thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay tại ngân hàng tmcp công thương việt nam – chi nhánh ba đình - Pdf 23

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
1 NHNN Ngân hàng Nhà nước
2 NHTMP Ngân hàng thương mại
3 TCTD Tổ chức tín dụng
4 TSĐB Tài sản đảm bảo
5 NQH Nợ quá hạn
6 TCKT Tổ chứ kinh tế
7 HĐQT Hội đồng quản trị
8 KHCN Khách hàng cá nhân
9 KHDN Khách hàng doanh nghiệp
10 NĐCP Nghị định chính phủ
11 CHLB Cộng hòa Liên Bang
12 NHĐT&PT Ngân hàng đầu tư và phát triển
13 NHNT Ngân hàng ngoại thương
14 NHNN&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
15 NHCT Ngân hàng công thương
16 NHCV Ngân hàng cho vay
17 UBND Ủy ban nhân dân
18 PGD Phòng giao dịch
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập, cùng với những thuận lợi, cơ hội phát triển mới
là những khó khăn, thách thức. Đất nước chúng ta – một đất nước còn đang
trên đà phát triển thì "cạnh tranh" sẽ là một trong những áp lực lớn nhất trong
con đường hội nhập thế giới. Và các ngân hàng thương mại "Hệ thống huyết
mạch của nền kinh tế" cũng không nằm ngoài quy luật chung đó, để tồn tại và
phát triển buộc các ngân hàng phải trải qua cuộc "đấu tranh sinh tồn".
Như ta đã biết, cạnh tranh ngày càng khốc liệt cũng đồng nghĩa với nó

tượng hóa khoa học, phương pháp duy vật biện chứng…
5. Kết cấu của đề tài
Ngồi phần mở đầu và kết luận, đề tài được bố cục làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận cơ bản về bảo đảm tiền vay của NHTM
Chương 2: Thực trạng chất lượng bảo đảm tiền vay tại Ngân Hàng
TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Ba Đình
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay Ngân Hàng
TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Ba Đình
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM
TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ NHỮNG RỦI RO TRONG TÍN
DỤNG CỦA NHTM
1.1.1.Tổng quan về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời và phát triển gắn liền với nền sản
xuất hàng hoá, nó kinh doanh loại hàng hoá rất đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực
tế các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là các NHTM
nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế xã hội. Sử dụng số tiền
đó cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là
phải hoàn lại vốn gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thoả thuận.
Theo pháp lệnh “các tổ chức tín dụng ”(1990) của Việt Nam thì NHTM
được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng
với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo Luật Ngân Hàng Nhà Nước năm 2003 thì hoạt động ngân hàng
được xác định là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng,
cung ứng các dịch vụ thanh toán.

+ Cho vay trung hạn: là khoản cho vay có thời hạn trên 12 tháng cho đến
60 tháng
+ Cho vay dài hạn: : là khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng
4
● Căn cứ theo hình thức bảo đảm
+ Cho vay có bảo đảm: là việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản của khách
hàng hoặc bảo đảm của bên thứ ba, bao gồm các hình thức như thế chấp, cầm cố
bằng tài sản của khách hàng, bên thứ ba, bảo lãnh của bên thứ ba.
+Cho vay không có bảo đảm: là việc cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản của khách hàng hoặc bảo đảm của bên thứ ba.
●Căn cứ theo phương thức cho vay
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là hình thức tín dụng mà TCTD và
khách hàng thỏa thuận và xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong một
khoảng thời gian nhất định.
+ Cho vay từng lần: là hình thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách
hàng TCTD thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng.
+ Cho vay tài trợ dự án: Là hình thức tín dụng mà TCTD cho khách hàng
vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: là hình thức cho vay mà một nhóm TCTD cùng cho
vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong
đó, có một vốn TCTD làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác.
+ Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà khi vay vốn TCTD và khách
hàng xác định và thỏa thuận việc trả nợ số gốc và lãi vay được chia ra nhiều
kỳ hạn trong thời hạn cho vay
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự
phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là

