Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
MỤC LỤC
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
1
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
2
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
tại NHCT Ba Đình.
•
Phương pháp nghiên cứu.
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
3
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Phương pháp thu thập số liệu từ các báo cáo tài chính, những thông tin qua trao
đổi với cán bộ chuyên môn trong công ty để đảm báo thông tin được thu thập là chính
xác, đầy đủ và mang tính thực tiễn.
Phương pháp xử lý số liệu: phân loại, tính toán số liệu để tìm ra các chỉ tiêu
giải quyết vấn đề. Sau đó phân tích, lý luận, tổng hợp thông tin để đưa ra giải pháp
kiến nghị.
Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài này được thực hiện tại Ngân hàng Công thương Ba Đình, chỉ xem xét các
chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
tại chi nhánh.
Số liệu phân tích chủ yếu trong 4 năm 2010 - 2011 – 2012 - 2013
•
Đã giúp em hoàn thành bài luận văn này. Một lần nữa gửi lời tri ân!
Chương 1
Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của
Ngân hàng thương mại
1.1 Tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại được hình thành và phát triển qua một quá trình lâu dài và
gắn liền với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Sự ra đời và phát triển của hệ
thống ngân hàng Thương mại gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Cừng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế ngân hàng Thương mại đã và
đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng trở thành trung gian tài chính
lớn nhất trong nền kinh tế.
NHTM có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc các nhiệm vụ mà
chúng thực hiện. Hiện nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về NHTM đã được đưa
ra tuỳ thuộc vào tập quán, luật lệ của mỗi quốc gia, phụ thuộc vào quan điểm của từng
nhà kinh tế học, và sự khác nhau trên mỗi góc độ nghiên cứu ví dụ như:
Tại Mỹ đưa ra khái niệm “NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp
dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính”.
Tại Pháp, theo luật được ban hành vào ngày 13/06/1941: “Ngân hàng là một xí
nghiệp hay cơ sở mà ngành nghề thường xuyên là nhận tiền của dân chúng dưới hình
thưc ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các
nghiệp vu chiết khấu, tín dụng, tài chính.”
Tại nước ta, theo luật TCTD số 47/2010/QH12 “Ngân hàng thương mại là loại
hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Có thể nói rằng, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Như vậy, về mặt bản chất thì NHTM cũng
Sv : Võ Thị Hương
(TCTD) khi đến hạn thanh toán.”
(Nguồn: Tr.52, Giáo trình Kế toán ngân hàng, ĐHCNHN)
Ngày nay, do nhu cầu ngày càng tăng của các thành phần trong nền kinh tế,
nghiệp vụ của các ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển, các hình thức tín
dụng trong ngân hàng theo đó cũng trở nên ngày một phong phú, đa dạng hơn. Theo
luật tổ chức TD thì "Hoạt động TD là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động đế cấp tín dụng".
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng
Quan hệ tín dụng chỉ được diễn ra khi những cá nhân, tổ chức có nhu cầu đi vay
và cho vay vốn gặp nhau trên thị trường với các ràng buộc về không gian thời gian và
các điều kiện khác đã được thoả mãn. Do đó nó mang các đặc trưng cơ bản sau:
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
6
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Thứ nhất: Quan hệ tín dụng ngân hàng phải được xuất phát từ sự tin tưởng hai
chiều giữa chủ thể cho vay là ngân hàng với chủ thể đi vay là khách hàng. Trong đó,
ngân hàng cần tin tưởng vào những khía cạnh như khả năng tài chính của người đi
vay, mong muốn trả nợ... tin tưởng vào khả năng người đi vay sẽ hoàn trả đầy đủ cả
gốc và lãi đúng thời như thời hạn mà hai bên đã cam kết. Ngược lại, ngân hàng đó cần
có tạo dựng được uy tín nhất định đối với người đi vay, giúp người đi vay tin rằng
quy định của ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại.
