Biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh lê chân - Pdf 34

MỤC LỤC

1

1


DANH MỤC HÌNH

2

2


DANH MỤC BẢNG

3

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu
vốn đã trở nên vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết
bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hoạt động của các ngân hàng thương mại đã
trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển đó. Kể từ khi chuyển từ
hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, các ngân hàng thương
mại (NHTM) Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại
hình, mạng lưới, quy mô hoạt động và năng lực tài chính, góp phần tăng trưởng kinh
tế, ổn định giá trị đồng tiền. Ngoài hệ thống ngân hàng quốc doanh còn có các ngân

định chọn đề tài "Biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam – Chi nhánh Lê Chân" để làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn thạc sĩ của mình.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu chung
Chất lượng tín dụng có quan hệ mật thiết đến rủi ro trong hoạt động tín dụng,
nó ảnh hưởng quyết định tới tài sản có của ngân hàng. Nâng cao chất lượng tín dụng
cũng là góp phần quan trọng làm giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh cho ngân hàng.
Do đó, mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh
Lê Chân và tìm các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng nhằm đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng và phòng ngừa rủi ro phát sinh.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá và bổ sung lý luận về chất lượng tín dụng của NHTM.
- Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam – Chi nhánh Lê Chân
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi
nhánh Lê Chân đến năm 2016.
5

5


3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam – Chi nhánh Lê Chân.
3.2. Phạm vi nghiên cứu

CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
NHTM ra đời cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Với chức năng là
nhà trung gian tài chính, làm cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền nên hệ
thống ngân hàng đã trở thành một ngành kinh tế huyết mạch, là động lực thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế.
Đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có các định nghĩa
khác nhau về NHTM.
Xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, Giáo
sư Peter S.Rose định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế” [02].
Xét trên các hoạt động chủ yếu của NHTM, theo luật các tổ chức tín dụng
năm 2010 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện
tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác xã.” [01].
Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể thấy ngân hàng thương mại là doanh
nghiệp hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với các nghiệp vụ chủ yếu là huy
động vốn và cho vay. Ngoài ra NHTM còn thực hiện chức năng thanh toán và cung
cấp nhiều dịch vụ khác.
Ngày nay, trên thị trường tài chính, tiền tệ các loại hình tổ chức tham gia
hoạt động đan xen một cách đa dạng và phong phú, một số loại hình tổ chức tín
7

7



8


tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong các
hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn
dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đời sống.
- Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân
hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo
lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân
hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương
mại.
Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các
giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các
thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài
chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức
và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
1.1.2.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua
ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàng trong và
ngoài nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân
hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng
Nhà nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi

Tham gia thị trường tiền tệ - Ngân hàng thương mại được tham gia thị
trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức
mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ.

10

10


Kinh doanh ngoại hối – Ngân hàng thương mại được pháp kinh doanh hoặc
thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
Ủy thác và nhận ủy thác – Ngân hàng thương mại được ủy thác, nhận ủy
thác làm đại lý trong các lính vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc
quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng
ủy thác, đại lý.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm – Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch
vụ bảo hiểm, đươch thanh lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo
hiểm theo quy định của pháp luật.
Tư vấn tài chính – Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư
vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập
công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng.
Bảo quản vật quý giá – Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ
bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên
quan theo quy định của pháp luật.
1.2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại rất lâu đời trong xã hội loài người. Tín
dụng theo gốc Latinh “Creditum”, là sự tin tưởng, tín nhiệm, tên gọi này xuất phát
từ bản chất quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng người cho vay sẽ cho người

khác nhau ta có các hình thức tín dụng khác nhau.
1.2.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Căn cứ theo tiêu thức này người ta chia tín dụng thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và các
nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đây là loại hình tín dụng ít rủi ro cho ngân
hàng vì trong một thời gian ngắn ít có những biến động xảy ra và ngân hàng thường
luôn dự tính được những biến động đó. Tín dụng ngắn hạn bao gồm chiết khấu, thấu
chi, tín dụng ứng trước và tín dụng bổ sung vốn lưu động.

