HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG – BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
VIỆN KINH TẾ VIỆT NAM
PGS.TS. Lê Cao Đoàn (Chủ biên).
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA RÚT NGẮN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2008
Những người tham gia nghiên cứu đề tài KX02-01: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
rút ngắn – vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”.
- PGS.TS. Lê Cao Đoàn – Chủ nhiệm đề tài
- TS. Trần Ngọc Ngoạn – Thư ký khoa học đề tài
- GS.TS. Nguyễn Trần Trọng
- GS.TSKH. Lê Văn Viện
- PGS.TS. Hà Huy Thành
- PGS.TS. Hoàng Thanh Nhàn
- PGS.TS. Công Văn Dị
- TS. Phan Sĩ Mẫn
- TS. Nguyễn Thái Quốc
- TS. Nguyễn Hữu Đạt
- TS. Trần Thị Hằng
MỤC LỤC
Lời tựa
Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận về CNH
2
Chương I: Thời đại phát triển cổ điển và CNH
- I. Dẫn luận.
- II. Phát triển và CNH
- III. Tất yếu của cách mạng công nghiệp
- IV. Tiền đề của cách mạng công nghiệp và CNH
- V. Bản chất và quy luật kinh tế của phát triển và của CNH
- VI. Quá trình và nội dung của CNH
- III. Cải cách – mở cửa. Quy luật phát triển mới của Trung Quốc trong điều kiện phát
triển hiện đại
- IV. Thành tựu và những nét đặc trưng của quy luật phát triển của Trung Quốc
- V. Những vấn đề đặt ra trong quá trình đi tới nền kinh tế phát triển hiện đại. Con đường
tiếp tục phát triển của Trung Quốc
Phần thứ ba:
Chương VII: Vấn đề phát triển và CNH thế hệ thứ nhất ở Việt Nam
- I. Vấn đề phát triển ở Việt Nam
- II. Giải quyết vấn đề phát triển ở Việt Nam – CNH thế hệ thứ nhất
Chương VIII: Phát triển kinh tế và CNH thế hệ thứ hai – CNH trong quá trình đổi mới
kinh tế
- I: Phát triển và đổi mới kinh tế
- II: Định dạng CNH trong thời kỳ đổi mới vừa qua
- III: Tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam: vấn đề cơ bản và tư duy phát triển hiện
đại
Kết luận
Tài liệu tham khảo
LỜI TỰA
4
Trong tiến trình lịch sử của nhân loại đã diễn ra một sự chuyển biến quyết định: chuyển
kinh tế từ kinh tế tiểu nông, sinh tồn, tự nhiên sang kinh tế thị trường – công nghiệp, xác lập tiến
trình kinh tế phát triển. Thực chất đây là một cuộc cách mạng triệt để trong phương thức sản
xuất, trong kết cấu kinh tế. Đó là quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp, sinh tồn sang
kinh tế thị trường và quá trình cách mạng công nghiệp, chuyển từ công nghiệp tiểu thủ công sang
đại công nghiệp cơ khí, đồng thời trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí, cấu trúc lại toàn nền kinh tế
theo nguyên lý đại công nghiệp, thành hệ thống công nghiệp. Có thể nói, đó là quá trình thị
trường hóa và công nghiệp hóa nền kinh tế. Trong đó, thị trường hóa là xác lập hình thái và nền
tảng kinh tế thị trường cho lực lượng sản xuất đại công nghiệp phát triển, còn CNH là cách mạng
trong nội dung vật chất của quá trình sản xuất, là xác lập lực lượng sản xuất đại công nghiệp, và
do vậy, xác lập tiến trình kinh tế thị trường – công nghiệp, phương thức sản xuất thị trường –
triển của các nước đang phát triển như thế nào? Trả lời những câu hỏi này có một ý nghĩa quyết định
trong việc hiểu về CNH trong điều kiện phát triển hiện đại, đồng thời từ đây hiểu về HĐH cũng như toàn
bộ quá trình thay đổi cách mạng trong nội dung vật chất của quá trình phát triển kinh tế, quá trình
chuyển một nền kinh tế từ kém phát triển thành phát triển hiện đại. Toàn bộ những điều này làm thành
nội dung của công trình nghiên cứu này.
