BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG – KHOA NGÂN HÀNG
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài :
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM-
CHI NHÁNH HÀ NỘI
Họ tên sinh viên : Nguyễn Hương Giang
Lớp : LTĐH9 - NHD
Chuyên ngành : Ngân Hàng Thương Mại
Khoa : Ngân Hàng
HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM- CHI
NHÁNH HÀ NỘI” là công trình nghiên cứu riêng của tôi và là công trình đầu
tiên nghiên cứu về đề tài này tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi
nhánh Hà Nội.
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực. Kết quả nghiên cứu
được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình
nào khác.
Hà Nội, ngày 24 tháng12 năm 2013.
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN HƯƠNG GIANG
DANH SÁCH TỪ NGỮ VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng Thương mại cổ phần
tế
Nâng cao chất lượng là vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu trong các hoạt động
kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng. Phát triển phải đi đều với chất
lượng thì mới bền vững. Hoạt động tín dụng ngân hàng của Ngân hàng thương mại lại
càng phải như vậy, vì Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động quan
trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập tiền lời lớn nhất và
cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất của ngân hàng. Vì vậy, nâng cao chất
lượng tín dụng luôn là nhiệm vụ và mục tiêu hàng đầu của các NHTM. Để đưa ra được
một quyết định đầu tư tín dụng, các ngân hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả
năng rủi ro và sinh lợi dựa trên quy trình phân tích tín dụng. Hoạt động tín dụng có ý
nghĩa đặc biệt trong việc đánh giá sức mạnh tài chính, tự chủ tài chính trong kinh
doanh nhu cầu tài trợ và khả năng hoàn trả của khách hàng. Nhưng hoạt động này
trong các NHTM còn nhiều bất cập. Chính vì lẽ đó mà việc nghiên cứu tìm ra các giả
pháp nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần quyết định tới hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng.
Với kinh nghiệm thực tiễn công tác tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam
– Chi nhánh Hà Nội kết hợp với kiến thức học được của khoá học cao học vừa qua,
nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề nên em chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp
nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam – Chi
nhánh Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình với mong muốn ý nghĩa thực tiễn của
đề tài sẽ giúp cho hoạt động tín dụng của chi nhánh phát triển ngày càng bền vững.
7
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của Ngân hàng
thương mại.
Chương 2 : Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội.
Chương 3 : Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội.
8
9
nhu cầu vốn đa dạng và to lớn trong khi các nguồn tiền tiết kiệm đang nằm phân tán
trong xã hội mà mỗi khoản tiết kiệm lại theo đuổi một mục đích riêng.
Nhờ có thị trường tài chính và cơ chế chuyển giao vốn năng động của thi trường
tài chính mà trong đó hệ thống NHTM giữ vai trò chủ đạo, NHTM hoạt động như một
chiếc cầu nối giữa khả năng cung ứng vốn và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội. Là
trung gian tín dụng, Ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là người
có tiền cho vay và một bên là những người có nhu cầu chi tiêu cần đi vay vốn. Thông
qua cơ chế thị trường, bằng những biện pháp, chính sách và áp dụng những phương
pháp kỹ thuật theo hướng hiện đại Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những
nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội để phân bổ vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Như vậy có nghĩa là Ngân hàng đã biến những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi thành
những đồng tiền hoạt động, biến những đồng tiền tệ nằm phân tán thành nguồn tiền tệ
tập trung phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, qua dó phát triển hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng.
• Hai là: Chức năng làm trung gian thanh toán
Trong đời sống hàng ngày diễn ra hàng tỷ lượt giao dịch, thanh toán bằng tiền
mặt. Nếu như mọi khoản thanh toán đầu thanh toán bằng tiền mặt trao tay thì sẽ kéo
theo hàng loạt các công việc phức tạp và tốn kém mà nhiều khi còn gặp rủi ro không
lường trước được. Khi NHTM ra đời và phát triển, trong quá trình làm trung gian tín
dụng Ngân hàng đã thu hút được hầu hết các nhà kinh doanh có quan hệ buôn bán với
nhau mở tài khoản tại Ngân hàng tạo cơ sở cho các Ngân hàng đứng ra làm trung gian
thanh toán theo lệnh của chủ tài khoản bằng cách trích số dư tiền gửi trên tài khoản
của người mua chuyển sang tài khoản của người bán, tiến hành các nghiệp vụ này
Ngân hàng trở thành là người thủ quỹ và là bộ máy kế toán đáng tin cậy của các nhà
kinh doanh trong việc làm trung gian nhận và trả tiền theo yêu cầu của họ, kế toán và
kết toán tài khoản cho họ. Do đó, quá trình thực hiện chức năng này hệ thống NHTM
đã góp phần quan trọng làm giảm bớt khối lượng lưu thông tiền mặt, tiết kiệm chi phí
lưu thông thuần tuý, giúp cho việc thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ được thuận lợi,
nhanh chóng, an toàn. Đối với Ngân hàng thực hiện chức năng này tạo cho Ngân hàng
hàng đã thiết lập và xây dựng các phương thức tài trợ khác nhau.
Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của Ngân hàng đã trở thành
trọng tâm chú ý của chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn của chính phủ và thường là cấp
bách trong khi thu không đủ chi hoặc thu chưa đủ thì chính phủ các nước đều muốn
11
tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Phương thức được sử dụng nhiều nhất
là Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ mua bán tín phiếu, trái phiếu hoặc làm đại lý phát
hành các giấy tờ có giá cho Chính phủ, qua nghiệp vụ này một mặt vừa thực hiện
nghĩa vụ với nhà nước mặt khác vừa đem lại thu nhập cho Ngân hàng.
Tài trợ cho nền kinh tế
Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì vấn đề sống còn là phải có nguồn lực tài
chính đủ mạnh, trước hết là dể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mặt khác là để
mở rộng qui mô và tham gia cạnh tranh để đứng vững trong nền kinh tế thị trường.
Nguồn lực này thì ngoài nguồn vốn tự có của các Doanh nghiệp (thường chỉ chiếm tỷ
trọng nhỏ), thì phần lớn các doanh nghiệp đều phải dựa và nguồn vốn tín dụng Ngân
hàng. Tuỳ theo nhu cầu và loại hình kinh doanh mà Ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng
theo các phương thức khác nhau trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn do Ngân
hàng đưa ra. Khi thực hiện nghiệp vụ này thì nó đem lại lợi nhuận rất lớn cho Ngân
hàng và đây là nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng.
Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho khách hàng một
khoản tiền để sử dụng trong một khoảng thời gian và theo mục đích nhất dịnh trên cơ
sở với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là phương thức phổ biến nhất trong
hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với khách hàng.
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn kéo dài trên cơ sở hợp
đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng và khách hàng đi thuê.
Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó hoặc tiếp tục thuê tài
sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê
các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng. Hình thức này giúp người thuê có
ngay tài sản có giá trị lớn để phục vụ cho sản xuất nhưng người thuê phải trả lãi suất
quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không
thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Muốn vạy khách hàng phải có được sự đồng ý
của Ngân hàng, nó phải tuân theo một qui trình bảo lãnh riêng. Khi Ngân hàng thực
hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng thì Ngân hàng được hưởng một khoản phí gọi là
phí bảo lãnh, mức phí này tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của từng hợp đồng bảo lãnh.
Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn đầu tư
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về
quản lý tài chính vì vậy có rất nhiều cá nhân và doanh nghệp đã nhờ Ngân hàng quản
lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về
quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.
13
Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Với trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên và hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật, Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng các thông tin về chứng khoán và đầu tư
chứng khoán như các danh mục đầu tư, quản lý tài khoản, mua bán hộ, bảo quản
chứng khoán…
Cung cấp dịch vụ đại lý :
Nhiều Ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc
văn phòng ở khắp mọi nơi, nhiều Ngân hàng (thường là các Ngân hàng lớn) cung cấp
dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành chứng chỉ tiền
gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại :
1.2.1. Khái niệm hoạt động tín dụng
Khái niệm tín dụng đã có từ rất lâu đời, khi bắt đầu có sự phân công lao động xã
hội dẫn tới phát sinh các quan hệ trao đổi và thanh toán do nhu cầu của con người. Ban
đầu hình thức cấp tín dụng chỉ là mua chịu bán chịu các hàng hóa, sau phát triển thành
hình thức vay mượn tiền tệ giữa các chủ thể và ngoài khoản vốn vay ban đầu còn phải
trả thêm một khoản lãi phát sinh. Có thể đơn giản hiểu tín dụng là sự chuyển nhượng
một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một khoảng thời gian
nhất định thì sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Lượng giá trị
như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,
nhiên liệu…
Cho vay các định chế tài chính: Bao gồn cấp tín dụng cho các ngân hàng,
công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín
dụng và các định chế tài chính khác.
Cho vay cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi
phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm 2 loại cho thuê
vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và
động sản, trong đó chủ yếu là máy móc - thiết bị.
Căn cứ vào thời hạn cho vay :
Theo căn cứ này cho vay được chia làm 3 loại sau:
Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử
15
dụng để bù đắp sự thiết hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung hạn: Loại cho vay này có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5
năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản
cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh
doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn
nhanh.
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn
là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây
dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các
xí nghiệp mới.
Căn cứ mức độ tín nhiệm đối với khách hang :
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ 3, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
cạnh sau:
Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế.
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn
vay. Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi
vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn được
từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân
hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh
của mình, doanh nghiệp phải chọ dự án có mức sinh lãi cao nhất. Để các dự án khả thi,
doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động
kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự
án, phương án.
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát sử
dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử
dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó
góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ
giúp cho doanh nghiệp lường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng
vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục
17
của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ
chế phân phối vốn một cách có hiệu quả.
Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần
thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó. Vì vậy,
luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn. Nguồn vốn doanh
nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân
sách được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh
nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của
dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu.
Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các
chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu
cầu của người sử dụng.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu : chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một
cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) trong quan hệ
tín dụng, đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng,
phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội.
Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì chất lượng tín
dụng là khoản tín dụng được bảo đảm an toàn, sử dụng đúng mục đích,
phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi
đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ
thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành
mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển.
Xét trên góc độ lợi ích của khách hàng thì khoản tín dụng có chất lượng là
phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp
lý, thủ tục tín dụng đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng
nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng.
Đối với nền kinh tế, khoản tín dụng có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt
động kinh doanh, tiêu dùng hợp pháp, góp phần phục vụ sản xuất, lưu
thông hàng hoá, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng các cơ sở hạ
tầng kinh tế xã hội, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế,
thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất, giải quyết tốt
mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
19
Chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối, nó vừa cụ thể ( thể hiện thông
qua một số chỉ tiêu định lượng được như dư nợ, nợ quá hạn ) vừa trừu tượng (thể
hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế )
Hơn nữa chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của
ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
Chất lượng tín dụng trung dài hạn cũng không nằm ngoài khái niệm chất lượng
tham gia vào nhiều nghiệp vụ thanh toán. Ngược lại chứng tỏ ngân hàng hoạt động
kém, khả năng cho vay thấp, vốn ứ đọng nhiều. Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa đầu
vào và đầu ra về mặt vốn của một ngân hàng người ta đưa ra chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
vốn vay.
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với
khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động.
Chưa thể nói được chỉ tiêu này càng lớn hay càng thấp là tốt, vì nếu tiền gửi ít hơn tiền
vay thì ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn có chi phí cao hơn, nếu tiền gửi nhiều hơn
tiền vay, ngân hàng sẽ thừa vốn, số vốn thừa coi như lỗ. Tuy nhiên nếu mọi khoản vay
đều có hiệu quả thì tỉ lệ này >= 1 là tốt nhất.
Ngoài chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, khi phân tích người ta còn sử dụng chỉ tiêu
nữa là mức độ luân chuyển của vốn .
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lý, khai thác vốn tín dụng, đồng thời
thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín
dụng và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá chính xác chất lượng tín
dụng, các tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất trong việc áp dụng đối với từng loại
cho vay cụ thể. Tỷ lệ này lớn chứng tỏ khả năng sử dụng vốn của ngân hàng là tốt, vốn
ít bị ứ đọng.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ đã đến
hạn hoàn trả nhưng khách hàng không có khả năng hoàn trả cho ngân hàng. Tỷ lệ nợ
21
quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng cho phép đánh giá chất lượng tín dụng Theo quy
định chung của NHNN, các ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ≥7% được
xem là ngân hàng yếu kém. Nếu chỉ số này ≤ 5% ngân hàng đó được đánh giá là ngân
hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng cho vay cao và được nhận nhiều thang điểm
trong bảng xếp hạng ngân hàng.
Trong loại chỉ tiêu này chia làm 2 loại:
Đây là các khoản nợ có vấn đề đối với ngân hàng thể hiện chất lượng tín dụng
của khoản vay kém chất lượng. Nếu ngân hàng không có biện pháp để xử lý khoản nợ
này thì sẽ có thể phải gánh chịu các tổn thất.
nghiệp hoàn trả được vốn vay ngân hàng cả gốc và lãi, nên hoạt động tín dụng của
ngân hàng phát triển, chất lượng tín dụng được nâng cao. Ngược lại trong thời kỳ suy
thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao,
nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả
hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng ngân hàng giảm sút về quy
mô và chất lượng.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng đến chất lượng
tín dụng, lợi tức của ngân hàng thu được bị giới hạn bởi lơị nhuận của doanh nghiệp sử
dụng vốn vay ngân hàng, nên với mức lãi suất cao các doanh nghiệp vay vốn ngân
hàng không có khả năng trả nợ ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nói riêng và tới toàn bộ nền kinh tế nói chung. Hoạt động tín dụng ngân hàng lúc này
không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và chất lượng tín
dụng cũng giảm sút.
Ngoài ra những sự biến động về lãi suất thị trường, tỷ giá thị trường cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến lãi suất của ngân hàng. Bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính
Đông Nam á đã cho thấy sự mất giá của đồng nội tệ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
tín dụng ngân hàng.
• Nhóm nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là một hệ thống luật và văn bản pháp quy liên
24
quan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
Trong nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, pháp luật có vai trò quan
trọng, là một hàng rào pháp lý tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng thuận lợi,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, nhà nước, cá nhân công dân,
bắt buộc các chủ thể phải tuân theo.
Nhân tố pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đó là sự đồng bộ thống nhất
của hệ thống pháp luật, ý thức tôn trọng chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của
pháp luật và cơ chế đảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh triệt để.
Quan hệ tín dụng phải được pháp luật thừa nhận, pháp luật quy định cơ chế hoạt