6
+ Không được trả lãi đúng hạn:
Cấp độ thấp nhất là khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó
ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi
ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng
muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân
đối trong kỳ hạn trả nợ của khách hàng.
+ Không thu được vốn đúng hạn:
Khi không thu được vốn đúng hạn tình hình dường như nghiêm trọng
hơn, một phần do một lượng vốn cho vay lớn bị mất. Khi đó, ngân hàng sẽ
chuyển số nợ vốn đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát
sinh vào thời gian đáo hạn hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đây chưa phải là
khoản mất mát hiện thực của ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh
doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra trình ngân hàng.
+ Không thu được lãi:
Khi ngân hàng không thu được lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng
hơn. Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức
không thể trả đủ lãi cho ngân hàng. Khi đó ngân hàng phải chuyển khoản lãi
này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn
giảm lãi cho khách hàng.
+ Không thu đủ vốn cho vay:
Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và
lúc này ngân hàng bị mất vốn. Tại thời điểm này, ngân hàng sẽ chuyển khoản
nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ, coi như khép lại
một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả.
Trên đây chỉ là bốn hình thức phổ biến giúp cho ngân hàng thương mại
nhận biết rủi ro tín dụng và có biện pháp xử lý. Vỡ vậy, khi nghiên cứu về rủi
ro tín dụng, người ta thường chú trọng vào các trường hợp có nguy cơ xảy ra
7
rủi ro tín dụng như là lãi treo phát sinh và đặc biệt là nợ quá hạn phát sinh.

+ Bảo đảm tiền vay giúp ngân hàng bảo đảm an toàn trong cấp tín dụng:
Sự an toàn là một vấn đề cần xem xét trước tiên đối với mọi khoản vay.
Vì lý do này một ngân hàng thường sẽ cho vay trên cơ sở có bảo đảm để giảm
thiểu rủi ro.
Về thực chất bảo đảm tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý để có
thêm nguồn thu nợ thứ hai ngoài nguồn thu nợ thứ nhất.
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu nợ thứ nhất là doanh thu cho vay
đối với cho vay vốn lưu động, hoặc khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay
trung và dài hạn để hình thành tài sản cố định. Trong cho vay tiêu dùng nguồn
thu nợ thứ nhất của ngân hàng là thu nhập cá nhân như tiền lương, các khoản
thu nhập tài chính( lãi cho vay, lãi chứng khoán) và các khoản thu nhập khác.
Khi đánh giá hoạt động của khách hàng nếu thấy nguồn thu nợ thứ nhất
chưa có cơ sở chắc chắn thì buộc ngân hàng phải thiết lập nguồn thu nợ thứ
hai bao gồm giá trị tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba vì
ngân hàng có thể bán các tài sản bảo đảm để thu nợ nếu khách hàng không trả
được nợ.
Hơn nữa, hoạt động tín dụng an toàn thì bản thân điều này lại có những
tác động tích cực đến những mặt hoạt động khác do uy tín của ngân hàng
được nâng cao.
+ Bảo đảm tiền vay giúp ngân hàng tạo lập quan hệ tín dụng với khách hàng:
Từ đó ngân hàng phải phân tích đánh gía khách hàng dưới nhiều góc độ
khác nhau, trong đó bảo đảm tín dụng được coi là tiêu chuẩn xét duyệt cho
vay vì nó trả lời được phần nào cho ngân hàng những câu hỏi trên. Tuy nhiên
9
cũng thấy đây không phải là tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc khi cấp tín dụng
cho khách hàng, mà là một phần trong những điều kiện vay vốn.
+ Bảo đảm tiền vay nhằm mục đích gắn trách nhiệm của người vay
trong việc quản lý và sử dụng tiền vay:
Mặc dù bảo đảm không phải là tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc
nhưng không phải vì thế mà đặt thấp vị trí của nó. Đặc biệt trong nền kinh tế

