Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
TÀI LIỆU KHAM KHẢ
SV: Dương Thị Ngọc Mai
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC VIẾT TẮ
NHNN, NHT : gân hàng Nhà nước, ngân hàng trung ươn
NHC : gân hàng công thươ
KK : hông kỳ hạ
TCK : ổ chức kinh t
TGT : iền gửi tiết kiệ
GTC : iấy tờ có gi
SV: Dương Thị Ngọc Mai
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC BẢNG BIỂ
Bảng 9: Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn (về quy mô 3
SV: Dương Thị Ngọc Mai
Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦ
Đứng trước xu thế toàn cầu hóa hội nhập hóa kinh tế tất cả các nước trên thế
giới đều mở rộng quan hệ hợp tác giao lưu kinh tế để mở rộng thị trường phát triển
nền kinh tế nn g cao đời sống của người dân. Việt Nam cũng là một trong những
nước đang trên con đường phát triển hội nhập kinh tế thế giới, nhất là khi Việt Nam
gia nhập tổ chức kinh tế thế giới thì chúng ta càng đứng trước nhiều khó khăn hơn
nữa do tính cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong những năm trở lại đây
ViệNamt đã bắt tay vào việc ứng dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật vào quá
trình phát triển nền kinh tế đất nước vận dụng những thành tựu của thế giới vào việc
phát triển đất nước. Để thực hiện được việc phát ti ển kinh tế và thực hiện kế hoạch
5 năm 2011- 2015 thì một vấn đề không thể thiếu được đó là vốn không chỉ là
nguồn vốn ngắn hạn mà cả nguồn vốn trung và dài hn . Nền kinh tế đòi hỏi một
lượng vốn rất lớn để tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế, do
Em chọn đề tài với mục đích đánh giá thực trạng huy động vốn của ngân
hàng công thương cùng đó là đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc huy
động vốn của ngân hàng hơn.
Kết cấu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp nghiên cứu gồm 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn trong ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng và chất lượng huy động vốn từ doanh nghiệp tại
Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động huy
động vốn nhằm mở rộng nguồn vốn của Ngân hàng TMCP công thương Việt
Nam – Chi nhánh Ba Đình
SV: Dương Thị Ngọc Mai
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Vốn là yếu tố rất cần thiết trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
va đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng vì ngân hàng là một
doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt – tiền tệ. Đối với các doanh nghiệp
trước tiên đó là nguồn vốn tự có cho dù đó chỉ là một nguồn vốn nhỏ so với tổng
nguồn vốn của ngân hàng và mức độ quy mô ngành nghề của ngân hàng. Ngoài ra
để thực hiện được các dự án lớn thì cần phải cú nguồn vốn vay thêm nguồn vốn này
thông thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng đó chỉ là nguồn vốn bổ sung vì để bắt
đầu hoạt động sản xuất kinh doanh chủ ngân hàng phải có vốn – vốn chủ sở hữu
(VCSH). Nguồn vốn đối với ngân hàng – một ngành kinh doanh đặc biệt xuất phát
từ hoạt động trong kinh doanh của ngân hàng thương mại đó là “đi vay để cho vay”
lại càng quan trọng hơn. Vì vậy vốn đối với ngân hàng thương mại là rất cần thiết
cho hoạt động kinh doanh của mình.
1.1. Khái quát chung về nguồn vốn trong ngân hàng thương mại
1.1.1. Nguồn vốn trong ngân hàng thương mại
* Vốn tự có là giá tị tiền tệ thuộc sở hữu của ngân hàng dựng để đầu tư mua
sắm tài sản cố định, công cụ lao động, góp vốn liên doanh, mua cổ phần đầu tư kinh
doanh ngoại tệ theo quy định của ngân hàng trung ương. Vốn tự có bao gồm vốn
điều lệ, vốn pháp định, vốn tự có bổ sung, vốn liên doanh và vốn tự có khác. Vốn
này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn của ngân hàng song lại là điều kiện
pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Với chức năng bảo vệ, vốn tự có
được coi như tài sản đảm bảo tạo lòng tin đối với khách hàng, duy trì khẳ năng
thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Như vậy, quy mô sự tăng
trưởng của vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực, vị thế và sự phát triển của NHTM.