Thời đại thay đổi thì quy luật phát triển thay đổi, do đó, cách thức giải quyết vấn đề phát triển, tức
nền tảng, mô thức, con đường phát triển thay đổi thích ứng. Điều này cho thấy, để nắm được sự thay đổi
trong quy luật phát triển, do đó nắm được quy luật phát triển mới, việc phân tích hai thời đại phát triển,
thời đại công nghiệp, thời đại phát triển cổ điển, và thời đại hậu công nghiệp, thời đại phát triển hiện đại,
trở nên cần thiết. Việc phân tích này được tiến hành dưới hai góc độ, góc độ lô gíc – lý luận và góc độ lịch
sử – thực tiễn. Vì thế, công trình nghiên cứu về CNH, HĐH này được mang tựa đề “CNH, HĐH rút ngắn
– Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”. Một điều cần phải làm sáng tỏ ở đây là vấn đề “rút
ngắn”. Rút ngắn là cách nói thông tục để diễn tả một thực tế lịch sử về thời gian diễn ra CNH của các thế
hệ CNH khác nhau được giảm đi đáng kể do bối cảnh và quy luật phát triển khác nhau đem lại. Trong
điều kiện của thời đại phát triển hiện đại, sự phát triển của các nước đã được đặt trên một đường đua
chung, bởi vậy, sự phát triển không chỉ là việc mỗi nước chuyển nền kinh tế của mình lên một trình độ
cao hơn một cách bất kỳ và tách biệt, mà được đặt vào một sự rượt đuổi một cách quyết liệt về trình độ
phát triển. Nếu chậm chạp, sự phát triển của đất nước sẽ bị đặt ra ngoài cuộc chơi chung và đặt vào thế tụt
hậu, và bị lạc hậu hóa. Trong điều kiện phát triển hiện đại, tốc độ và trình độ phát triển là vấn đề cốt tử
của sự phát triển. Đến lượt mình, điều này đã đặt vấn đề rút ngắn sự phát triển, mà thực chất là thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển, bắt kịp trình độ phát triển hiện đại trong một khoảng thời gian ngắn
nhất thành một sự sống còn. Rút ngắn sự phát triển trở thành yêu cầu nội tại của sự phát triển của một
6
nước đang phát triển trong điều kiện phát triển hiện đại. Như vậy, công trình này là nhằm làm sáng tỏ
quy luật phát triển mới trong điều kiện của thời đại phát triển hiện đại, rốt cuộc là khắc họa nét đặc
trưng, tiêu biểu của quy luật phát triển mới, quy luật phát triển hiện đại của một nước đang phát triển là
phát triển rút ngắn.
Việt Nam đang thực hiện một cuộc đổi mới kinh tế, chuyển kinh tế sang kinh tế thị trường
với khuôn mẫu hiện đại và hội nhập nền kinh tế vào tiến trình phát triển hiện đại của nền kinh tế
toàn cầu, thực chất là nhằm bắt kịp vào tiến trình phát triển hiện đại và thực hiện một sự phát triển
bàn tới. Thứ nhất, CNH là một quá trình cách mạng căn bản trong phương thức sản xuất và kết
cấu kinh tế, vì vậy, có một nội hàm sâu sắc và một ngoại diên phong phú. Từ đây, xuất hiện nhiều
định nghĩa khác nhau về công nghiệp hóa. Tùy góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có thể đưa
ra một quan niệm về CNH nhất định. Cứ như vậy, vô số định nghĩa về CNH đã được hình thành.
Tính chất nhiều vẻ khác nhau của quan niệm về CNH này đã đưa người ta vào một khu rừng
không có lối đi. Rốt cuộc, tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) qua nhiều cuộc
tranh luận đã đưa ra một định nghĩa mang tính quy ước về CNH: “Công nghiệp hóa là một quá
trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để
xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại để sản xuất ra các phương tiện sản
xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng cao trong nền kinh tế và đảm
bảo sự tiến bộ kinh tế và xã hội”. Đây là một định nghĩa gồm khá đầy đủ những thành tố của một
tiến trình phát triển của một nền kinh tế công nghiệp, hay của bản thân tiến trình công nghiệp.
