Biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh lê chân - Pdf 36

PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu
vốn đã trở nên vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết
bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hoạt động của các ngân hàng thương mại đã
trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển đó. Kể từ khi chuyển từ
hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, các ngân hàng thương
mại (NHTM) Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại
hình, mạng lưới, quy mô hoạt động và năng lực tài chính, góp phần tăng trưởng kinh
tế, ổn định giá trị đồng tiền. Ngoài hệ thống ngân hàng quốc doanh còn có các ngân
hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh,… Các nghiệp vụ cũng đổi mới và
từng bước hiện đại hóa, tiếp cận với công nghệ và thông lệ quốc tế. Với hoạt động tín
dụng và các dịch vụ đa dạng, ngân hàng đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của khách
hàng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, sự hội nhập vào
kinh tế quốc tế. Ngày nay ngân hàng đã trở thành một mắt xích quan trọng cấu thành
nên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế. Cùng với các ngành kinh tế khác ngân
hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát,
tạo môi trường đầu tư thuận lợi, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Tuy nhiên trong bối cảnh môi trường kinh tế vĩ mô đang trong thời kỳ chưa ổn
định, môi trường pháp lý đang dần được hoàn thiện nên hoạt động kinh doanh của
các NHTM đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là chất lượng tín dụng chưa cao mà
biểu hiện là nợ quá hạn, nợ khó đòi còn lớn. Việc phân tích một cách chính xác, khoa
học các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng, để từ đó đề ra những giải pháp hữu
hiệu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến
lược lâu dài và được nhiều người quan tâm tới. Nói như vậy bởi lẽ, trong điều kiện
hiện nay hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất, chủ yếu nhất trong toàn bộ các
hoạt động của NHTM. Hoạt động đó đã tạo ra phần lớn tài sản trong tổng tài sản của
1


các NHTM và là hoạt động tạo ra nguồn thu nhập chính của mỗi NHTM dưới hình

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam – Chi nhánh Lê Chân.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chất lượng tín dụng là một khái niệm rất rộng được nhìn nhận từ nhiều góc
độ khác nhau, từ phía ngân hàng thương mại, từ phía khách hàng và từ phía Nhà
nước. Trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung xem xét từ hai góc độ chính đó là: thực
trạng chất lượng dư nợ tín dụng của ngân hàng và sự đánh giá của khách hàng về
chất lượng sản phẩm tín dụng do ngân hàng cung cấp.
Đề tài chọn địa điểm nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam – Chi nhánh Lê Chân.
Về mặt thời gian đề tài sẽ phân tích đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động
tín dụng tại Chi nhánh trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến 2015 và đề xuất giải
pháp nâng cao chất lượng tín dụng giai đoạn 2016.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, bao gồm các phương pháp như:
duy vật biện chứng, các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, đi từ cơ sở lý
thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết, làm sáng tỏ mục đích đặt ra trong luận văn.
5. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo kết cấu
luận văn có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng tín dụng của Ngân
hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam - Chi nhánh Lê Chân.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam - Chi nhánh Lê Chân.
3



dụng khác(tổ chức tín dụng phi ngân hàng) cũng thực hiện một số nghiệp vụ của
ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, các tổ chức này không nhận tiền gửi không kỳ
hạn và không làm dịch vụ thanh toán. Đó chính là tiêu chí để phân biệt NHTM với
các tổ chức tín dụng khác.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu, quan trọng
nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện
các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách
hàng. Ngân hàng thường huy động vốn từ:
- Nguồn vốn tự có: Đây là nguồn hình thành ban đầu từ mỗi ngân hàng, tuỳ
theo loại hình ngân hàng mà nguồn hình thành khác nhau. Trong quá trình hoạt
động, ngân hàng sẽ gia tăng vốn theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào
điều kiện cụ thể như: nguồn từ lợi nhuận không chia, nguồn bổ sung từ phát hành cổ
phiếu...
- Nguồn vốn từ huy động tiền gửi: “Nguồn vốn quan trọng nhất của một
ngân hàng- tài sản nợ của nó là từ tiền gửi của khách hàng” [03]. Khi một ngân
hàng bắt đầu hoạt động thì nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ
và thanh toán cho khách hàng, cũng nhờ đó ngân hàng huy động tiền của các doanh
nghiệp, các tổ chức và của dân cư. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản
tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và
giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng trả lãi tiền gửi như là phần thưởng
cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh tiêu dùng trước mắt để cho ngân hàng sử
dụng tạm thờinguồn vốn để kinh doanh.
1.1.2.2. Hoạt dộng tín dụng
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình
thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê

5

6


mở tài khỏan tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ
sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương
mại bao gồm các hoạt động sau:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho
phép
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh tóan liên
ngân hàng trong nước
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho
phép.
1.1.2.4.Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung
cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện
một số hoạt động khác bao gồm:
Góp vốn và mua cổ phần – Ngân hàng thương mại được dung vốn điều lệ
và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín
dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng thương mại
còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành
lập ngân hàng liên doanh.
Tham gia thị trường tiền tệ - Ngân hàng thương mại được tham gia thị
trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức
mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ.

Quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các tổ chức, cá
nhân trong xã hội gọi là tín dụng ngân hàng, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là
8


người đi vay vừa là người cho vay. Với vai trò là người đi vay, ngân hàng sẽ thực
hiện tìm kiếm, thu hút vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn xã
hội, là người đi vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các tổ chức cá nhân khi có
nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu
dung. Ngân hàng đã thực hiện phân phối lại vốn tiền tệ từ nơi tạm thời thừa vốn đến
nơi tạm thời thiếu vốn.
Theo Luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 06/06/2010, cấp tín dụng là
việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép
sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, các nghiệp vụ tín
dụng khác. [01]
Như vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng,đó
là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các
TCTD với các pháp nhân và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có
lãi.
1.2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng và
đa dạng, việc phân loại chỉ có tính chất tương đối. Trên cơ sở các căn cứ phân loại
khác nhau ta có các hình thức tín dụng khác nhau.
1.2.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Căn cứ theo tiêu thức này người ta chia tín dụng thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và các
nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đây là loại hình tín dụng ít rủi ro cho ngân
hàng vì trong một thời gian ngắn ít có những biến động xảy ra và ngân hàng thường

chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.
1.2.2.4. Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng
Căn cứ theo tiêu thức này có thể chia tín dụng thành 4 loại:
10


- Chiết khấu thương phiếu.Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá
trình mua bán chịu hàng hoá và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người
bán(người thụ hưởng) có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người
mua(người phải trả) hoặc mang đến ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn.
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân
hàng và những người ký tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách hàng, ngân
hàng thường ký với khách hàng hợp đồng chiết khấu. Khi cần chiết khấu khách hàng
chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ kiểm tra chất
lượng của thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết trả
tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của chiết khấu thương phiếu tương đối cao(trừ
trường hợp ngân hàng thực hiện chiết khấu miễn truy đòi đối với khách hàng). Hơn
nữa, NHTM có thể tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản với chi phí thấp.
- Cho vay: là loại hình thông dụng nhất trong hoạt động tín dụng, nó có
nghĩa là ngân hàng cho khách hàng vay tiền để phục vụ cho những mục đích khác
nhau của khách hàng.Cho vay có các loại sau:
+ Thấu chi:“là một kỹ thuật cấp tín dụng cho khách hàng theo đó ngân hàng
cho phép khách hàng chi vượt số dư có trên tài khoản thanh toán của khách hàng để
thực hiện các giao dịch thanh toán kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời
sống” [04].
+ Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều
kiện để cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín

không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.Bảo lãnh có 3 bên: bên nhận bảo lãnh,
bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh của ngân hàng có nghĩa là ngân hàng
là bên bảo lãnh, khách hàng của ngân hàng là bên được bảo lãnh và người nhận bảo
lãnh là bên thứ ba.
1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng
12


Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.Hoạt động
tín dụng có chất lượng sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo ra
sự ổn định trong lưu thông tiền tệ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò
của tín dụng ngân hàng cũng ngày một tăng lên,thể hiện:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ có hiệu quả cho nền kinh tế.
Trong nền kinh tế các doanh nghiệp hoạt động SXKD dựa trên nguồn vốn tự có và
vốn tài trợ từ bên ngoài như: ngân hàng, doanh nghiệp khác. Trong đóvốn tín dụng
ngân hàng vẫn là nguồn tài trợ có hiệu quả hơn cả, bởi vì nó thoả mãn nhu cầu về số
lượngvà thời hạn, đồng thời chi phí sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thường thấp
hơn chi phí sử dụngcác nguồn vốn khác.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người
thừa vốn và người thiếu vốn. Vì ngân hàng luôn thu hút tập trung mọi nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản
xuất,tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững. Trong
quá trình hoạt động đó, ngân hàng thu được lợi tức từ hoạt động cho vay để duy trì
phát triển hoạt động của chính bản thân mình. Tuy vậy, trong cơ chế thị trường hiện
nay, huy động và cho vay bao nhiêu, có đáp ứng được hay không đáp ứng được yêu
cầu của nền kinh tế, thu hồi vốn có đúng hạn hay không là vấn đề được đặt lên hàng
đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó, mỗi ngân hàng cần phải có
nghệ thuật trong kinh doanh, phải tìm mọi biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút tối đa
nguồn vốn với chi phí thấp nhất để cho vay. Có thể nói, tíndụng ngân hàng góp
phần quan trọng vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, đẩy nhanh tốc độ