12

12


- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại tín
dụng này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi
mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có
quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn lớn hơn 5 năm được sử dụng
để cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các nhà máy mới, các
công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay…). Loại tín
dụng này thường có mức độ rủi ro lớn do khó lường trước được những biến động có
thể xảy ra.
1.2.2.2. Căn cứ vào mục đích tín dụng
Căn cứ theo tiêu thức này người ta chia tín dụng thành hai loại:
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là hình thức cấp tín dụng phục vụ
quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh, nó được áp
dụng khá phổ biến trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu mua sắm nhà cửa,

nữa, NHTM có thể tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản với chi phí thấp.
- Cho vay: là loại hình thông dụng nhất trong hoạt động tín dụng, nó có
nghĩa là ngân hàng cho khách hàng vay tiền để phục vụ cho những mục đích khác
nhau của khách hàng. Cho vay có các loại sau:
+ Thấu chi: “là một kỹ thuật cấp tín dụng cho khách hàng theo đó ngân hàng
cho phép khách hàng chi vượt số dư có trên tài khoản thanh toán của khách hàng để
thực hiện các giao dịch thanh toán kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời
sống” [04].
+ Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều
kiện để cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín
dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc
biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn
nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
14

14


+ Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho
khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ,
đó là số dư tín dụng tối đa mà ngân hàng cấp cho khách hàng.
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng cho doanh nghiệp vay
để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp thu tiền bán hàng.
+ Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả làm nhiều lần gốc và lãi trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả
góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn tài trợ cho tài sản
cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán phù hợp với khả năng

vốn tài trợ từ bên ngoài như: ngân hàng, doanh nghiệp khác. Trong đó vốn tín dụng
ngân hàng vẫn là nguồn tài trợ có hiệu quả hơn cả, bởi vì nó thoả mãn nhu cầu về số
lượng và thời hạn, đồng thời chi phí sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thường thấp
hơn chi phí sử dụng các nguồn vốn khác.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người
thừa vốn và người thiếu vốn. Vì ngân hàng luôn thu hút tập trung mọi nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản
xuất, tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững. Trong
quá trình hoạt động đó, ngân hàng thu được lợi tức từ hoạt động cho vay để duy trì
phát triển hoạt động của chính bản thân mình. Tuy vậy, trong cơ chế thị trường hiện
nay, huy động và cho vay bao nhiêu, có đáp ứng được hay không đáp ứng được yêu
cầu của nền kinh tế, thu hồi vốn có đúng hạn hay không là vấn đề được đặt lên hàng
đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó, mỗi ngân hàng cần phải có
nghệ thuật trong kinh doanh, phải tìm mọi biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút tối đa
nguồn vốn với chi phí thấp nhất để cho vay. Có thể nói, tín dụng ngân hàng góp
phần quan trọng vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, đẩy nhanh tốc độ
chu chuyển tiền tệ trong xã hội.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
Trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ để tái sản xuất, mở rộng hoạt
động, mọi chu kỳ đều phải bắt đầu bằng tiền và kết thúc bằng tiền. Do đó, để tăng
16

16


nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải tìm kiếm và thực hiện nhiều
biện pháp như cải tiến kỹ thuật, tìm kiếm thị trường mới...Tất cả những công việc
trên đòi hỏi phải có nhiều vốn mà tín dụng ngân hàng là nguồn cung ứng vốn cho
các nhu cầu đó một cách đầy đủ và kịp thời nhất. Mặt khác, vốn ngân hàng cung

hạch toán kinh tế, tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước, nó giải quyết mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế, thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, để tín dụng ngân hàng phát huy được
hết vai trò của nó thì các nhà quản lý ngân hàng, các cơ quan chức năng phải tạo ra
một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho cả
người vay và người đi vay trong nền kinh tế.
1.3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng
Chất lượng của sản phẩm, dịch vụ được hiểu là toàn bộ tính năng của sản
phẩm, dịch vụ phù hợp với điều kiện quy định nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu xã
hội. Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ là một trong những nhiệm vụ quan
trọng nhất của các doanh nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh,
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết cần phải nâng cao chất lượng
sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.
Chất lượng tín dụng được hiểu một cách khái quát nhất đó là sự đáp ứng nhu
cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín dụng cung cấp sản
phẩm tín dụng đó.
Theo từ điển Weekipedia thì: “Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh
mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản ánh
về chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu nhưng nói chung người ta thường quan
tâm đến: tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo”.
Trong thực tế, xuất phát từ bản chất của tín dụng là mối quan hệ giữa người
vay và người cho vay, liên quan đến nhiều chủ thể kinh tế và có vai trò cực kỳ to
lớn trong nền kinh tế nên chất lượng tín dụng được đề cập dưới nhiều góc độ khác
nhau:
18