Tuy nhiên, định nghĩa này lại không phản ánh được bản chất kinh tế của CNH, cũng như tính lịch
sử của CNH trong việc làm thay đổi cách mạng trong phương thức sản xuất, trong kết cấu của
nền kinh tế – xã hội. Bởi vì, tiến trình công nghiệp luôn là tiến trình phát triển kinh tế, trong đó
diễn ra sự tập trung các nguồn lực cho thay đổi trong cơ cấu nền sản xuất, trong công nghệ và
8
nhằm tăng trưởng cao, các định nghĩa đều nhấn mạnh đến sự thăng tiến của công nghiệp, đến thay
đổi cơ cấu kinh tế và thay đổi trong công nghệ, hơn nữa, nhấn mạnh vị trí then chốt, chủ đạo của
công nghiệp trong cấu trúc kinh tế và công nghệ trong phương thức sản xuất. Ngay định nghĩa
của UNIDO đã đưa vào định nghĩa phạm trù phát triển, tuy nhiên, điều quyết định của CNH
chính là cách mạng trong phương thức sản xuất và xác lập một thời đại kinh tế, thời đại kinh tế
phát triển, thì các định nghĩa đã ít chú ý tới. Thứ hai, CNH đã diễn ra trong hai thời đại khác
nhau, thời đại phát triển cổ điển và thời đại phát triển hiện đại. Giữa hai thời đại này là một sự
khác nhau về chất trong trình độ phát triển, bởi vậy, giữa CNH của thời đại phát triển cổ điển và
thời phát triển hiện đại không chỉ khác nhau về trình độ đạt được, về quá trình, về mô thức, mà
còn là sự khác nhau về hệ thống. Đó là hai chỉnh thể của hai cái đặc thù. Xuất phát từ hai cái
chỉnh thể của hai cái đặc thù đã có nhiều cách nhìn khác nhau. Sự khác nhau đó là ở chỗ, tùy vào
chỗ nhấn mạnh ở nội dung quyết định của công nghiệp hóa, ở yếu tố quyết định trong kết cấu
kinh tế, ở con đường, bước đi mà xây dựng định nghĩa. Điều khó khăn nhất là, người ta không thể
phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế, làm thành bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát
triển kinh tế xã hội của nhân loại, CNH có nội hàm bao quát rộng lớn. Mặt khác, đó là một phạm
trù lịch sử, có đời sống tiến hóa và biến đổi sâu sắc, thích ứng với những thời đại phát triển khác
nhau. Vì vậy, khó có một định nghĩa ngắn gọn nào thâu tóm được một quá trình với những tính
chất phức tạp như thế. Điều quan trọng hơn, CNH với tính cách là đối tượng nghiên cứu ở đây,
không phải là những khía cạnh khác nhau của CNH, mà là lý luận về CNH hóa, hay phản ánh về
mặt lý luận của CNH. Điều này hàm nghĩa, CNH ở đây được xem xét ở tổng thế, ở hệ thống để
tìm ra bản chất kinh tế, lô gic nội tại và quy luật kinh tế của CNH, đồng thời thấy được ý nghĩa
lịch sử của CNH trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của nhân loại. Đương nhiên, chỉ sau
khi nắm được bản chất kinh tế, lô gic nội tại và quy luật kinh tế của CNH, cũng như ý nghĩa lịch
sử của CNH trong tiến trình kinh tế – xã hội của nhân loại, ta mới có được một ý niệm đầy đủ về
CNH. Nói khác đi, ở đây, định nghĩa hay khái niệm CNH không phải là điểm xuất phát của
nghiên cứu về CNH, mà trái lại, là kết quả của một nghiên cứu tổng thể về CNH.
Sản xuất xã hội luôn là một quá trình hai mặt, mặt hình thái xã hội và mặt nội dung vật chất,
hay xét về phương thức sản xuất thì đó là sự thống nhất của quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất. Sự thống nhất này được biểu hiện ở phạm trù kinh tế và kinh tế học lấy sự thống nhất giữa
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, giữa mặt hình thái xã hội và nội dung vật chất của quá
trình sản xuất xã hội làm đối tượng nghiên cứu của mình. Nó xét xem trong một trạng thái khan
hiếm nhất định các nguồn lực, người ta làm thế nào để đạt được một lượng của cải lớn nhất, nhờ
10
đó có được mức thỏa dụng lớn nhất, hay tìm ra quy luật kinh tế chi phối việc sản xuất, lưu thông
và phân phối của cải trong một trạng thái khan hiếm nhất định về các nguồn lực. Điều này hàm
nghĩa, kinh tế học không nghiên cứu tách rời giữa mặt hình thái xã hội và nội dung vật chất của
sản xuất xã hội. Nếu khảo sát từng mặt, thì mặt đó luôn được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với
mặt kia, để rốt cuộc, làm rõ những tất yếu kinh tế, những quy luật kinh tế trong sự thay đổi của
những yếu tố, những mặt hợp thành phương thức sản xuất, hay toàn bộ quá trình sản xuất xã hội.
CNH là một cuộc cách mạng trong nội dung vật chất của nền sản xuất xã hội, hay của
phương thức sản xuất. Đây là luận đề xuất phát của việc nghiên cứu về CNH. Luận đề này nhấn
mạnh, việc nghiên cứu CNH là nghiên cứu về mặt kinh tế, hay trong sự thống nhất giữa sự thay
đổi nội dung vật chất với hình thái xã hội, hình thái kinh tế của CNH, hay hình thái kinh tế của sự
Điều tệ hại hơn, việc nghiên cứu tách rời, phiến diện như vậy đã dẫn tới một hệ quả nghiêm
trọng trong tư duy: biến phương tiện thành mục tiêu. CNH là sự thay đổi trong nội dung vật chất
của nền sản xuất xã hội trong quan hệ với việc đạt tới mục tiêu tăng sức sản xuất và tăng hiệu quả
của nền kinh tế, và rốt cuộc, đưa nền kinh tế – xã hội đạt tới sự phát triển, giàu có và phồn vinh.
