Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Ba Đình - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế
quốc dân, các thầy cô khoa ngân hàng đã truyền đạt cho em những kiến thức
cơ bản, phương pháp luận. Đặc biệt em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Đàm Văn Huệ đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành chuyên
đề này.
Em cũng xin gủi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo cùng các cán
bộ, nhân viên Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Ba Đình
đã tạo điều kiện tốt cho em trong quá trình thực tập tại ngân hàng.
Khi thực hiện khóa luận em đã cố gắng vận dụng những kiến thức tìm
hiểu trong quá trình thực tập và thực tế. Đề tài đòi hỏi sự nghiên cứu lâu dài,
tỉ mỉ trong khi kiến thức chuyên môn và thời gian có hạn nên chuyên đề khó
tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong được sự giúp đỡ của thầy cô và các
bạn để bài chuyên đề hoàn chỉnh hơn.

Sinh viên
Bùi Trí Quân
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
MỤC LỤC
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Kí hiệu viết tắt Giải nghĩa
1 NHTM Ngân hàng thương mại
2 NHNN Ngân hàng nhà nước
3 TCKT Tổ chức kinh tế
4 TPKT Thành phần kinh tế
5 QD Quốc doanh
6 NQD Ngoài quốc doanh

mạnh về mọi mặt, kể cả số lượng, qui mô và chất lượng. Trong những năm
qua, hoạt động ngân hàng nước ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở
rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển. Như vậy hệ thống ngân hàng
thương mại thực sự là ngành tiên phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh
tế, đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế
xã hội ở nước ta.
Hiện nay ở nước ta thị trường chứng khoán chưa phải là kênh dẫn vốn
hiệu quả và chủ yếu, vậy nên vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của nền kinh tế vẫn phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống
ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại với lợi thế về mạng lưới,
đối tượng khách hàng của các ngân hàng thương mại không phải chỉ là các
công ty, doanh nghiệp mà còn có thành phần tư nhân hộ gia đình. Một mặt
họ là những người cho ngân hàng vay tiền, một mặt họ cũng chính là
những người vay tiền của hệ thống NHTM. Do vậy hệ thống NHTM trở thành
kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế trong gian đoạnhiện nay. Từ đó
vấn đề nghiên cứu chất lượng hoạt động tín dụng thật sự trở thành vấn đề
đang rất được quan tâm.
Do phạm trù nghiên cứu chất lượng tín dụng của hệ thống ngân
hàng rất rộng nên với thời gian và năng lực có hạn, em chỉ tập trung vào
nghiên cứu vấn đề chất lượng tín dụng ngắn hạn. Qua đó tìm hiểu thực trạng,
những kết quả đạt được và những hạn chế tồn tại. Từ đó để tìm ra những
nguyên nhân của hạn chế đó cũng như tìm ra những biện pháp để khắc phục
hạn chế đó.
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
Chất lượng tín dụng không chỉ là mối quan tâm của các nhà quản trị
ngân hàng mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội vì đây vừa là tín hiệu tổng
hợp vừa phản ánh trình độ hoàn thiện pháp luật theo cơ chế thị trường trong
quản lý kinh tế nói chung và hoạt động quản lý ngân hàng nói riêng. Như vậy

- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang
người khác
- Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời
- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sỡ hữu phải kèm
theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. Một quan hệ gọi là tín dụng
phải đầy đủ cả ba mặt
Tín dụng ra đời rất sớm gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất
hàng hóa. Cơ sở ra đời của tín dụng suất phát từ
- Có sự tồn tại và phát triển của hàng hóa
- Có nhu cầu bù đắp thiếu hụt khi gặp biến cố nhằm đảm bảo sản xuất
kinh doanh, cuộc sống sinh hoạt bình thường
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng, tùy thuộc vào giác độ tiếp
cận mà có thể được hiểu như là
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
Sự trao đổi các tài sản hiện tại để thu được các loại tải sản cùng loại
trong tương lai, hoặc có thể định nghĩa tín dụng như các hoạt động kinh tế,
theo đó một người thỏa thuận để người khác được sử dụng số tiền hay tài sản
của mình trong một khoảng thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả
Trong cuộc sống tín dụng thể hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Tín
dụng thương mại là một doanh nghiệp thỏa thuận bán chịu hàng hóa cho khách
hàng. Tín dụng ngân hàng việc các ngân hàng thương mại huy động vốn của
khách hàng để sau đó lại cho khách hàng khác vay với mục đích kiếm lời.
. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín
dụng ngân hàng được hiểu như sau:“Tín dụng là một giao dịch về tài sản
giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản
cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên
đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay
khi đến hạn thanh toán”.

cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
1.1.3.2 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
* Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở như thế chấp,
cầm cố
hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba
* Tín dụng không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của khách hàng.
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
1.1.3.3.Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng thì tín dụng chia làm hai loại :
* Tín dụng vốn lưu động:
Tính dụng vốn lưu động là loại tín dụng được cấp phát để hình thành
vốn lưu động của các tổ chức kinh tế; tín dụng vốn lưu động thường được sử
dụng đểcho vay bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Loại tín dụng
này thường được chia ra làm các loại như sau: cho vay dự trữ,cho vay chi phí
sản xuất vàcho vay để thanh toán dưới hình thức chiết khấu chứng từ có giá.
* Tín dụng vốn cố định:
Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng được cung cấp để hình thành tài sản
cố định; loại tín dụng này thường được đầu tư để mua sắm các tài sản cố định
cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất xây dựng các xí nghiệp và công
trình mới,các loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung
hạn và dài hạn.
1.1.3.4 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
* Tín dụng ngắn hạn:
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn tối đa một năm và
thường được bổ sung cho thâm hụt tạm thời vốn lưu động cho các doanh
nghiệp và cho vay phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các

1.2.1 Khái niệm tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm, thường được
sử dụng nhằm bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh
nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng cá nhân.
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
Tín dụng ngắn hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng nên nó mang
đầy đủ đặc trưng của tín dụng ngân hàng. Ngoài ra, nó còn có một số điểm
khác biệt sau:
- Thứ nhất, lãi suất cho vay ngắn hạn thì thường nhỏ hơn lãi suất cho vay
trung hạn và dài hạn vì mức độ rủi ro của tín dụng ngắn hạn thường thấp hơn.
- Thứ hai, tín dụng ngắn hạn là nghiệp vụ chủ yếu của NHTM với thời
gian cho vay dưới 12 tháng. Chính loại cho vay này giúp ngân hàng luôn giữ
được khả năng thanh khoản vì nó tương thích với kết cấu nguồn vốn của ngân
hàng thường là những khoản tiền gửi tiết kiệm dưới 1 năm.
1.2.2 Phân loại tín dụng ngắn hạn
Thực hiện tốt việc phân loại tín dụng ngắn hạn sẽ giúp cho ngân
hàng nghiên cứu việc vận dụng vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay
và là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.
Từ đó có sự quản lý phù hợp nhất để nâng cao chất lượng tín dụng
ngắn hạn.
Ta có một số cách phân loại chủ yếu sau:
Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tín dụng ngắn hạn bao gồm tín dụng
tiêu dùng và tín dụng kinh doanh.
- Tín dụng tiêu dùng: Việc cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của các gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, chi
tiêu hàng hóa, chi sửa chữa nhà cửa, mua sắm tài sản…
- Tín dụng kinh doanh: là khi Ngân hàng sẽ cho các doanh nghiệp,
hộ sản xuất kinh doanh vay để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh ngắn hạn của