Sv : Võ Thị Hương
Luận văn tốt nghiệp
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
7
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
1.1.3.1 Mục đích cho vay
Trước khi nhận được khoản vay, ngân hàng phải có một cam kết xác nhận, ghi
rõ mục đích sử dụng của khoản vốn được vay và cam kết thực hiện đúng như mục đích
đã nêu ban đầu. Khách hàng có thể được vay để sử dụng với nhiều mục đích khác
nhau như vay sản xuất, tiêu dùng, đầu tư, bảo lãnh,...nhưng không được sử dụng vào
các mục đích mà ngân hàng và pháp luật nghiêm cấm hoặc có thể nằm ngoài phạm vi
cho phép của ngân hàng, ngoài ra, trong quá trình sử dụng, khác hàng không được
phép tự ý thay đổi mục đích sử dụng dưới mọi hình thức. Trong trường hợp khách
hàng sử dụng sai mục đích, tùy theo mức độ, ngân hàng có thể quyết định đơn phương
ngừng cho vay, thu hồi nợ sớm, phạt tiền, thậm chí khởi kiện trong những trường hợp
gây hậu quả nghiêm trọng.
1.1.3.2 Khả năng sinh lời
Ngân hàng là một trong những tổ chức kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế
với mặt hàng giao dịch chính là tiền tệ - vốn nhận được những sự đòi hỏi đặc biệt về
uy tín, còn gọi là lĩnh vực kinh doanh lòng tin. Chính vì vậy, sinh lời với các ngân
hàng không chỉ mang tính chất cơ bản như bù đắp các chi phí, tổn thất phát sinh trong
quá trình kinh doanh cũng như thu về một mức lợi nhuận chấp nhận được cho chủ sở
hữu, mức sinh lời và sự ổn định, chắc chắn trong sự sinh lời còn được coi như một
trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá uy tín, tạo danh tiếng tốt cho
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.4.1 Với ngân hàng
Tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại thu nhập cho ngân hàng, theo thống kê,
70% chi phí hoạt động phát sinh thông qua các nghiệp vụ tín dụng, đồng thời hoạt
động này cũng đóng góp trung bình khoảng trên 70% thu nhập cho các ngân hàng
thương mại. Qua đó ta thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng ngân hàng, nó
mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Đồng thời tín
dụng ngân hàng cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn, do vậy các ngân hàng thương
mại thường coi vấn đề "Quản trị rủi ro tín dụng" là vấn đề trọng tâm trong công tác
quản trị.
1.1.4.2 Với khách hàng
Tín dụng ngân hàng bắt nguồn từ nhu cầu của thị trường, nó thoả mãn chính
nhu cầu về phương tiện thanh toán của chủ thể đi vay- khách hàng. Thực tế, một khách
hàng với nhu cầu cấp thiết là y tế mà không có nguồn thanh toán lúc đó thì hậu quả sẽ
ra sao? Tương tự khi một nhà kinh doanh đứng trước một cơ hội đầu tư lớn có khả
năng sinh lời cao và độ an toàn cao mà lại bất lực bởi vốn đầu tư thì thiệt hại đó quả
không nhỏ...
Đặc biệt đối với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư lớn, có tổ chức thì việc tiếp
cận với nguồn tín dụng ngân hàng được coi là một nguồn vốn tương đối dễ dàng,
nhanh chóng và chi phí cho việc sử dụng nguồn vốn này tương đối thấp (chi phí đầu
vào cho hoạt động kinh doanh thấp), tức là nó đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh
doanh của họ do vậy nó làm tăng khả năng sinh lời, tăng tính hiệu quả cho những kế
hoạch đầu tư của khách hàng.
1.1.4.3 Với nền kinh tế
Thứ nhất, Tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các doanh
nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất cung ứng
các loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường với mục đích đem lại lợi nhuận. Để tiến hành
sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định bao gồm
cả vốn cố định, vốn lưu động và các nguồn vốn chuyên dụng khác. Vốn là một yếu tố
được quá trình sản xuất kinh doanh hiệu quả, khó phát triển được trên thị trường.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Hoạt động của hàng là trung gian tài chính, tập trung các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi chưa sử dụng nằm phân tán ở dân cư và trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà
nước. Từ đó cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế cần vốn vay, qua hoạt động này đã
góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tạo đòn bẩy để thực hiện tái sản xuất, ứng
dụng công nghệ từ đó nâng cao năng suất sản xuất và hiệu quả kinh tế.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ thực hiện các dự án nhà nước
Nhà nước luôn có các dự án nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện mục
tiêu xóa đói giảm nghèo và các dự án chương trình mang tính xã hội khác. Tuy nhiên,
để thực hiện các dự án phúc lợi xã hội cần một lượng kinh phí lớn nếu chỉ dựa vào
ngân sách nhà nước hoặc trông chờ vào các khoản vay nước ngoài là không đủ. Vì vậy
tín dụng Ngân hàng là nguồn tài trợ cho những phần còn thiếu để phục vụ tốt hơn các
chính sách của chính phủ. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng tài trợ cho các ngành kinh tế
kém phát triển và các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện quan hệ kinh tế với nước ngoài
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
10
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng gia tăng với các biểu hiện mới về vai trò
ngày càng lớn của hoạt động tài chính, tiền tệ. Cùng với sự phát triển cả về chiều rộng
và hiều sâu của quá trình toàn cầu hóa thì tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định.