Nhưng trong tư duy tách rời giữa hình thái kinh tế và nội dung vật chất của CNH, đã khiến cho
CNH trở thành mục đích mà xã hội hướng tới. Vì giáo điều của CNXH Xô Viết coi CNH là nền
đại công nghiệp, vì thế để có CNXH, người ta phải bằng mọi cách, mọi giá để tạo ra nền đại công
nghiệp. Nhưng trong thực tế, người ta có thể đạt tới một nền đại công nghiệp, song đó là nền đại
công nghiệp lạc hậu, không phù hợp với quy luật kinh tế, do đó kém hiệu quả, rốt cục sụp đổ.
Như vậy, nghiên cứu CNH ở góc độ lý luận, hay phân tích về mặt lý luận của CNH là
nghiên cứu:
a, Bản chất và quy luật kinh tế của CNH.
Tức nghiên cứu khía cạnh kinh tế của CNH, nghiên cứu CNH trong mối quan hệ giữa quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong thể thống nhất của chúng là phương thức sản xuất, nghiên
cứu sự tương tác giữa hình thái kinh tế xã hội và nội dung vật chất của quá trình sản xuất xã hội,
trong đó diễn ra quá trình CNH.
b, Nghiên cứu CNH trong quá trình phát triển kinh tế, và CNH với tính cách là sự thay đổi
nội dung vật chất trong quá trình xác lập nền đại công nghiệp phát triển. Ta biết rằng, trong tiến
trình kinh tế – xã hội của nhân loại đã diễn ra một bước ngoặt lịch sử: chuyển kinh tế từ kinh tế
kém phát triển thành kinh tế phát triển. Quá trình chuyển kinh tế từ kinh tế kém phát triển thành
12
kinh tế phát triển là quá trình phát triển kinh tế. Bước chuyển cách mạng từ kinh tế kém phát triển
sang kinh tế phát triển được đặc trưng bởi CNH. CNH là sự thay đổi căn bản trong nội dung vật
chất của nền sản xuất xã hội, xác lập nội dung vật chất của kinh tế phát triển là hệ thống đại công
nghiệp, kết cấu đại công nghiệp. Với nội dung vật chất công nghiệp, CNH đã làm cho phát triển
thành một tất yếu kinh tế, và do vậy, CNH đã vạch ra tiến trình phát triển, thời đại kinh tế phát
triển. Điều này hàm nghĩa, để hiểu được CNH, thì cần tiếp cận CNH từ khía cạnh phát triển, xem
CNH là quá trình thay đổi nội dung vật chất của quá trình phát triển kinh tế. Trong quá trình này,
CNH diễn ra theo các quy luật kinh tế, và ngược lại, CNH đem lại nét đặc thù của quy luật kinh tế
ở bước chuyển cách mạng từ kinh tế kém phát triển thành kinh tế phát triển.
đại công nghiệp được xác lập, tiến trình công nghiệp đã trải qua nhiều bước chuyển, đạt được
những thành tựu vượt bậc và các nền kinh tế công nghiệp phát triển đã trở thành một lực lượng
kinh tế to lớn chi phối tiến trình kinh tế của nhân loại, đồng thời một bộ phận lớn của thế giới cho
tới lúc đó vẫn chưa thực hiện CNH, tức hãy còn là những nước nông nghiệp lạc hậu đã hình thành
bối cảnh để chia thế giới thành hai, một thế giới của những nước CNH với nền kinh tế công
nghiệp tiến tiến và một thế giới những nước chưa CNH, do đó, là những nước nông nghiệp lạc
hậu. Đây chính là bối cảnh phát sinh cách nhìn phát triển trong việc phân chia thế giới thành hai
thế giới, thế giới của các nước phát triển và thế giới của các nước kém phát triển, chậm phát triển.
Trong bối cảnh này, kinh tế học phát triển bắt đầu hình thành. Kinh tế học phát triển gọi
kinh tế của thế giới các nước nông nghiệp lạc hậu là kinh tế kém phát triển, chậm phát triển hay
chưa phát triển và kinh tế của các nước công nghiệp tiên tiến là kinh tế phát triển, còn đối tượng
của nó là các quy luật kinh tế và chính sách kinh tế trong việc chuyển một nền kinh tế kém phát
triển thành kinh tế phát triển.