9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn: Cho vay ngắn hạn gồm:
cho vay thế vốn và cho vay ứng vốn.
- Cho vay thế vốn: Việc cho vay làm thay đổi hình thái vốn của
khách hàng sang tiền, như chiết khấu, bao thanh toán.
- Cho vay ứng vốn: Việc cho vay mang tính chất cấp thêm vốn cho
khách hàng như bổ sung vốn lưu động.
Căn cứ vào đối tượng sử dụng vốn vay: Tín dụng ngắn hạn chia
thành tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp.
- Tín dụng trực tiếp: Tiền vay được phát trực tiếp cho người vay
- Tín dụng gián tiếp: Tiền vay được phát đến một tổ chức trung gian,
sau đó mới tới tay người vay.
Căn cứ vào phương thức thanh toán: Người ta chia tín dụng ngắn hạn thành
tín dụng ngắn hạn hoàn trả một lần, tín dụng ngắn hạn hoàn trả nhiều lần.
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngắn hạn
1.2.3.1 Đối với ngân hàng
Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo
nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đây là một công
cụ để tạo nên lợi nhuận và phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng. Trong quá trình
hoạt động của các ngân hàng, thì các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm
đến các vấn đề: Phải tạo được nguồn thu lớn để bù đắp được các chi phí ( chi
phí huy động vốn, chi phí trả lương nhân viên, chi phí quản lý…). Mặt khác
phải bảo đảm khả năng thanh khoản của ngân hàng, tín dụng ngắn hạn có thể
giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này.
1.2.3.2 Đối với nền kinh tế
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp
chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật
giá trị; quy luật cung cầu; quy luật cạnh tranh; sản xuất phải trên cơ sở đáp
ứng nhu cầu thị trường, phải thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
Về phía ngân hàng; khả năng thu hồi khoản cho vay phụ thuộc lớn vào
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn. Vì vậy,
trước khi cho vay thì ngân hàng thường xem xét đánh giá rất kỹ lưỡng các
phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng chỉ cấp tín dụng
cho các doanh nghiệp có phương án khả thi, lợi nhuận đủ cao để có thể trả
được các khoản nợ ngân hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp muốn có được vốn vay
ngân hàng thì phải hoàn thiện năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. Thêm vào đó, trong thời gian còn hiệu
lực của hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện quy trình giám sát, kiểm
tra, kiểm soát trong và sau khi cho vay, thông qua việc làm đó ngân hàng
giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn của doanh nghiệp; buộc các doanh nghiệp
phải thực hiện đúng những điều khoản như đã thoả thuận trong hợp đồng, sử
dụng vốn đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất. Một yếu tố khác là do:
quyền lợi của ngân hàng luôn gắn chặt với quyền lợi của khách hàng, nên
ngân hàng sẽ sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp để tháo gỡ những khó khăn
trong những phạm vi cho phép, tư vấn cho doanh nghiệp về các vấn đề có liên
quan, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu
quả.
1.3 Chất lượng tín dụng và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
ngắn hạn của NHTM
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Trong hoạt động ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụ
mang lại phần lớn doanh lợi nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khả
năng xảy ra với tỷ lệ cao. Trên thực tế thì nhiều nhân viên ngân hàng quan
niệm cho vay có tài sản cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỉ lệ qui định là
an toàn nhất. Thực ra quan niệm này là hết sức sai lầm, bởi vì kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng chính là
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
12

năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường. Tín dụng phải
huy động một mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã
hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển.
Chất lượng tín dụng thể hiện chủ yếu ở tính an toàn cao của hệ thống
ngân hàng. Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh
toán chi trả cao; tránh được rủi ro hệ thống. Nâng cao chất lượng tín dụng làm
cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh hơn, đáp ứng yêu cầu quản lí kinh tế vĩ mô,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập cùng với cộng đồng quốc tế.
Tóm lại, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa mang
tính trừu tượng, là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Để có chất lượng tín dụng thì
hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập
trên cơ sở sự tin cậy và uy tín của ngân hàng. Hiểu đúng về bản chất và phân
tích, đánh giá đúng chất lượng tín dụng, cũng như xác định chính xác các
nguyên nhân tồn tại của chất lượng tín dụng sẽ giúp ngân hàng tìm được giải
pháp quản lý thích hợp, đúng đắn để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị
trường có sự cạnh tranh gay gắt hiện nay.
- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố như: khả năng thu
hút khách hàng tốt; khả năng cho vay được nhiều; thủ tục đơn giản; mức độ an
toàn của vốn tín dụng…
- Chất lượng tín dụng là kết quả của một quy trình kết hợp giữa yếu tố
con người trong một tổ chức; giữa các tổ chức với nhau vì một mục đích
chung: an toàn, hiệu quả và khả năng cạnh tranh với các khoản tín dụng.
- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM đối với sự thay đổi của môi trường kinh doanh bên ngoài, nó
thể hiện khả năng cạnh tranh của một ngân hàng trong môi trường hoạt động.
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
Như vậy; chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là
bên ngân hàng và yếu tố bên ngoài. Để tránh những rủi ro có thể xảy ra và thu