•
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
11
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
•
•
•
•
•
•
•
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Cho vay theo dự án đầu tư: Khi có nhu cầu đầu tư thực hiện các dự án kinh doanh dịch
vụ, dự án phát triển sản xuất hay các dự án đầu tư cho các công trình công cộng phục
vụ cho lợi ích chung của cả cộng đồng khác, các tổ chức tín dụng và các nhân đóng vai
nghiệp vụ lâu đời nhất, xuất hiện từ thời các ngân hàng thương mại được thành lập,
nhưng nghiệp vụ cho vay cổ điển này của ngân hàng vẫn chiếm vai trò đáng kể và vẫn
được áp dụng rộng rãi cho đến ngày nay.
Xét trên góc độ quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia, có hai loại chiết khấu:
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
12
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Chiết khấu truy đòi: Là hình thức chiết khấu trong đó TCTD mua lại thương phiếu
theo giá trị hiện tại và khi đáo hạn có quyền yêu cầu thanh toán từ người phát hành.
Trong trường hợp người phát hành không có khả năng thanh toán thì TCTD có quyền
truy đòi đến khách hàng vay chiết khấu.
• Chiết khấu miễn truy đòi: Là hình thức chiết khấu trong đó TCTD mua hẳn thương
phiếu theo giá trị hiện tại và khi đáo hạn chỉ có quyền yêu cầu thanh toán từ người
phát hành.
•
Số tiền cho vay chiết khấu (PV) được tính theo công thức toán tài chính, theo đó
PV phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu và thời hạn còn lại của thương phiếu.
PV=FV*(1+i)-n
Trong đó:
•
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Mặc dù hoạt động cho thuê đã trải qua hàng nghìn năm, nhưng cho đến thế kỷ
XX, loại hình nghiệp vụ này mới thực sự được nhìn nhận một cách đáng kể hơn, từng
bước trở thành một ngành kinh doanh thật sự hấp dẫn với các ngân hàng thương mại.
So với các nước trên thế giới hoạt động cho thuê tài chính xâm nhập vào Việt Nam
muộn hơn, hiện nay cả nước ta mới chỉ có khoảng 12 công ty cho thuê tài chính bao
gồm: các công ty cho thuê trực thuộc các ngân hàng thương mại, các công ty liên
doanh và công ty cho thuê 100% vốn nước ngoài.
Hoạt động cho thuê tài chính ra đời là hình thức tài trợ bổ sung, nhằm tạo thêm
những điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong việc hoàn thiện và nâng cao năng
lực cạnh tranh.
1.1.5.4 Bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng được coi là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng
(bên bảo lãnh) cam kết bằng văn bản với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng
không thực hiện đúng nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và trả
nợ cho ngân hàng số tiền đã trả thay.
Các loại bảo lãnh:
•
•
•
•
•
Bảo lãnh vay vốn
do, nhu cầu tín dụng của khách hàng. Ngoài ra, một số yếu tố cơ bản, thiết yếu khác
không thể không nhắc đến như lãi suất và kỳ hạn cần có sự hợp lý, cũng như đảm bảo
thủ tục đơn giản thuận tiện, vừa thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được
nguyên tắc tín dụng.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng được sinh ra nhằm giải quyết, đáp
ứng những yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất cũng nhưng thúc đẩy quá
trình lưu thông, phân phối hàng hóa, qua đó một mặt mang lại công ăn việc làm cho
người dân, một mặt tạo ra những hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội.
Nói rộng hơn, tín dụng giúp thúc đẩy quá trình sản xuất, tạo sự phát triển cho nền kinh
tế.
Đối với bản thân các ngân hàng thương mại: cần đảm bảo các nhân tố như
phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng đã thực hiện phải phù hợp với năng lực của ngân
hàng và đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và
có lãi, hạn chế mức thấp nhất rủi ro trong hoạt động, đồng thời đảm bảo lợi nhuận và
khả năng thanh khoản.