- Vốn điều lệ là mức vốn bắt buộc mỗi ngân hàng đều phải có nó được ghi
trong điều lệ hoạt động của ngân hàng.
- Vốn tự có bổ sung là vốn do NHTM trích lợi nhuận hàng năm để lập quỹ
nhằm bổ sung vốn tự có, bảo toàn vốn kinh doanh và bù đắp rủi ro cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
- Vốn tự có khác là giá trị vốn chủ sở hữu tăng thêm do đánh giá lại, lợi
nhuận chưa chia của ngân hàng, các loại vốn quỹ chưa sử dụng đến có thể dựng vào
sử dụng vào kinh doanh như vốn Nhà nước cấp để cho vay dài hạn.
* Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các
tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp
SV: Dương Thị Ngọc Mai
2
Chuyên đề thực tập
vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh. Nguồn vốn này bao gồm:
Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, nguồn vốn thu được
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
Nguồn vốn này luôn biến động nên ngân hàng phải dự trữ với một tỷ lệ hợp
lý để đảm bảo khả năng thanh toán.
Nguồn vốn huy động là loại vốn nợ mà ngân hàng chủ động đi vay với mục
đích, thời hạn vay, đối tượng vay khác nhau. Đó là quan hệ giữa NHTM với NHNN
và giữa NHTM với các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng khác ở trong và ngoài nước
làm cho các ngân hàng nhỏ thường thiếu vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh
từ đó thu hẹp mô hình hoạt động.
Thứ ba: Nguồn vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của
ngân hàng.
Trong quá trình mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi các ngân hàng phải có
uy tín trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và ngày càng phát triển trên thị trường.
Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khẳ năng thanh khoản cao, sẵn sang thanh
toán chi trả cho khách hàng. Khả năng thanh tán càng cao thì vốn khả dụng của
ngân hàng càng lớn. Với lượng vốn lớn ngân hàng có thể mở rộng quy mô, tiến
hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữu vững chữ tín và nâng cao vị
thế của ngân hàng trên thương trường.
Thứ tư: Ngoài ra nguồn vốn còn quyết định đến khả năng cạnh tranh và phát
triển của ngân hàng.
Thực tế đã chứng minh: Quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật
hiện đại của ngân hàng là tiền đề của việc thu hút vốn. Lượng khách hàng càng
nhiều, doanh số hoạt động của ngân hàng càng tăng, ngân hàng sẽ có nhiều thuận
lợi trong kinh doanh. Mặt khác vốn lớn sẽ giúp cho các ngân hàng đủ khẳ năng tài
chính kinh doanh đa năng trên thị trường như mở rộng liên doanh liên kết, kinh
doanh dịch vụ thuê mua, kinh doanh chứng khoán, Các hình thức này sẽ góp
phần phân tán được rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đồng thời tăng sức
cạnh tranh của ngân hàng.
Thứ năm: Nguồn vốn góp phần đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân
hàng, đảm bảo khẳ năng thanh toán chi trả, cung cấp nguồn vốn bù đắp rủi ro phát
sinh trong quá trình kinh doanh của ngân hàng.
1.2. Hoạt động huy động vốn trong ngân hàng thương mại
1.2.1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Tiền gửi giao dịch (tiền gửi có thể phát hàng séc)
Đây là những khoản tiền gửi mà gửi tiền ở ngân hàng thương mại để sử dụng
thanh toán và chi trả chứ không vì mục tiêu lợi nhuận. Các khoản tiền gửi có thể
phát hành séc: tài khoản séc không có lãi (tiền gửi không kỳ hạn), các tài khoản
Các ngân hàng thương mại ngoài các nguồn vốn trên còn có nguồn vốn huy
động được bằng cách vay từ ngân hàng trung ương (ngân hàng nhà nước), từ các
ngân hàng thương mại khác và ừ các công ty dưới dạng các chứng chỉ. Vay từ ngân
hàng trung ương thì được gọi là vay chiết khấu hay còn gọi là “tiền ứng trước”.