tắc theo quy định của Nhà nước và Thống đốc NHNN.
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định lượng.
a. Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là những khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng không
trả được số tiền trong hợp đồng tín dụng, tiền lãi của khoản tiền vay đó và
không được ngân hàng gia hạn. Số tiền này ngân hàng sẽ chuyển thành nợ quá
hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này. Đây là những
khoản nợ có độ rủi ro cao và khi đó ngân hàng có khả năng mất vốn. Để đánh
giá chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, người ta thường đánh giá thông
qua tỷ lệ nợ quá hạn.
Tỷ lệ NQH ngắn hạn =
Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn
x 100%
Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn
Chỉ tiêu này càng nhỏ thì chất lượng tín dụng càng cao.
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng luôn tồn tại và cùng với nó là tình trạng nợ quá hạn của ngân hàng.
Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, sinh lời và tăng khả năng cạnh tranh ngân
hàng phải cố gắng giảm thiểu tỷ lệ nợ quá hạn. Chỉ tiêu này rất quan trọng
để đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn. Việc khách hàng trả nợ gốc và nợ
lãi đúng hạn luôn là mối quan tâm thường trực trong các ngân hàng thương
mại. Nợ quá hạn trong tín dụng phát sinh có thể gây ra những hậu quả nặng
nề đến hoạt động của NHTM, thậm chí đe dọa đến sự tồn tại và phát triển
của Ngân hàng. Để hạn chế những hậu quả tiêu cực này, đồng thời nhằm đáp
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
ứng việc nâng cao chất lượng tín dụng thì phân tích nợ quá hạn có ý nghĩa
rất quan trọng.
b. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu.

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn
1.3.3.1. Những nhân tố khách quan
Hoạt động của mỗi NHTM thường chịu ảnh hưởng rất lớn của môi
trường kinh tế – xã hội. Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt
động kinh doanh của mình nhưng nếu môi trường kinh tế – xã hội không ổn
định thì cũng khó có thể thành công. Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi
trường kinh tế – xã hội đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM từ các
yếu tố sau:
 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế phát triển thì có thể tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động tín dụng. Một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, các chủ thể
tham gia nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy mở
rộng quy mô tín dụng, chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên.
Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ. Chẳng hạn
như khi lạm phát cao, lãi suất thực tế sẽ giảm xuống và nếu như ngân hàng
không cân đối giữa các khoản mục bên nguồn vốn và các mục tài sản nhạy
cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín dụng đó có thể không mang lại hiệu
quả như mong đợi. Cũng có thể có những biến động về tỷ giá hoặc biến động
về thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất ngờ, dẫn đến tình trạng dòng tiền vào
không như kế hoạch làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng. Như vậy chất
lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng chịu ảnh hưởng của môi trường kinh
tế mà nó hoạt động, vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự
báo và khả năng thích ứng nhanh khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất
lượng của hoạt động tín dụng.
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
 Môi trường pháp lý
Một ngân hàng thương mại khi bắt đầu hoạt động phải tuân thủ đầy đủ
các quy định về luật pháp của Nhà nước; cũng như của ngân hàng Nhà nước

Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải
mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện. Việc thẩm
định dự án giúp ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để
xác định tính khả thi của dự án trên cơ sở đó sẽ quyết định việc khách hàng
này có đủ điều kiện để được cấp tín dụng hay không. Cũng thông qua công
tác thẩm định, ngân hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư
vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để
dự án có tính khả thi hơn tạo mối quan hệ tốt với khách hàng.
Thẩm định dự án là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính
toán phức tạp. Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay
không cho nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất
lượng hoạt động tín dụng. Nếu như chất lượng của công tác thẩm định không
cao tức là nhân viên tín dụng không xác định thực chất dự án có hiệu quả hay
không thì những khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối
trong việc thu hồi các món nợ của mình. Chính vì vậy công tác thẩm định đòi
hỏi các nhân viên thẩm định có trình độ cao và phải kết hợp một cách có hiệu
quả giữa các phòng ban trong ngân hàng
Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như quy mô của ngân hàng , quy mô và loại hình tín dụng, chính sách
tín dụng của ngân hàng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó. Trong quy trình
hoạt động tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ tiếp xúc trực tiếp với người vay,
phỏng vấn khách hàng, nhận đơn xin vay, thu nhập thông tin về khách hàng
SV: Bùi Trí Quân Lớp: Ngân hàng 50B
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đàm Văn Huệ
và dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao hơn. Những
thông tin về khách hàng và dự án sau khi được các phòng ban chức năng của
ngân hàng xem xét nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể giải ngân và
thu nợ sau này. Trong quá trình này nếu như các khâu được thực hiện tốt nó
sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các dự án tốt để cấp tín dụng, cũng như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status