tín dụng sẽ tác động đến lượng tiền trong lưu thông. Do đó, khi Nhà nước muốn
tăng khối lượng tiền trong lưu thông thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng của
các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại.
Thứ sáu, tín dụng ngân hàng góp phần thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng
đầu tư của nền kinh tế.Qua việc cung ứng vốn sẽ góp phần mở rộng đầu tư bằng việc
cấp vốn cho các doanh nghiệp đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ
hạch toán kinh tế, tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh.
14


Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước, nó giải quyết mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế, thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, để tín dụng ngân hàng phát huy được
hết vai trò của nó thì các nhà quản lý ngân hàng, các cơ quan chức năng phải tạo ra
một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho cả
người vay và người đi vay trong nền kinh tế.
1.3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng
Chất lượng của sản phẩm, dịch vụ được hiểu là toàn bộ tính năng của sản
phẩm, dịch vụ phù hợp với điều kiện quy định nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu xã
hội. Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ là một trong những nhiệm vụ quan
trọng nhất của các doanh nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh,
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết cần phải nâng cao chất lượng
sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.
Chất lượng tín dụng được hiểu một cách khái quát nhất đó là sự đáp ứng nhu
cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín dụng cung cấp sản
phẩm tín dụng đó.
Theo từ điển Weekipedia thì: “Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh
mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản ánh

cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục
vụ tăng trưởng và phát triển.
Như vậy, chất lượng tín dụng là mức độ thoả mãn nhu cầu và hiệu quả của
nền kinh tế, của người đi vay và người cho vay trong quan hệ tín dụng.
1.3.2. Đặc điểm của chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền
và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại,
phát triển của ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai
phía là ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy chất lượng tín dụng ngân hàng không
16


những phụ thuộc vào bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động
kinh doanh của khách hàng.
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu
có thể tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn…), vừa trừu tượng (thể
hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế…). Chất lượng tín
dụng vừa chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ,
đạo đức của cán bộ ngân hàng và khách hàng…) và khách quan (sự thay đổi của
môi trường kinh tế xã hội như khuynh hướng phát triển kinh tế, môi trường pháp
lý…).
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh mức độ
thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức
mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
1.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM
Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng, các cơ quan quản lý, các nhà
quản lý ngân hàng khi đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng đã sử dụng rất nhiều
các chỉ tiêu khác nhau. Nhìn chung, khi đánh giá chất lượng tín dụng người ta
thường dùng các chỉ tiêu định tính và định lượng.
1.3.3.1.Chỉ tiêu định tính

Chỉ tiêu này cũng tương tự như chỉ tiêu doanh số cho vay, tuy nhiên nó là chỉ
tiêu phản ánh khối lượng tiền cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm nhất định. Tổng
dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không có khả năng mở rộng được mạng lưới khách
hàng, hoạt động tín dụng yếu kém, khả năng tiếp thị khách hàng chưa tốt. Tuy nhiên
không phải chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng tốt bởi lẽ khi ngân
hàng cho vay vượt quá mức giới hạn cũng là lúc ngân hàng bắt đầu chấp nhận
những rủi ro về tín dụng. Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng đồng thời
cũng phản ánh uy tín của ngân hàng. Khi so sánh tổng dư nợ của ngân hàng với thị
phần tín dụng của ngân hàng sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao
hay thấp.
- Tỷ lệ nợ quá hạn
18


Tỷ lệ nợ quá hạn= Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của
NHTM ở một thời điểm nhất định thường là cuối tháng, cuối quí, cuối năm. Đây
là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của một NHTM. Tỷ lệ nợ
quá hạn thấp biểu hiện chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng có độ an toàn
cao tức là mức độ rủi ro thấp. Tuy vậy, trên thực tế để đánh giá chính xác hơn chất
lượng hoạt động tín dụng của một ngân hàng thì người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn
thành hai loại: tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn không có
khả năng thu hồi.Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhưng trong đó bao nhiêu
phần trăm là nợ có khả năng thu hồi và bao nhiêu phần trăm là nợ không có khả
năng thu hồi, khi đó ta mới có thể đánh giá chính xác được chất lượng tín dụng
của ngân hàng.
- Nợ xấu và tỷ lệ nợxấu trên tổng dư nợ.
Theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Thông
tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt

- Thu nhập từ hoạt động cho vay
Hoạt động tín dụng tuy chứa nhiều rủi ro nhưng là hoạt động mang lại thu nhập
chính cho ngân hàng. Do vậy, chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý
nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.Thu nhập từ hoạt
động cho vay là chỉ tiêu cần thiết để đo khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động
tín dụng mang lại. Chính vì vậy, ngoài việc giảm tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu ngân
hàng còn phải tăng được thu nhập từ hoạt động cho vay.
- Hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ vốn cho vay trong tổng nguồn vốn huy động. Nó
xem xét, đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng về vốn của
bản thân ngân hàng cũng như của nền kinh tế hay chưa.
Hiệu suất sử dụng vốn = tổng dư nợ/ tổng vốn huy động.