giấy tờ có liên quan khi đã trả hết nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Như vậy khi đem tài sản của mình làm bảo đảm cho khoản vay khách
hàng sẽ có trách nhiệm hơn trong quản lý và sử dụng vốn vay, điều đó cũng
có nghĩa là hiệu quả của vốn vay cũng được đảm bảo cùng với đó, vốn vay sẽ
thực sự đem lại những lợi ích cho chủ thể vay vốn.
1.2.2.3. Đối với nền kinh tế
Việc đảm bảo tiền vay thực hiện tốt sẽ hạn chế được nợ quá hạn, nợ khó đòi,
giảm rủi ro, tăng lợi nhuận, nâng cao uy tín của ngân hàng thu hút người gửi
1.2.3. Nội dung các hình thức bảo đảm tiền vay
1.2.3.1.Bảo đảm bằng tài sản
Là hình thức bảo đảm được thiết lập trên cơ sở tài sản của bên vay hoặc tài
sản của bên thứ ba cho khoản đi vay.
●Thế chấp tài sản: là việc bên vay vốn có nghĩa vụ đem tài sản là bất
động sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình để đảm bảo cho vốn vay đối với
ngân hàng. Khi ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng sẽ cung cấp cho chủ thể
đi vay một lượng vốn trong một khoảng thời gian nhất định và nhận lại do bên
vay hoàn trả. Đồng thời cũng được bên vay giao quản lý tài sản là bất động
sản của sở hữu của bên vay để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
11
Trường hợp đến hạn bên vay vì một lý do nào đó không trả được nợ cho ngân
hàng thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp đó để thu hồi lại vốn đã
cho vay, có thể là bán đấu giá tài sản thế chấp hay chuyển quyền sở hữu tài
sản cho ngân hàng theo luật định. Còn nếu chủ thể vay vốn đã hoàn trả cả gốc
và lãi đúng hạn thì ngân hàng sẽ trả lại tài sản thế chấp cho bên vay.
Tài sản thế chấp là bất động sản bao gồm: Nhà ở, công trình xây dựng
gắn liền với đất; quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, tàu
biển theo quy định của luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định của
luật Hàng không dân dụng Việt Nam … để đề phòng những tác động khách
quan làm thay đổi giá trị của tài sản thế chấp (như sự vận động của giá cả thị
trường, sự quy hoạch lại khu vực có tài sản thế chấp…) ngân hàng thường chỉ

phiếu, thương phiếu.
+ Các vật quý bằng vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
+ Giá trị hợp đồng bảo hiểm
+ Các tài sản khác nếu pháp luật quy định.
Tuỳ theo tính chất từng loại tài sản cầm cố mà bên cầm cố phải tổ chức
đánh giá, kiểm định về số lượng và định giá tài sản trước khi ký hợp đồng
cầm cố. Trong quá trình định giá kiểm định phải có đại diện hợp pháp của cả
hai bên am hiểu về tính năng và tác dụng của tài sản hoặc có thể thuê chuyên
gia kỹ thuật để đánh giá, kiểm định phù hợp thực tế. Khi vay bên cầm cố tài
sản phải giao bản gốc giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản, các giấy tờ có
liên quan khác và tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố. Bên nhận cầm cố phải
bảo quản tài sản cầm cố và các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản cầm
cố như quy định trong hợp đồng cầm cố tài sản.
Được quyền tổ chức đấu giá tài sản cầm cố để thu hồi nợ theo nguyên
tắc đã thoả thuận trong hợp đồng và được thu nợ gốc, lãi và tiền phạt (nếu có)
13
từ tiền thu bán đấu giá tài sản cầm cố nếu bên cầm cố không hoàn thành được
nghĩa vụ trả nợ.
●Tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay: Bảo đảm tiền vay bằng tài
sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dựng tài sản hình thành từ
vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với
tổ chức tín dụng.
Như vậy, khác với chế độ bảo đảm khác, bảo đảm tài sản hình thành từ
vốn vay là việc khách hàng vay lại dựng chính tài sản hình thành (được mua
sắm hoặc xây dựng lên) từ khoản vay mà khách hàng đã vay tại tổ chức tín
dụng để đảm bảo cho chính khoản vay này. Do vậy xét về thời gian, tài sản
đảm bảo chưa hình thành (chưa tồn tại) tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng
và các bên chỉ ký kết hợp đồng bảo đảm khi tài sản bảo đảm được hình
thành. Trong khi đó việc cho vay có bảo đảm bằng hình thức cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh thông thường lại dựng tài sản đã hình thành, đã có tại thời