Ngân hàng thương mại có thể vay từ các nguồn khác như từ công ty mẹ của các
ngân hàng (đối với những ngân hàng trực thuộc công ty mẹ), từ các doanh nghiệp
dưới dạng các hợp đồng mua lại, điều chuyển vốn giữa các ngân hàng thương mại,
các chi nhánh để cung cấp đủ vốn cho ngân hàng,…
SV: Dương Thị Ngọc Mai
5
Chuyên đề thực tập
1.2.1.4. Vốn của ngân hàng (vốn chủ sở hữu)
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân
hàng tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi
thành lập một ngân hàng, là nguồn vốn có tính chất thường xuyên ổn định và với ba
chức năng quan trọng: chức năng bảo vệ, chức năng điều chỉnh, chức năng hoạt
động. Ngân hàng có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau: trang bị cơ sở vật
chất, tham gia đầu tư, góp vốn liên doanh,…nguồn vốn này được coi là tài sản đảm
bảo tạo lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp
ngân hàng gặp thua lỗ.
Tùy theo hình thức sở hữu của từng ngân hàng mà vốn chủ sở hữu bao gồm
những nguồn nào như: Ngân hàng Nhà nước do nhà nước tài trợ nguồn vốn chủ sở
hữu, ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp, ngân hàng thương mại một phần
do nhà nước cung cấp vốn và một phần do sự đóng góp của các cổ đông …Ngoài ra
còn có các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng, quỹ đầu tư
xây dựng cơ bản, …
* Vốn tự có ban đầu (vốn pháp định): Vốn này chiếm tỷ trọng rất nhỏ nhưng là điều
kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Đó là số vốn tối thiểu phải
có. Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn hình thành nguồn hình thành
hàng phải thực hiện chi trả và nộp tiền vào tài khoản theo yêu cẩu của khách hàng
vào bất cứ lúc nào để thanh toán hoặc tăng số dư trên tài khoản. Nhìn chung lãi suất
của khoản tiền này rất thấp hặc bằng không thay vào đó chủ tài khoản được hưởng
các dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp.
Phương thức thanh toán: dựng tiền mặt, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc,
giúp tiết kiệm được thời gian trong thanh toán sử dụng tiền mặt. Nó cũng là nguồn
vốn rẻ nhất mà ngân hàng huy động được do tính biến động thất thường của loại
tiền gửi này.
* Tiền gửi có kỳ hạn:
Là khoản tiền gửi áp dụng cho doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập tạm thời
chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định. Tiền gửi có kỳ hạn thường có lãi
suất cao hơn lãi suất tiền gửi không có kỳ hạn, tiền gửi kỳ hạn càng dài thì lãi suất
càng cao. Khác với tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn nhằm mục đích sinh lời,
người gửi không thể tăng số dư trên sổ tiền gửi tiết kiệm mà phải mở một sổ tiết
kiệm mới.
Để khắc phục những nhược điểm của tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi thanh
toán mà vẫn đáp ứng được nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra
hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không sử dụng các hình thức thanh toán đối
với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu người
gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình
SV: Dương Thị Ngọc Mai
7
Chuyên đề thực tập
thức tiền gửi thanh toán song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy
theo độ dài của kỳ hạn.
* Tiền gửi tiết kiệm:
Là khoản tiền để dành của cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn
và hưởng lãi. Đặc trưng của khoản tiền gửi này là khách hàng được giữ sổ tiết kiệm
và có thể dựng nó để cầm cố hoặc thế chấp vay vốn. Các loại tiền gửi tiết kiệm:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền khách hàng tích luỹ dàn
kỳ hạn thông thường. Trong hình thức này các ngân hàng chủ động đứng ra thu hút
vốn trong xã hội, các chúng từ có giá này chứng nhận khoản nợn của ngân hàng với
khách hàng mua chúng. Bao gồm các loại giấy tờ sau:
* Chứng chỉ tiền gửi: Là một công cụ nợ có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
và điều hàng vốn. Lãi suất của loại này được quy định trực tiếp qua thoả thuận giữa
ngân hàng và người gửi tiền. Thực chất chứng chỉ tiền gửi này là một hình tyhức
của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
* Kỳ phiếu ngân hàng: Là công cụ nợ ngắn hạn (dưới 12 tháng) do ngân
hàng phát hành theo từng đợt nhằm mục đích huy động vốn đáp ứng nhu cầu của
ngân hàng theo từng thời kỳ.