20


Tỷ lệ này trên thực tế giao động từ 30% đến 100%. Thông thường vào khoảng trên
80% là tốt, còn nếu dưới hoặc trên mức đó, thậm chí xấp xỉ 100% có thể sẽ gây ảnh
hưởng không tốt tới ngân hàng. Lúc đó tính thanh khoản của ngân hàng sẽ bị đe dọa
do khối lượng dự trữ không được đảm bảo.
1.3.4. Các nhân tốảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
Có rất nhiều nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng ngân hàng nhưng
chung quy lại có thể phân thành 3 nhóm nhân tố chủ yếu là: các nhân tố về môi
trường hoạt động, các nhân tố từ phía khách hàng vay vốn và các nhân tố từ ngân
hàng.
1.3.4.1. Các nhân tố về môi trường hoạt động
- Môi trường kinh tế
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn có quan hệ mật thiết với nền kinh tế,
từng giai đoạn và biến cố kinh tế đều có những tác động đến hoạt động của ngân
hàng.Nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp, không có khủng hoảng, hoạt động sản xuất

chính sách khuyến khích, hạn chế đầu tư đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, của ngân hàng và từ đó tác động đến chất lượng tín
dụng.
1.3.4.2. Các nhân tố thuộc về phía khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay ngân hàng để phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống của mình do vậy mà chất
lượng tín dụng ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ phía khách hàng.Một khách
hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập ổn định
sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay của ngân hàng khi đến hạn, qua
đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượngtín dụng. Các khách hàng lớn của ngân
hàng thông thường là các doanh nghiệp. Những nhân tố thuộc về phía khách hàng
tác động đến chất lượng tín dụng bao gồm:
- Vốn và khả năng tài chính của khách hàng
Vốn và khả năng tài chính của khách hàng là cơ sở nền tảng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có nguồn vốn
22


lớn, có sự tự chủ, ít phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng sẽ có khả năng trả nợ ngân hàng
cao hơn doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng.
-Trình độ khả năngcủa đội ngũ lãnh đạo và cán bộ của các doanh nghiệp là khách
hàng vay vốn
Đây là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị
trường để doanh nghiệp đứng vững được đòi hỏi phải giải quyết tốt 3 vấn đề: sản
xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Trong điều kiện trình độ sản
xuất phát triển nhu cầu tiêu dùng thường xuyên thay đổi, môi trường cạnh tranh gay
gắt với những nguồn lực hạn chế thì quyết định trong kinh doanh càng khó, nó đòi
hỏi tập thể người lao động mà đặc biệt là cán bộ lãnh đạo phải có kiến thức, kinh
nghiệm và trình độ để có thể đưa ra được quyết định đúng đắn, đảm bảo hoạt động
sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

- Chiến lược phát triển của ngân hàng
Chiến lược phát triển của ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Một chiến lược phát triển đúng
đắn, phù hợp sẽ đảm bảo cho ngân hàng phát triển một cách bền vững. Ngược lại
một chiến lược không phù hợp sẽ làm chậm tiến độ phát triển hoặc có thể dẫn đến
khó khăn như kinh doanh thua lỗ, phá sản…
- Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một ngân hàng là hệ thống các biện pháp liên quan
đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, định hướng tín dụng theo ngành nghề…Chính
sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một ngân hàng. Một chính
sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời
của hoạt động tín dụng. Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng cao đều
phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của mình và xu hướng của thị
trường.
- Mô hình tổ chức quản lý của ngân hàng
Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp
chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong ngân hàng,
24


giữa các ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệ thống cũng như với các cơ quan liên
quankhác,tạo điều kiện cho ngân hàng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng
đồng thời giúp ngân hàng theo dõi, quản lý tốt các khoản vốn huy động cũng như
các khoản cho vay từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng
nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung. Kinh tế càng phát triển, các quan
hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì yêu cầu trình độ của
người lao động ngày càng cao. Đội ngũ cán bộ ngân hàng có chuyên môn nghiệp vụ
giỏi, có đạo đức, có năng lực trong việc quản lý đơn xin vay, thẩm định, đánh giá tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status