và bên bảo lãnh phải tự chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của tài sản bảo
đảm này sau đó, TCTD và bên bảo lãnh sẽ thoả thuận sử dụng hình thức cầm
cố hay thế chấp nào để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Song điều đáng lưu ý ở
đây là khi xem xét và quyết định cho vay có bảo đảm của bên thứ ba, ngân
hàng cần quan tâm tới 3 nguyên tắc sau :
+ Thứ nhất: Bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh một cách tự nguyện và chỉ
được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình.
+ Thứ hai: Trong mỗi lần bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải phát hành thư
bảo lãnh của mình.
+ Thứ ba: Ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng khả năng tài chính, tình trạng
tài sản và uy tín của bên bảo lãnh.
15
Trong quá trình bảo lãnh bên thứ ba( tức người bảo lãnh) phải có trách
nhiệm trả nợ thay cho bên được bảo lãnh nếu như đến hạn thanh toán mà họ
không trả được nợ cho ngân hàng(nợ ở đây bao gồm cả gốc, lãi và chi phí
khác nếu có, và bên bảo lãnh cũng phải đôn đốc người đi vay thanh toán nợ
cho ngân hàng. Mặt khác, người bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu ngân hàng
kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng khi cần thiết và khi bên bảo
lãnh đã trả nợ cho con nợ thì có nghĩa là họ đã trở thành chủ nợ trực tiếp, lúc
này quan hệ giữa ngân hàng và bên bảo lãnh được chấm dứt.
Hiện nay các TCTD có quyền lựa chọn quyết định việc cho vay có bảo
đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản với điều kiện phải tuân thủ các quy
định của chính phủ, NHNN và các bộ ngành liên quan. Việc áp dụng hình
thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tuy có nhiều rủi ro song lại là
phổ biến trong hoạt động tín dụng của các NHTM bởi sự đánh đổi giữa doanh
thu, lợi nhuận và tính bấp bênh, mạo hiểm trong kinh doanh.
1.2.3.2 Bảo đảm không bằng tài sản.
Tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là việc
cho vay của Ngân hàng cho vay, theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay
không được bảo đảm đầy đủ bằng tài sản của khách hang vay, bên thứ ba, bảo

hàng (thu hồi vốn kịp thời đầy đủ, đảm bảo cho hoạt động ngân hàng có hiệu
quả) đối với khách hàng vay vốn (khuyến khích tự chủ đạt hiệu quả kinh
doanh) mà còn có ý nghĩa to lớn đối với sự ổn định của nền kinh tế.
1.2.3.3 Quy trình thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay.
●Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ và xem xét các điều kiện để ra quyết định
áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay phù hợp.
Thực tiễn đã chứng minh hoàn trả tín dụng mặc dù không phải là mục
đích kinh doanh của ngân hàng, song nó lại là điều kiện quan trọng nhất để
17
thực hiện mục tiêu kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy mà trong quá trình hoạt
động tín dụng ngân hàng luôn phải xem xét một cách thận trọng từ hồ sơ, giấy
tờ vay vốn hợp lệ đến uy tín và năng lực tài chính của khách hàng, từ đó mà
áp dụng những phương thức cho vay thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ.
● Bước 2: Thẩm định, đánh giá tài sản bảo đảm.
Trong cho vay có tài sản đảm bảo, ngoài việc đánh giá khách hàng và
phân tích các hồ sơ cần thiết, ngân hàng luôn phải chú trọng đặc biệt tới công
tác đánh giá tài sản bảo đảm nhằm xem xét các điều kiện của tài sản và định
giá chúng.
+ Thẩm định về các điều kiện của tài sản gồm: Thẩm định tính hợp pháp;
thẩm định về tính lưu thông và quyền sở hữu. Việc thẩm định tài sản bảo đảm
ở nước ta hiện nay còn nhiều khó khăn bất cập, tài sản được chia làm 2 loại,
một loại pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, một loại không. đối
với loại có đăng ký thì việc thẩm định tính sở hữu đơn giản chỉ là kiểm tra
giấy tờ sở hữu nhưng với loại không đăng ký thì ngân hàng phải xem xét từ
nhiều kênh thông tin khác nhau tránh rủi ro không đáng có. Còn riêng đối với
những tài sản mà pháp luật quy định phải đúng bảo hiểm thì ngân hàng cần
kiểm tra xem khách hàng đã đúng bảo hiểm chưa? tài sản là nhà hay quyền sử
dụng đất thì ngân hàng đầu tiên phải kiểm tra những giấy tờ có liên quan tới
tài sản đó như: Quyền sử dụng đất, sổ đỏ xem xét tài sản đó có bị kê biên
hay không? Nếu là bất động sản thì đánh giá về vị trí địa lý, kiến trúc ra sao?