Chúng ta cần xem xét một chút về cách phân chia các thời đại trong tiến trình lịch sử của
nhân loại, trong tiến trình kinh tế xã hội của nhân loại. Đương nhiên có nhiều cách chia khác
nhau, nhưng đại thể có ba cách phân chia khác nhau.
• K.Marx. Xuất phát từ nguyên lý duy vật lịch sử xem sự vận động, phát triển của xã
hội là sự thay thế nhau của phương thức sản xuất, của các hình thái kinh tế – xã hội,
K.Marx chia xã hội thành năm phương thức sản xuất, năm hình thái kinh tế – xã hội
hay năm thời đại: Nguyên thủy; Chiếm hữu nô lệ; Phong kiến; Tư bản chủ nghĩa và
Cộng sản chủ nghĩa. Ông viết: “Về đại thể có thể coi các phương thức sản xuất Châu
14
Á cổ đại, phong kiến và Tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình
thái kinh tế – xã hội”.
• A. Toffler. Căn cứ vào quá trình tiến triển của văn minh, A.Toffler chia tiến trình xã
hội của nhân loại thành ba làn sóng: Làn sóng nông nghiệp, làn sóng công nghiệp và
làn sóng hậu công nghiệp.
• Kinh tế học phát triển. Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế, kinh tế học phát triển
chia thế giới loài người thành hai thế giới, thế giới của các nước phát triển và thế giới
của các nước kém phát triển (chưa hay chậm phát triển).
Ở một ý nghĩa nhất định, kinh tế học phát triển là một hình thái của kinh tế chính trị học, vì
nó phản ánh về mặt lý luận của bước chuyển căn bản từ phương thức sản xuất dựa trên phương
thức sản xuất tiểu nông sang phương thức sản xuất dựa trên phương thức sản xuất đại công
nghiệp. Nhưng, đó còn là kinh tế học nghiên cứu những quy luật kinh tế trong quá trình chuyển
kinh tế kém phát triển sang phát triển và những chiến lược, chính sách thúc đẩy quá trình chuyển
biến cách mạng đó. Nói khác đi, đó là kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc về sự phát
triển. Nói khác đi, kinh tế học phát triển là sự vận dụng các nguyên lý của kinh tế chính trị học và
kinh tế học vào việc giải quyết vấn đề chuyển nền kinh tế từ kinh tế nông nghiệp kém phát triển
thành kinh tế công nghiệp phát triển.
Cách phân chia tiến trình kinh tế – xã hội của loài người của A.Toffler khác với cách phân
chia của kinh tế học phát triển ở việc chia thời đại phát triển thành hai thời đại: thời đại công
nghiệp và thời đại hậu công nghiệp, còn thời đại kém phát triển thì được gọi là thời đại nông
nghiệp. Sở dĩ A.Toffler chia như vậy, vì ông không nhấn mạnh, hay đúng ra là không lấy bước
chuyển từ thời đại kinh tế chậm phát triển sang thời đại kinh tế phát triển, trong khi ông lại nhằm
tách bạch ba thời đại, hay ba làn sóng văn minh mà nhân loại đã và đang trải qua. Trong khi nhân
loại vẫn còn đang nhìn thời đại của mình là thời đại công nghiệp, thì bằng việc đưa ra những nét
đặc trưng mới, vượt ra ngoài khung khổ của tiến trình công nghiệp và cho rằng, nhân loại bằng
cách mạng khoa học – công nghệ và những chuyển biến trong kết cấu kinh tế, trong phương thức
sản xuất do cách mạng khoa học – công nghệ tạo ra, đã đẩy xã hội sang một thời đại mới, thời đại
hậu công nghiệp, là một đóng góp độc đáo của A.Toffler.
Thực sự thì việc chỉ ra cái mốc mới, cái mốc vạch ra một thời đại mới với chỉnh thể không
còn là công nghiệp, hậu công nghiệp hay khác với công nghiệp, có một ý nghĩa phương pháp luận
16
trong tư duy. Từ nay, nhân loại được đặt trong một quá trình hình thành và phát triển một chỉnh
thể kinh tế mới, với những quy luật phát triển mới và do đó, quy định một phương thức phát triển
mới. Việc phát triển của nhân loại vượt ra ngoài khung khổ của chỉnh thể công nghiệp và chuyển
sang một tiến trình mới, đòi hỏi phải nhìn nhận lại thời đại công nghiệp và quyết định hơn, cần
phải xem xét, nghiên cứu về quy luật phát triển mới, do đó, đòi hỏi phải thay đổi căn bản trong
phương thức phát triển cho thích hợp với thời đại phát triển mới.