Như vậy, Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, mà dựa trên chỉ tiêu đó,
người ta có thể nhìn ra được sức đề kháng, khả năng thích ứng, biến đổi để bắt kịp với
những đòi hỏi không ngừng tăng của thị trường cũng như thể hiện sức mạnh của ngân
hàng với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành và uy tín, tầm ảnh hưởng của nó với toàn
nền kinh tế
Chất lượng tín dụng ngân hàng là một khái niệm vừa cụ thể (có thể thể hiện qua
các chỉ tiêu định lượng như: kết quả kinh doanh, tỷ lệ nợ quá hạn, hiệu suất sử dụng
vốn vay...) lại vừa mang tính trừu tượng (thể hiện ở khả năng thu hút khách hàng, tác
động đến vấn đề xây dựng hình ảnh thương hiệu cho ngân hàng, tác động của nó đến
nền kinh tế...).
.
Chất lượng tín dụng là kết quả của một quá trình kết hợp hoạt động giữa những
con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì mục đích chung, do đó để
có chất lượng tín dụng cần có sự quản lý đồng bộ trong ngân hàng từ việc theo dõi, tìm
hiểu và loại trừ những nguyên nhân gây ra những cản trở trong việc cấp tín dụng.
Đối với các ngân hàng thương mại, chất lượng tín dụng luôn là yếu tố hàng đầu
quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng:
Chất lượng tín dụng tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các ngân hàng
thương mại do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng vòng quay vốn tín dụng và thu hút
được nhiều khách hàng, bởi lẽ sự phong phú và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ
tạo ra một hình ảnh, uy tín cho ngân hàng tạo ra những khách hàng trung thành với
ngân hàng.
Chất lượng tín dụng tạo thuận lợi cho sự tồn tại của ngân hàng bởi vì chất lượng tín
dụng cho phép ngân hàng có những khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận
để bổ sung vào vốn đầu tư.
Một ngân hàng muốn giảm thiểu sự chậm trễ, yếu kém còn tồn đọng trong những
hoạt động nghiệp vũ cũng như công tác quản lý, tránh nguy cơ thất thoát tài sản từ
những khoản vay rủi ro cao, đồng thời vẫn đảm bảo đem về lợi nhuận cao cho ngân
hàng thì yêu cầu tất yếu là phải không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng củng cố mối quan hệ xã hội của ngân hàng bằng những điều
kiện lao động tốt nhất.
Chất lượng tín dụng cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng, nâng cao uy tín,
tạo thế mạnh cho các ngân hàng trong cạnh tranh.
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
16
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
phân bố địa lý, các ngành nghề và lĩnh vực đầu tư. Như vậy, nâng cao chất lượng tín
dụng là góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các
ngành các vùng trong cả nước, ổn định và phát triển nền kinh tế.
Từ những đòi hỏi thiết thực, khắt khe đó, sự hoàn thiện, nỗ lực của riêng những
ngân hàng thương mại là không đủ trong việc cải thiện chất lượng tín dụng. Điều này
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
17
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
còn đòi hỏi có sự tham gia, trợ giúp, quản lý đắc lực từ phía chính phủ bằng việc đưa
ra các cơ chế chính sách phù hợp, thêm vào đó là sự phối hợp nhịp nhàng và có hiệu
quả giữa các cấp các ngành là điều cần thiết.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng
Được tổng hợp từ rất nhiều chỉ tiêu khách quan, độc lập, không chỉ đến từ phía
khách hàng mà còn từ phía môi trường hoạt động kinh doanh, chất lượng tín dụng trở
thành một biến số hết sức nhạy cảm trong kinh doanh. Dưới đây là một số những nhân
tố có ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng tín dụng ngân hàng:
1.2.3.1 Nhân tố từ phía khách hàng
Khách hàng đến với ngân hàng nhằm mục đích kiếm nguồn tài trợ phục vụ cho
mục đích của mình dù là mục đích tài chính hay phi tài chính, do vậy chất lượng tín
dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng phụ thuộc lớn vào khách hàng và phương án
sử dụng vốn của khách hàng:
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng là nguyên tắc cơ bản chi phối sự mở rộng tín dụng giúp
ngân hàng thiết lập kế hoạch tín dụng một cách chủ động trên cơ sở nghiên cứu tình
hình thị trường của ngân hàng. Chính sách tín dụng có nhiệm vụ nêu rõ những yếu tố
bao gồm quy mô cho vay tối đa trong danh mục cho vay, yếu tố pháp luật, cơ cấu danh
mục cho vay, những tiêu chuẩn chất lượng tín dụng.