* Trái phiếu ngân hàng: Là cơng cụ vay nợ dài hạn (trên 12 tháng) trên thị
trường vốn, là công cụ giúp ngân hàng chủ động trong công tác huy động các nguồn
vốn đầu tư dài hạn và vốn này có tính ổn định caovề thời gian sử dụng và lãi suất.
Việc phát hành các chứng từ có giá chỉ được thực hiện sau khi các ngân hàng
đã lên cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn và được sự đồng ý của NHNN. Các giấy
tờ có giá của ngân hàng thường được phát hành dưới hai phương thức trả lãi trước
và trả lãi sau. Đối với phương thức trả lãi trước giấy tờ có giá được phát hành theo
mệnh giá trừ lãi khi đáo hạn thanh toán theo mệnh giá. Đối với phương thức trả lãi
sau giấy tờ có giá được phát hành theo mệnh giá khi đáo hạn thanh toán theo mệnh
giá cộng với lãi.
1.2.2.3. Nghiệp vụ huy động vốn khác
* Vay từ NHNN: với vai trò là người cho vay cuối cùng nên khi NHTM cần
vốn gấp NHNN sẽ cho vay dưới các hình thứctái cấp vốn hoặc thông qua việc chiết
khấu các giấy tớ có giá. Bao gồm các loại: cho vay theo hồ sơ tín dụng, vay tái
chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay có bảo
đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá.
* Vay từ các tổ chức tín dụng khác dưới dạng điều chuyển vốn từ nơi thừa
vốn đến nơi thiếu vốn để phục vụ cho nhu cầu cấp bách về vố của ngân hàng mang
tính thời điểm phát sinh khi tình trạng mất cân đối vốn xảy ra.
* Nguồn vốn khác: Là nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập trong quá trình làm
ngân hàng của mình.
Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn tong tổng nguồn vốn và là
nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, hiệu quả
huy động vốn có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, dịch vụ của ngân hàng
thương mại.
Hiệu quả huy động vốn là vốn tăng trưởng với chi phí thấp nhất và phải phù
hợp với nhu cầu sử dụng.
Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả huy động vốn:
* Nhóm chỉ tiêu định tính:
SV: Dương Thị Ngọc Mai
10
Chuyên đề thực tập
Hiệu quả huy động nguồn vốn được đánh giá là cao ngoài phụ thuộc vào chi
phí thấp, lợi nhuận đạt được cao thì cần phải xác định vào tính ổn định của nguồn
vốn. Vì tính ổn định của nguồn vốn cho ta biết được tính thanh khoản, khả năng
thanh toán chi trả kịp thời của ngân hàng đối với những nguồn vốn rút đột ngột.
Tính ổn định của nguồn vốn phụ thuộc rất lớn vào kỳ hạn của nguồn vốn thường thì
kỳ hạn dài có tính ổn định cao hơn kỳ hạn của món tiền gửi ngắn hạn.
- Chất lượng huy động vốn của ngân hàng là hiệu quả có tính kinh tế và khả
năng tăng trưởng trong huy động vốn của ngân hàng thương mại.
- Cơ cấu nguồn vốn: Căn cứ vào mục tiêu, chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của
ngân hàng trong từng thời gian để thay đổi cơ cấu các loại nguồn vốn như nguồn
vốn trung dài hạn hay ngắn hạn, tiền nội tệ hay ngoại tệ.
- Hiệu quả quản lý nguồn vốn huy động để ổn định, an toàn, bí mật và
thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán, khả năng chi trả cho khách hàng trong
quá trình giao dịch và điều hành nội bộ ngân hàng.
- Hiệu quả của công tác huy động vốn còn thể hiện ở lãi suất huy động vốn,
lãi suất huy động bình quân đầu ra, nguồn vốn huy động ngân hàng cho vay đầu tư
có hiệu quả cao các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và các dự án khả thi.
Đem lại hiệu quả kinh tế cho khách hàng và ngân hàng.
- Quy mô nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn qua từng thời
kỳ: Đây là chỉ tiêu đánh giá khối lượng vốn huy động có ảnh hưởng như thế nào
đến quy mô phát triển, hoạt động của ngân hàng.
- Tỷ lệ huy động vốn các kỳ hạn/ Tổng nguồn vốn huy động: qua đây ta
có thể đánh giá được tỷ lệ nguồn vốn trung và dài hạn, nguồn vốn trung và dài hạn
có tính ổn định cao vì vậy nếu tỷ lệ huy động vốn kỳ hạn trung và dài hạn chiếm tỷ
trọng cao thì nguồn vốn mà ngân hàng huy động được để phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng tốt hơn.
