định cho vay là khâu quan trọng nhất quyết định đến chất lượng
tín dụng. Việc thẩm định được thực hiện tốt sẽ tạo tiền đề cho việc thu hồi
vốn ( bao gồm cả gốc và lãi ) khi đến hạn thanh toán, tạo điều kiện cho vốn tín
dụng luân chuyển nhanh. Trong quá trình thẩm định tín dụng đòi hỏi người cán bộ
tín dụng có một trình độ chuyên môn cũng như khả năng thẩm định linh hoạt, tuy
nhiên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về hồ sơ, an toàn về thông tin.
Quy trình tín dụng là một nhân tố quan trọng. Các Ngân hàng thương
mại luôn kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình cho vay, kịp thời phát
hiện và chỉnh sửa những sai sót nhằm hạn chế rủi ro của việc cho vay. Quy
trình cho vay có thể làm tăng hoặc giảm rủi ro của việc cho vay. Các bước
thực hiện trong quy trình cho vay càng chặt chẽ thì ngân hàng quản lý món
vay càng có hiệu quả và rủi ro tín dụng càng hạn chế.
Bốn là, lãi suất cho vay
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status