Đảm bảo mỗi quyết định tín dụng đều khách quan, tuân thủ quy định của
NHNN Việt Nam và phù hợp với thông lệ chung quốc tế. Ngân hàng tự quyết trong
việc xác định: Đối tượng có thể cho vay vốn, ràng buộc về tài chính, phương thức
quản lý hoạt động tín dụng, các loại sản phẩm tín dụng khác nhau do ngân hàng cung
cấp, thời hạn điều kiện áp dụng các loại sản phẩm tín dụng khác nhau...
Xác định giới hạn áp dụng trong hoạt động tín dụng, đồng thời thiết lập môi
trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Khi có được chính sách tín dụng đúng đắn, ngân hàng sẽ đáp ứng được cơ bản
những điều kiện để thu hút khách hàng, trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật
cũng như đường lối chính sách của Đảng và nhà nước mà đảm bảo khả năng sinh lời
của hoạt động tín dụng ngân hàng. Do đó, việc xây dựng chính sách tín dụng linh hoạt,
phù hợp đối với ngân hàng trước những điều kiện mới của môi trường kinh doanh là
điều kiện để ngân hàng có chính sách tín dụng tốt.
Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong
việc cấp tín dụng với các bước cụ thể theo trình tự nhất định mang tính liên hoàn gắn
bó chặt chẽ với nhau. Một quy trình tín dụng hợp lý và sự tuân thủ quy trình tín dụng
của các cán bộ tín dụng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, giảm thiểu
rủi ro và nâng cao doanh lợi cho vay. Mỗi ngân hàng, mỗi loại cho vay có một quy
trình tín dụng riêng, tuy nhiên một quy trình tín dụng hợp lý phải bao gồm các giai
dụng vốn vay của khách hàng sẽ giúp nâng cao hiệu quả các khoản vay. Việc vận hành
các hoạt động tín dụng ngân hàng bởi các nhân viên đủ tiêu chuẩn là yếu tố quyết định
sự thành công trong cho vay của ngân hàng.
Thiết bị công nghệ phục vụ hoạt động tín dụng ngân hàng
Nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu áp dụng các công nghệ tiên tiến vào
trong các nghiệp vụ của ngành tài chính ngân hàng là một ngành có vai trò quan trọng
và có tốc độ phát triển chóng mặt là cần thiết. Vì nó không những làm giảm khoản chi
phí bình quân cho các nghiệp vụ...tiết kiệm thời gian giao dịch...tạo cho cả ngân hàng
và khách hàng dễ dàng hơn trong việc nắm bắt các cơ hội đầu tư mới, đồng thời làm
giảm gánh nặng trong công tác quản trị nhân sự đối với ngân hàng...sự phân tích của
hệ thống công nghệ hiện đại sẽ nhanh, nhạy, chính xác và hạn chế được sự lợi dụng
quyền hạn của một số cán bộ ngân hàng đưa ra quyết định cho vay không đủ tiêu
chuẩn...Như vậy sự áp dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động tín dụng ngân hàng
cũng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng cũng như sự tác động của các nhân tố này
đến hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm tìm ra biện pháp ngăn ngừa hạn chế rủi ro tín
dụng có thể xảy ra.
1.2.3.3 Nhân tố ảnh hưởng từ môi trường kinh doanh
Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng từ môi trường kinh doanh bao
gồm các nhóm nhân tố sau:
Nhân tố kinh tế:
Đây là nhân tố đầu tiên quan trọng trong nhóm nhân tố thuộc môi trường kinh
doanh bởi bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng diễn ra trong một môi trường kinh tế
nhất định và chịu tác động mạnh mẽ bởi môi trường đó.
Chính sách kinh tế của nhà nước:
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
20
Tính cạnh tranh của thị trường: ảnh hưởng tới nguồn thu, lợi nhuận thậm chí
suy thoái và phá sản của khách hàng.
Môi trường tự nhiên:
Có thể mang lại khó khăn nhưng cũng có thể mang tới những điều kiện thuận
lợi cho ngân hàng và khác hàng mà khó có thể dự báo trước, thay đổi ngẫu nhiên qua
các năm. Đặc biệt đối với các khoản tín dụng được cấp cho các đơn vị hoạt động chịu
tác động lớn của môi trường tự nhiên như ngành nông nghiệp, khai thác thuỷ hản sản,
khai khoáng...đòi hỏi ngân hàng luôn phải thận trọng trong việc cấp tín dụng, không
nên tập trung nguồn tín dụng quá lớn vào một hoặc một số lĩnh vực hoạt động trong
môi trường chung tiềm ẩn nhiều rủi ro bất khả kháng...