- Tỷ lệ vốn khả dụng/ Tổng nguồn vốn huy động: tỷ lệ này đánh giá nguồn
vốn thực tế ngân hàng đưa vào kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Vì :
Vốn khả dụng = Tổng nguồn vốn huy động – DTBB – Nguồn tiền gửi đầu tư
- Vốn huy động bình quân/ Dư nợ bình quân: tỷ lệ này đánh giá được
lượng vốn huy động bình quân trên dư nợ bình quân. Tỷ lệ này luôn lớn hơn 1 để
đảm bảo vốn được xoay vòng và đủ lượng vốn để đáp ứng được nhu cầu về vốn
kinh doanh của ngân hàng. Nhưng tỷ lệ này không nên quá cao vì sẽ gây ứ đọng
vốn làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
- Tỷ lệ nguồn vốn theo loại tiền/ Dư nợ theo loại đồng tiền: tỷ lệ này đánh
giá được lượng vốn huy động theo từng loại tiền so với số dư nợ của loại tiền đó.
+ Nhóm chỉ tiêu hiệu quả về chi phí và lợi nhuận: nhóm chỉ tiêu này đánh giá
chi phí và lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động kinh doanh vốn của ngân
hàng, qua đó cho thấy hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thu được là cao hay thấp.
SV: Dương Thị Ngọc Mai
12
Chuyên đề thực tập
Chi phí của ngân hàng bao gồm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, chi
phí quản lý, chi phí tài chính và các chi phí khác. Trong đó chi phí trả lãi là chi phí
chủ yếu cho hoạt động huy động vốn, chi phí này ngân hàng tính toán trên cơ sở lãi
suất danh nghĩa tức là lãi suất thực tế ngân hàng trả cho khách hàng cùng đó là các
chi phí như bảo hiểm tiền gửi, dự trữ bắt buộc, chi phí quản lý, chi phí quảng cáo
marketing.
dành cho tiết kiệm càng lớn, đặc biệt khi thu nhập bình quân đầu người đã đạt đến
một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm sẽ lớn hơntỷ lệ tăng của thu nhập do nhu
cầu thiết yếu lúc này thoả mãn ít hơn.
+ Tâm lý tiêu dùng của dân cư: tâm lý tiêu dùng của dân cư rất khác nhau
giữa các địa phương, các quốc gia. Có thể cùng mức thu nhập, mức giá sinh hoạt ở
nơi này lượng tiền đưa vào tiết kiệm rất lớn nhưng ở nơi khác lại rất nhỏ do tâm lý
tiêu dùng của người dân ở nơi này.
+ Mức độ ổn địmh của nền kinh tế: trong điều kiện nền kinh tế không ổn
định, giá cả và sức mua của đồng tiền thay đổi thường xuyên, dân cư thường có xu
hướng giữ tiền mặt hoặc quy đổi ra đồng tiền khác có ính ổn định cao và cất giữ
trong gia đình thay vì đem vào gửi trong ngân hàng.
* Nhân tố thuộc môi trường pháp lý:
Một môi trường pháp lý mạnh mẽ sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng được an toàn và ngược lại. Vì vậy trong công tác huy động vốn ngân
hàng cũng phải đảm bảo theo đúng pháp luật. Tuân thủ pháp luật không chỉ đảm
bảo lợi ích của người gửi tiền mà nó còn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
* Nhân tố thuộc môi trường kinh doanh:
+ Điều kiện kinh tế xã hội tại địa bàn ngân hàng hoạt động và sự cạnh trah
giữa các NHTM hoạt động trên địa bàn.
+ Cơ cấu dân cư và địa lý: người gửi tiền phần lớn là những cá nhân với món
tiền vừa và nhỏ. Vì vậy ngân hàng nằm ở khu vực dân cư đông đúc thì chắc chắn sẽ
thu được nhiều tiền gửi hơn những vùng dân cư thưa thớt, xa xôi, hẻo lánh.