Do mục đích tìm hiểu và phản ánh tiến trình phát triển kinh tế – xã hội khác nhau nên đã có
những chuyển biến có tính cách mạng trong phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế. Việc nêu
lên những giá trị và những chuẩn mực của kinh tế kém phát triển và phát triển, cũng như những
tất yếu, những quy luật kinh tế trong đó, đặc biệt những quy luật kinh tế của việc chuyển kinh tế
kém phát triển thành kinh tế phát triển, cho người ta thấy người ta đang ở đâu trong tiến trình kinh
tế – xã hội và cần phải làm gì và làm như thế nào để vượt qua trạng thái kém phát triển kinh tế và
cuối cùng đạt tới sự phát triển kinh tế.
Như vậy, cách tiếp cận phương thức sản xuất, cách tiếp cận văn minh và cách tiếp cận phát
triển cho phép người ta hiểu thấu không chỉ toàn bộ sự phát triển nói chung, mà điều quyết định là
hiểu được trong tiến trình kinh tế có một bước chuyển quyết định mà các nền kinh tế nông nghiệp
lạc hậu, kém phát triển phải thực hiện, đó là chuyển kinh tế – xã hội của mình từ kinh tế nông
nghiệp thành kinh tế phát triển.
Tới đây ta thấy, phát triển kinh tế là một phạm trù lịch sử. Phát triển kinh tế đó là khái niệm
dùng để chỉ một khâu trong chuỗi tiến hóa kinh tế, tại đó kinh tế nông nghiệp chuyển thành kinh
tế công nghiệp phát triển. Nói khác đi, phát triển kinh tế với tính cách là một phạm trù lịch sử , là
quá trình chuyển nền kinh tế với chỉnh thể nông nghiệp thành kinh tế phát triển với chỉnh thể
công nghiệp.
III. Tất yếu của cách mạng công nghiệp
1. Kinh tế kém phát triển. Làn sóng nông nghiệp
Kinh tế phát triển là kinh tế có mức thu nhập tính trên đầu người, mà ta đã thấy, được xác
định ở thập kỷ 50 – 60 của thế kỷ XX là 1000 USD. Đương nhiên, nếu chỉ với chỉ tiêu thu nhập
1000 USD/người, người ta chưa hiểu thực sự về kinh tế phát triển. Ngoài thu nhập cao, 1000
USD/người giả định một mức độ thỏa dụng những nhu cầu cơ bản của người ta như thế nào, cũng
như một mức độ phồn vinh tương ứng. Thực ra, đằng sau thu nhập 1000 USD/người là một trình
độ đạt được của sức sản xuất, do đó, của kết cấu kinh tế và của phương thức sản xuất. Nói khác
đi, rốt cuộc thì thu nhập cao của sự phồn vinh có cơ sở của mình trong trình độ đạt được của
18
phương thức sản xuất, của kết cấu kinh tế và sự phát triển kinh tế. Chuyển kinh tế từ kinh tế nông
nghiệp kém phát triển sang kinh tế phát triển được thực hiện bởi một cuộc cách mạng làm thay
đổi căn bản kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông và thay vào đó một phương
thức sản xuất, một kết cấu kinh tế trên đó sự phát triển kinh tế được thực hiện.
của kinh tế tiểu nông. Ba là, nếu xét về hàm sản xuất thì kinh tế tiểu nông có định dạng về hàm
sản xuất như sau:
F(x) = Y (Ruộng đất, Lao động) ; Viết tắt: F(x) = Y (R x L).
Trong hàm sản xuất này, công cụ thủ công, do đó kỹ thuật thủ công là nhân tố nhỏ bé trong
việc quyết định đến sức sản xuất, vì vậy, sức sản xuất được quyết định bởi sức lực của bản thân
người lao động và lực lượng sản xuất của nền sản xuất xã hội về cơ bản và chủ yếu là bản thân
người lao động. Bốn là, kinh tế tiểu nông được tổ chức trong hình thức phổ biến là hộ gia đình.
Từ đặc điểm này, kinh tế tiểu nông là kinh tế sản xuất nhỏ, kinh tế gia trưởng.
Từ bốn đặc trưng trên của phương thức sản xuất tiểu nông, phương thức sản xuất đặc trưng
của kinh tế kém phát triển có những đặc điểm sau:
a, Sức sản xuất nhỏ bé, năng suất lao động thấp. Một mặt, với công cụ thủ công (cầm tay),
sức sản xuất của lao động phụ thuộc vào sức lực của cá nhân người lao động và giới hạn của các
khí quan của con người trong việc sử dụng công cụ, vì vậy, năng suất của lao động là rất thấp và
có giới hạn chật hẹp bởi sức lao động của từng cá nhân người lao động. Mặt khác, lao động cá
thể trong khung khổ nhỏ hẹp của quy mô hộ gia đình, phân công trong quá trình lao động trực
tiếp không có cơ sở để hình thành và phát triển. Nói khác đi, trong kinh tế kém phát triển, phương
thức phân công và hiệp tác lao động chưa xác lập thành phương thức sản xuất cơ bản; phương
thức sản xuất cơ bản là phương thức sản xuất dựa trên lao động cá thể, riêng lẻ. Điều này hàm
nghĩa, trong phương thức sản xuất tiểu nông, về cơ bản chưa có cơ sở để hình thành và phát triển
sức sản xuất xã hội của lao động.