18

19

19


phát triển của ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai
phía là ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy chất lượng tín dụng ngân hàng không
những phụ thuộc vào bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động
kinh doanh của khách hàng.
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu
có thể tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn…), vừa trừu tượng (thể
hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế…). Chất lượng tín
dụng vừa chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ,
đạo đức của cán bộ ngân hàng và khách hàng…) và khách quan (sự thay đổi của
môi trường kinh tế xã hội như khuynh hướng phát triển kinh tế, môi trường pháp
lý…).
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh mức độ
thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức
mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
1.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM
Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng, các cơ quan quản lý, các nhà
quản lý ngân hàng khi đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng đã sử dụng rất nhiều
các chỉ tiêu khác nhau. Nhìn chung, khi đánh giá chất lượng tín dụng người ta
thường dùng các chỉ tiêu định tính và định lượng.
1.3.3.1. Chỉ tiêu định tính
Là những chỉ tiêu mang tính tương đối, rất khó xác định thường được dùng để
đánh giá chất lượng tín dụng một cách khái quát. Các chỉ tiêu định tính thường bao
gồm:
Thứ nhất, đó là việc đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc cho vay nhằm
hạn chế đến mức tối đa rủi ro cho ngân hàng và thực hiện tốt các chính sách của Nhà

hàng, hoạt động tín dụng yếu kém, khả năng tiếp thị khách hàng chưa tốt. Tuy nhiên
không phải chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng tốt bởi lẽ khi ngân
hàng cho vay vượt quá mức giới hạn cũng là lúc ngân hàng bắt đầu chấp nhận
những rủi ro về tín dụng. Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng đồng thời
cũng phản ánh uy tín của ngân hàng. Khi so sánh tổng dư nợ của ngân hàng với thị
21

21


phần tín dụng của ngân hàng sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao
hay thấp.
- Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của
NHTM ở một thời điểm nhất định thường là cuối tháng, cuối quí, cuối năm. Đây
là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của một NHTM. Tỷ lệ nợ
quá hạn thấp biểu hiện chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng có độ an toàn
cao tức là mức độ rủi ro thấp. Tuy vậy, trên thực tế để đánh giá chính xác hơn chất
lượng hoạt động tín dụng của một ngân hàng thì người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn
thành hai loại: tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn không có
khả năng thu hồi. Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhưng trong đó bao nhiêu
phần trăm là nợ có khả năng thu hồi và bao nhiêu phần trăm là nợ không có khả
năng thu hồi, khi đó ta mới có thể đánh giá chính xác được chất lượng tín dụng
của ngân hàng.
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
Theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Thông
tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam thì: “Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là hệ thống gồm các bộ chỉ tiêu tài

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ
- Thu nhập từ hoạt động cho vay
Hoạt động tín dụng tuy chứa nhiều rủi ro nhưng là hoạt động mang lại thu nhập
chính cho ngân hàng. Do vậy, chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý
nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Thu nhập từ hoạt
động cho vay là chỉ tiêu cần thiết để đo khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động
tín dụng mang lại. Chính vì vậy, ngoài việc giảm tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu ngân
hàng còn phải tăng được thu nhập từ hoạt động cho vay.
- Hiệu suất sử dụng vốn

23

23


Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ vốn cho vay trong tổng nguồn vốn huy động. Nó
xem xét, đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng về vốn của
bản thân ngân hàng cũng như của nền kinh tế hay chưa.
Hiệu suất sử dụng vốn = tổng dư nợ/ tổng vốn huy động.
Tỷ lệ này trên thực tế giao động từ 30% đến 100%. Thông thường vào khoảng trên
80% là tốt, còn nếu dưới hoặc trên mức đó, thậm chí xấp xỉ 100% có thể sẽ gây ảnh
hưởng không tốt tới ngân hàng. Lúc đó tính thanh khoản của ngân hàng sẽ bị đe dọa
do khối lượng dự trữ không được đảm bảo.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
Có rất nhiều nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng ngân hàng nhưng
chung quy lại có thể phân thành 3 nhóm nhân tố chủ yếu là: các nhân tố về môi
trường hoạt động, các nhân tố từ phía khách hàng vay vốn và các nhân tố từ ngân
hàng.
1.3.4.1. Các nhân tố về môi trường hoạt động
- Môi trường kinh tế

chung và chất lượng tín dụng nói riêng. Một hệ thống pháp luật đồng bộ cộng với ý
thức tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể tham gia trong
quan hệ tín dụng chính là cơ sở đảm bảo cho chất lượng tín dụng được nâng cao.
Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ của các doanh nghiệp. Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu, chính
sách khuyến khích, hạn chế đầu tư đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, của ngân hàng và từ đó tác động đến chất lượng tín dụng.
1.3.4.2. Các nhân tố thuộc về phía khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay ngân hàng để phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống của mình do vậy mà chất
lượng tín dụng ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ phía khách hàng. Một khách
hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập ổn định
sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay của ngân hàng khi đến hạn, qua
đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng. Các khách hàng lớn của
ngân hàng thông thường là các doanh nghiệp. Những nhân tố thuộc về phía khách
hàng tác động đến chất lượng tín dụng bao gồm:
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status