* Công tác cân đối vốn của ngân hàng
NHTM nào kinh doanh cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận và tăng trưởng
nguồn vốn kinh doanh vì vậy phải xây dựng một chiến lược kinh doanh huy động
vốn đúng đắn. Đó là hoạt động cân đối vốn của ngân hàng vì vậy ngân hàng phải
xem xét, phân tích cơ cấu tỷ trọng của từng loại vốn. Nó là một biện pháp nghiệp vụ
đồng thời là một công cụ quản lý của các nhà quản lý ngân hàng.
* Các hình thức huy động vốn của ngân hàng:
Chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Đình Hà Nội (hay gọi tắt là
NHCT Ba Đình) ra đời từ năm 1959, với tên gọi lúc được thành lập là Chi điếm Ngân
hàng Ba Đình trực thuộc ngân hàng Hà Nội, có trụ sở tại số 142 phố Đội Cấn, quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội. Với số lượng cán bộ lúc ban đầu thành lập là 10 người, trong bối
cảnh nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhiệm vụ của ngân hàng là vừa xây dựng
cơ sở vật chất, củng cố tổ chức và hoạt động ngân hàng (hoạt động dưới hình thức cung
ứng, cấp phát theo chỉ tiêu-kế hoạch được giao) nhằm mục tiêu phục vụ chế độ bao cấp,
không lấy lợi nhuận làm mục tiêu, hoạt động theo mô hình quản lý 1 cấp (NHNN). Mô
hình này được duy trì từ khi thành lập cho đến tháng 7 năm 1988 thì kết thúc.
Ngày 01/ 07/ 1988, thực hiện Nghị định số 53 của Hội đồng Bộ trưởng (Nay
là Chính phủ) ngành Ngân hàng chuyển hoạt động từ cơ chế quản lý hành chính, kế
hoạch hoá sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo mô hình quản lý Ngân hàng hai
cấp (Ngân hàng Nhà nước - NHTM) lấy lợi nhuận làm mục tiêu trong hoạt động
kinh doanh, các Ngân hàng hoạt động thương mại quốc doanh lần lượt ra đời
(NHCT - NHNT – NHĐT&PT- NHNN & PTNT) trong bối cảnh chuyển đổi đó,
Ngân hàng Ba Đình cũng đã được chuyển đổi thành một chi nhánh NHTM quốc
doanh với tên gọi chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Ba Đình trực thuộc
Ngân hàng Công thương thành phố Hà Nội. Hoạt động kinh doanh mang tính kinh
doanh thực sự, thông qua việc đổi mới phong cách giao tiếp, phục vụ, lấy lợi nhuận
làm mục tiêu kinh doanh, cùng với việc đa dạng hoá các loại hình kinh doanh dịch
vụ, khai thác và mở rộng thị trường, đưa thêm các sản phẩm mới vào kinh doanh.
Lúc này Ngân hàng Công thương Ba Đình hoạt động theo mô hình quản lý NHCT
ba cấp (TW - Thành phố - Quận). Với mô hình quản lý này trong những năm đầu
thành lập (7/1988 - 3/1993) hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba
Đình kém hiệu quả, không phát huy được thế mạnh và ưu thế của một Chi nhánh
SV: Dương Thị Ngọc Mai
16
Chuyên đề thực tập
Ngân hàng Thương mại trên địa bàn thủ đô, do hoạt động kinh doanh phụ thuộc
hoàn toàn vào Ngân hàng Công thương Thành phố cùng với những khó khăn thử
Hoạt động huy động vốn có vai trũ cung cấp đầy đủ và kịp thời nguồn vốn
phục vụ cho các hoạt động khác của ngân hàng. Ngoài ra hoạt động này cũn cơ vai
trũ quan trọng đến sự phát triển của chính ngân hàng, khả năng thanh toán và tính
thanh khoản của ngân hàng từ đó dẫn đến khuếch trương thanh thế và uy tín của
ngân hàng, thu hut khách hàng đến với ngõn hàng.
* Hoạt động sử dụng vốn:
Đây là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm
đảm bảo an toàn cũng như tỡm kiếm lợi nhuận của ngõn hàng.