Mặt khác, tỷ lệ cho vay còn phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế và chu kỳ hoạt
động của tài sản bảo đảm. Chẳng hạn, khách hàng vay vốn là doanh nghiệp
xuất khẩu gạo thì chu kỳ hoạt động theo mùa vụ khác với doanh nghiệp sản
xuất xi măng có công suất ổn định, do đó mức cho vay,phương thức cho vay
19
cũng không giống nhau. Nếu tài sản đảm bảo là dây chuyền sản xuất hiện đại,
công nghệ cao, đời hoạt động dài thì mức cho vay tương ứng cũng khác tài
sản là nguyên vật liệu, công cụ lao động ngoài ra mức cho vay còn phụ
thuộc vào chủ trương, chính sách của từng thời kỳ của mỗi NHTM. Sau khi
hoàn thành việc xác định mức cho vay, cán bộ ngân hàng sẽ chuyển sang
bước tiếp theo.
●Bước 4: Ký hợp đồng và quản lý tài sản bảo đảm.
Hợp đồng bảo đảm tài sản thường được ký kết đồng thời với hợp đồng
tín dụng sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết. Tuỳ theo hình thức bảo đảm và
tài sản bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm có thể được lập riêng hoặc nằm trong
hợp đồng tín dụng và cũng tuỳ từng loại hình bảo đảm theo quy định của pháp
luật mà hợp đồng bảo đảm phải công chứng nhà nước và tài sản bảo đảm phải
đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với tài sản tài chính thì tuỳ theo sự thoả thuận giữa ngân hàng và
khách hàng mà thực hiện hình thức thế chấp pháp lý hay thế chấp công bằng,
nếu là thế chấp pháp lý thì bên bảo lãnh phải chuyển giao quyền sở hữu cho
ngân hàng, nếu là thế chấp công bằng thì chuyển giao giấy chứng nhận quyền
sở hữu, còn tài sản cầm cố thì có rất nhiều loại tài sản với những đặc điểm
tính chất khác nhau nên tuỳ thuộc vào đặc tính đó mà ngân hàng và bên bảo
đảm tự thoả thuận phương pháp chuyển giao tài sản sao cho phù hợp nhất. Và
điều đặc biệt lưu ý ở đây là hợp đồng bảo đảm chỉ có ý nghĩa pháp lý khi và
chỉ khi nó đi kèm với hợp đồng tín dụng (hợp đồng gốc)
Việc quản lý tài sản bảo đảm bao gồm cả việc bảo quản, đánh giá lại tài
sản và xử lý sau khi đánh giá hiệu qủa của việc quản lý này còn phụ thuộc vào
cơ sở vật chất (như kho bãi để bảo quản), trình độ cán bộ ngân hàng trong

Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ =
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này phản ánh số dư NQH mà ngân hàng cấp cho khách hàng chiếm
bao nhiêu trong tổng dư nợ đã cho. Tỷ lệ này càng cao thì phản ánh chất
lượng tín dụng cho vay có bảo đảm càng thấp và ngược lại.
+ Tỷ lệ nợ xấu
Dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ =
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này phản ánh khả năng thu hồi nợ của ngân hàng với các khoản cho
vay . Tỷ lệ này càng cao thì phản ánh chất lượng tín dụng cho vay càng thấp
và ngược lại.
●Tỷ lệ cho vay không có tài sản đảm bảo
Dư nợ cho vay không có TSBĐ
Tỷ lệ cho vay không có TSBĐ=
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ này phản ánh khả năng thu hồi nợ của ngân hàng với các khoản cho
vay không có TSBĐ. Tỷ lệ này càng cao thì phản ánh chất lượng tín dụng cho
vay có bảo đảm càng thấp và ngược lại.
1.3.2.2.Điều kiện cần thiết nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay.
Người cho vay thì tài sản bảo đảm tiền vay phải có được các điều kiện sau:
+ Một là, giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
+ Hai là, tài sản đảm bảo phải có sẵn trên thị trường tiêu thụ.
22

Trích đoạn Những hạn chế và nguyên nhân ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CHI NHÁNH NHCT BA ĐÌNH Xây dựng và hoàn thiện quy trình, chuẩn mực trong việc cấp tín dụng và thẩm định tài sản bảo đảm. Không ngừng nâng cao kiến thức tổng hợp và trình độ chuyên môn cho cán bộ nhân viên, đặc biệt là cán bộ thẩm định tại ngân hàng. cao vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc phục vụ công tác thẩm định và phòng ngừa rủi ro.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status