Môi trường khoa học - công nghệ:
Sự tiến bộ của khoa học - công nghệ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh, năng lực cạnh tranh và hoạt động của các ngân hàng và đặt ra vấn đề thời đại
cho cả doanh nghiệp và ngân hàng về việc nắm bắt tiếp cận và sử dụng có hiệu quả
khoa học và công nghệ tiên tiến.
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
21
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Môi trường chính trị - pháp luật:
Sự ổn định về chính trị, sự thống nhất và hoàn thiện, sự thay đổi của chính sách
pháp luật có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động cũng như nguồn thu của các chủ thể
và mọi cá nhân trong nền kinh tế do đó cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng của hoạt
lĩnh vực tín dụng thì kiểm soát bao gồm:
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
22
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa: Quản Lý Kinh Doanh
Kiểm tra định kỳ do kiểm toán viên nội bộ thực hiện, báo cáo các trường hợp
ngoại lệ, những vi phạm chính sách, thủ tục, kiểm soát kế toán và các nghiệp vụ khác
liên quan đến cho vay.
Kiểm soát chính sách tín dụng và các thủ tục liên quan đến các khoản vay như:
kiểm soát thẩm quyền và điều hành, quản lý giám sát các khoản cho vay, kiểm soát hồ
sơ thủ tục cho vay...
Hoạt động kiểm soát giúp phát hiện những sai sót và nguyên nhân các sai sót
phát sinh trong quá trình thực hiện các khoản tín dụng, chính vì vậy mà ban lãnh đạo
có thể kịp thời khắc phục sai sót, tránh rủi ro và đảm bảo chất lượng tín dụng.
1.2.4.1.3 Mức độ hài lòng của khách hàng
Một trong những thách thức lớn nhất đối với hệ thống ngân hàng thương mại
trong điều kiện hội nhập là năng lực cạnh tranh. Một ngân hàng muốn phát triển bền
vững không thể không quan tâm đến giữ khách hàng sẵn có và tìm kiếm khách hàng
mới. Để làm được điều này cần phải thấu hiểu được mức độ hài lòng của khách hàng
về dịch vụ ngân hàng cung cấp cho họ, nhận diện những yếu tố làm khách hàng hài
lòng. Có thể đánh giá mức độ hài lòng thông qua các phiếu khảo sát, sản phẩm dùng
thử, phản hồi của khác hàng về các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, các ý kiến đóng
lệ nợ có tài sản đảm bảo, tình hình trích lập và sử dụng dự phòng tín dụng.
Trước khi tìm hiểu về các chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ xấu ta tìm hiểu về quy định
phân loại nợ theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Điều 1
khoản 3 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi bổ sung một
số quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD, TCTD
thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm sau:
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm:
Các khoản nợ mà TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng
thời hạn.
Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
cả gốc và lãi đúng hạn.
Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ
chức thì TCTD phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc
và lãi đúng kỳ hạn điều chỉnh lần đầu).
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả
nợ lần đầu phân vào nhóm 2 theo quy định trên.
Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy
đủ theo hợp đồng tín dụng.
Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn dưới 30 ngày.
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần đầu.
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
lệ này còn có xu hướng tăng, nhất là khi nền kinh tế có những dấu hiệu không thuận
lợi. Vì vậy, biện pháp điều chỉnh tổng dư nợ nhằm giảm tỷ lệ nợ quá hạn đòi hỏi sự
nghiên cứu, tính toán thận trọng và chỉ có thể áp dụng trong những điều kiện kinh tế
thích hợp.
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng. Nếu tỷ lệ
nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay càng nhỏ thì chất lượng tín dụng càng tốt vì khả
năng thu hồi nợ cao, rủi ro tín dụng ở mức thấp và ngược lại nếu tỷ lệ nợ quá hạn càng
lớn thì mức độ rủi ro tín dụng càng cao. Theo quy định thì tỷ lệ nợ nhóm 2 đến nhóm 5
chỉ được phép nhỏ hơn 5% tổng dư nợ.
Sv : Võ Thị Hương
Lớp: ĐH TCNH 4 – K5
Luận văn tốt nghiệp
25