Trong điều kiện tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều diễn biến
không thuận lợi, lãi suất đầu vào biến động theo xu hướng ngày càng tăng, bên cạnh
đó sức cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trên cùng địa bàn ngày càng mạnh
hơn, nên hoạt động tín dụng đã gặp rất nhiều thách thức. Nhưng với sự nỗ lực tìm
kiếm thị trường, áp dụng nhiều hình thức đầu tư mới trong các doanh nghiệp phát
triển sản xuất kinh doanh đa dạng đặc biệt ở các ngành Giao thông vận tải xây dựng
cầu đường, bến cảng, sản xuất công nghiệp trong ngành dầu khí…Thực hiện chỉ đạo
của NHCT Việt Nam theo phương châm “ Phát triển- an toàn- hiệu quả’’ chi nhánh
đã chú trọng tăng trưởng tín dụng phải kiểm soát được vốn cho vay. Trên cơ sở
chọn lọc khách hàng, giảm dần dư nợ đối với những doanh nghiệp có tình hình tài
chính yếu kém, vốn chủ sở hữu nhỏ, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, coi trọng
hiệu quả kinh tế và thực hiện nghiêm túc các quy chế về tín dụng hiện hành. Trong
những năm vừa qua, chi nhánh luôn tập trung nâng cao chất lượng tín dụng đi đôi
SV: Dương Thị Ngọc Mai
18
Chuyên đề thực tập
với việc tăng trưởng dư nợ lành mạnh nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay và hiệu
quả vốn tín dụng.
Trong hoạt động sử dụng vốn quan trọng nhất là hoạt động tín dụng, bao gồm
các khoản đầu tư sinh lời của ngân hàng thông qua việc cho vay ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn đối với nền kinh tế. Lợi nhuận thu từ hoạt động này chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng, tạo ra thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
ngoại tệ mặt, lôi kéo các dự án đầu tư nước ngoài, giải ngân vốn, đem lại lượng
ngoại tệ đáng kể và mở rộng quan hệ quốc tế. Đón cơ hội phát triển dịch vụ tính
toán bằng thẻ ATM, chi nhánh đó cơ kế hoạch quảng bỏ và tổ chức thu tiền lưu
động tại khu vực, tại nhà khi khách hàng yêu cầu để vào tài khoản thẻ. Chi nhánh
đó chuẩn bị một kho kột sắt toàn cho khỏch hàng thuờ dựng tài sản, giấy tờ quan
trọng Tư vấn cho khách hàng chọn chứng khoán, lập dự án, giải ngân Đối với
dịch vụ môi giới bất động sản NH sẽ đáp ứng mọi thông tin, nếu họ đồng ý mua
ngoài chi phớ NH cũn cho vay 50% vốn để mua và tư vấn về giá, thủ tục pháp lý.
2.1.4. Khái quát kết quả kinh doanh của ngân hàng
Ngân hàng TMCP công thương Ba Đìnhlà một chi nhánh của Ngân hàng
TMCP công thương Việt Nam hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng. Ngân hàng
có đầy đủ các chức năng cơ bản của một ngân hàng thương mại:
- Thực hiện việc huy động vốn bằng các hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn, tiết kiệm không kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá, tiền gửi thanh toán và vay
của các tổ chức tín dụng khác. Năm 2009 tổng lượng vốn mà chi nhánh ngân hàng
huy động được là 982,4 tỷ VNĐ tăng 77,17 tỷ VNĐ.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế và
cá nhân. Trong điều kiện kinh tế có nhiều biến động lãi suất đầu vào thay đổi
từng ngày, bên cạnh đó là áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại
- Thực hiện chức năng trung gian thanh toán: Cũng như các ngân hàng
thương mại khác ngân hàng công thương Ba Đình cũng thực hiện đầy đủ các chức
năng trong đó điển hình nhất là chức năng trung gian thanh toán. Thực hiện chức
năng này ngân hàng đã sử dụng các công cụ như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,
thẻ ATM, thanh toán thư tín dụng L/C, cung cấp các mạng lưới điện tử, kết nối các
quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Ngân hàng còn thực hiện thanh toán
bù trừ thông qua ngân hàng công thương Việt Nam đối với thanh toán bù trừ nội bộ
và thông qua ngân hàng Nhà nước hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Điều
này đã làm giảm chi phí bằng tiền, giảm chi phí về thời gian, kiểm soát được lượng
tiền trong toàn bộ ngân hàng.
- Cung cấp các dịch vụ chuyển tiền: chi nhánh ngân hàng cung cấp các dịch