b, Sức sản xuất của kinh tế kém phát triển về cơ bản là nằm trong khung của vạch tất yếu,
hay sức sản xuất về cơ bản chưa tạo ra thặng dư. Đến lượt mình, sức sản xuất nằm dưới vạch tất
yếu chưa sản xuất ra thặng dư, do vậy, tích lũy, chuyển thặng dư thành các nguồn lực sản xuất
phụ thêm, thành những lực lượng sản xuất mới, chưa thành phương thức cơ bản của hoạt động
kinh tế và tái sản xuất mở rộng chưa thành một tất yếu. Kinh tế kém phát triển, do vậy, là kinh tế
sinh tồn, kinh tế nghèo, kinh tế tái sản xuất giản đơn và tăng trưởng kinh tế chưa thành một quy
luật. Kinh tế kém phát triển, vì thế, mang tính chất trì trệ. Có thể nói, sinh tồn là quy luật chi phối
trong kinh tế.
20
c, Do sức sản xuất nhỏ bé, năng suất thấp, vì thế, để sinh tồn, mọi nguồn lực (lao động và
nền tảng của cấu trúc kinh tế và là chỉnh thể của cấu trúc kinh tế. Trong cấu trúc kinh tế này, công
nghiệp mới dừng ở dạng tiểu thủ công nghiệp và thương mại mới ở dạng tiểu thương. Chúng là
những dạng kinh tế đặc thù của nông nghiệp phụ thuộc vào nông nghiệp và xoay quanh nông
nghiệp. Đương nhiên, công nghiệp ở dạng tiểu thủ công nghiệp và là một dạng đặc thù của nông
nghiệp, phụ thuộc nông nghiệp, nền sản xuất xã hội chưa xác lập được một khu vực sản xuất tư
liệu lao động độc lập. Việc sản xuất tư liệu lao động, nhân tố quyết định của tiến bộ kỹ thuật là
nằm trong tay tầng lớp tiểu nông, hoặc cao hơn do nghề thủ công thực hiện. Nói khác đi, cơ sở
vật chất kỹ thuật chưa được xác lập trong cơ cấu của nền kinh tế tiểu nông. Ở một ý nghĩa nhất
định, kinh tế kém phát triển là kinh tế phi cơ cấu, nền kinh tế là phép cộng của kinh tế tiểu nông
mà thôi, “đại khái cũng giống như một cái bao tải đựng những củ khoai tây hình thành một bao
tải khoai tây vậy”.
iii, Kinh tế tiểu nông kém phát triển là kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, khép kín trong hộ gia
đình. Có thể nói, hộ gia đình là đơn vị sản xuất – tiêu dùng khép kín. Nói như K.Marx: “mỗi gia
đình nông dân gần như tự cấp tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận cái mình tiêu dùng và do
đó tự kiếm những tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là giao
tiếp với xã hội”. Nói khác đi, hệ thống sản xuất chưa thành một hệ thống xã hội, và xã hội chưa
thành nền tảng của quá trình tái sản xuất trực tiếp của kinh tế tiểu nông. Sản xuất và nói chung
hoạt động kinh tế được giới hạn trong hộ gia đình, do vậy, xã hội hay nền kinh tế là phép cộng
của các đơn vị giống nhau, ít có liên hệ, do đó rời rạc. Kinh tế kém phát triển, do vậy, có tính chất
manh mún, phân tán và rời rạc.
Thích ứng với tính chất tự nhiên, phân công lao động xã hội kém phát triển, sản xuất hàng
hóa, do đó, kinh tế hàng hóa là kém phát triển. Với sức sản xuất nhỏ bé, năng suất thấp, chưa vượt
khỏi vạch tất yếu và phân công lao động xã hội kém phát triển, sản xuất hàng hóa và kinh tế hàng
hóa chưa có cơ sở để phát triển, do đó, thành một chỉnh thể chi phối trong phương thức sản xuất
của kinh tế tiểu nông. Kinh tế hàng hóa trong làn sóng nông nghiệp, hay trong kinh tế kém phát
triển là kinh tế hàng hóa nhỏ, giản đơn. Nó yếu ớt, đang manh nha và không có cơ sở của riêng
mình nên tiến triển chậm chạp trong sự đối lập, cản trở của kinh tế tự nhiên sinh tồn và chỉ là
những hoạt động kinh tế phụ và phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp tiểu nông, tự nhiên, tự cung tự
cấp.
22
dư là thuộc về tầng lớp chủ đất. Trong điều kiện kỹ thuật sản xuất thủ công thô sơ với rất nhiều
rủi ro, và kinh tế nghèo, mong manh, người nông dân cũng không có khả năng đầu tư tăng thêm
nhằm tăng hoa lợi cho mình. Vả lại, trong quan hệ lệ thuộc và áp bức nặng nề, tầng lớp chủ đất
23
thường đưa ra một mức tô nặng, khiến nông dân bằng mọi nỗ lực của mình, cố lắm thu được phần
tất yếu cho mình. Mặt khác, sự tách rời giữa tầng lớp chủ đất và tầng lớp sản xuất thể hiện ở chỗ,
thặng dư cho nông dân sản xuất ra nộp cho chủ đất, thì thặng dư này lại biến thành tất yếu, tức
thành quỹ tiêu dùng của tầng lớp chủ đất và phần thừa ra ngoài quỹ tiêu dùng của tầng lớp này
biến thành của cải tích trữ. Nói khác đi, trong quan hệ lệ thuộc nông nô, không chứa đựng cơ chế
chuyển thặng dư thành tích lũy. Nói khác đi, tích lũy chưa trở thành một quy luật kinh tế và tái
sản xuất mở rộng chưa trở thành một tất yếu.
Như vậy, sự tách rời giữa tầng lớp chiếm hữu và tầng lớp sản xuất đã khiến cho: a, Sản xuất
và kết quả sản xuất tách rời nhau, do vậy, hoạt động kinh tế chưa trở thành một chuỗi liên tục.
Kết quả sản xuất không được chuyển thành tích lũy, do vậy, sản xuất luôn diễn ra với những điều
kiện cũ, và tái sản xuất theo điều kiện cũ, phương thức sản xuất cũ. b, Tách rời giữa hoạt động sản
xuất và lợi ích do sản xuất tạo ra. Từ hai điều này, trong quan hệ lệ thuộc nông nô, kinh tế tiểu
nông không có động lực kinh tế nội tại. Đây là nguồn gốc kinh tế cơ bản và quyết định của trạng
thái tái sản xuất giản đơn và sự trì trệ của kinh tế tiểu nông.
Điểm cần nhấn mạnh là, trong điều kiện kinh tế hiện vật, các quan hệ lệ thuộc trực tiếp mang
hình thái là quan hệ cống – nạp, giao nộp, cướp bóc và tước đoạt, có tính chất áp đặt, áp bức. Có
thể nói, đây là những quan hệ phi kinh tế. Trong hình thái phi kinh tế, kinh tế tiểu nông chưa xác
lập thành một hệ kinh tế với tính cách là hệ biến hóa khiến cho sự thăng tiến của của cải thành
một tất yếu kinh tế, hay thành một quy luật kinh tế nội tại.
Dạng lệ thuộc thứ hai là lệ thuộc công xã. Khi xã hội nguyên thủy tan rã và chuyển vào làn
sóng văn minh nông nghiệp thì đồng thời những quan hệ công xã cũng dần tan rã. Tuy nhiên, do
kinh tế sinh tồn quy định, các quan hệ công xã vẫn chưa thể bị các quan hệ nông nô thay thế hoàn
toàn. Ở những mức độ khác nhau, nó còn cần thiết cho việc bảo đảm xã hội trong quan hệ duy trì
sự sinh tồn. Về mặt kinh tế, các quan hệ công xã về ruộng đất trong quan hệ duy trì khẩu phần
ruộng đất, thực chất là duy trì khẩu phần lương thực cho người dân trong công xã sinh tồn. Kinh
tế sinh tồn càng nặng, tức sức sản xuất của kinh tế tiểu nông càng nhỏ bé, năng suất càng thấp và
tế kém phát triển của làn sóng nông nghiệp vận động trong một vòng luẩn quẩn không lối thoát.
Trên thực tế lịch sử thì làn sóng nông nghiệp đã tiến triển trong sự ngưng đọng và kéo dài hàng
ngàn năm và cuối cùng cách mạng công nghiệp đã phá vỡ vòng luẩn quẩn đó và lật đổ kết cấu
nông nghiệp, xác lập kết cấu công nghiệp, vạch ra thời đại công nghiệp, thời đại kinh tế phát
triển. Để hiểu rõ về vai trò lịch sử của cách mạng công nghiệp trong việc xác lập thời đại kinh tế
25