Tạp chí Khoa học 2011:17b 282-288 Trường Đại học Cần Thơ
282
SỰ THUẦN CHỦNG VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN
CỦA CÂY TRẦU KHÔNG (PIPER BETLE) VÀ CÂY LỐT
(PIPER LOLOT) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Huỳnh Kim Diệu
1
và Nguyễn Thành Văn
ABSTRACT
Total 30 leaf samples of Piper betle and 30 leaf samples of Piper lolot cultivated in
different places in the Mekong Delta provinces were collected. Their leaves were used for
protein electrophoresis employing the SDS-PAGE method and testing the antibacterial
susceptibilities expressed as minimum inhibitory concentrations (MIC) of eight selected
bacteria strains Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis, Escherichia coli,
Pseudomonas aeruginosa, Salmonella spp., Aeromonas hydrophila, Edwardsiella ictaluri
and Edwardsiella tarda. There were 13 different protein bands of these 30 Piper betle
leaves and 15 different protein bands of Piper lolot leaves were discovered. Their protein
bands were 3.33% and 63% polymorphic while the polymorphic individuals were 7.69
and 53%, and the phenotypic diversity value (Ho) = 3.84 và 1.3, the genetic diversity
value H
EP
= 0.79 and 0.18 and sum of the effective number alleles SENA= 3.76 and 0.21.
Piper betle had strong bacterial activity against tested bacteria (divided into 7 groups),
especially against Edwardsiella tarda, Staphylococcus aureus,
Pseudomonas aeruginosa,
Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila (MIC=128-512 µg/ml). Piper lolot
(divided into 3 groups) had weaker bacterial activity against tested bacteria, except
against Edwardsiella ictaluri with MIC=256 µg/ml.
Keywords: Piper betle, Piper lolot, protein electrophoresis, minimum inhibitory
1
Khoa NN & SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ
Tạp chí Khoa học 2011:17b 282-288 Trường Đại học Cần Thơ
283
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Lá Trầu Không (Piper betle) thường được dân gian sử dụng trị cảm, sốt nóng,
nhức mỏi, chữa rắn cắn, chữa bệnh chàm mặt của trẻ em, vết thương nhiễm trùng
có mủ sưng đau, hắc lào, mề đay, ghẻ ngứa, sâu kiến đốt, bỏng, viêm quanh răng,
dùng phòng trị bệnh viêm họng, bệnh bạch hầu; nước pha lá Trầu Không còn được
dùng làm thuốc nhỏ mắt chữa viêm kết mạc, chữa viêm tai, trị đau bụng đầy hơi,
tiêu chảy, nôn mửa; một số bệnh viện còn dùng lá Trầu Không nấu thành cao chữa
bệnh viêm cận răng hiệu quả (Võ Văn Chi, 1991; Đỗ Tất Lợi, 2003; Đỗ Huy Bích
et al., 2004). Lá Lốt (Piper lolot); cũng giống Trầu Không cây Lốt đã được dân
gian sử dụng nhiều trong trị nôn mửa, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy và
cũng trị nhức răng, giải độc nấm và trị rắn cắn (Bùi Chí Hiếu, 1999). Hai cây Trầu
không và Lá Lốt cùng họ Hồ tiêu Piperaceae và đã được sử dụng nhiều trong dân
gian. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào cho biết sự thuần chủng của hai cây này.
Để góp phần tìm hiểu về những cây thuốc này, nghiên cứu về sự thuần chủng của
Trầu Không và Lốt được thực hiện. Mục đích từng bước chọ
n lọc ra những dòng
có hoạt tính cao.
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.1 Vật liệu
- Lá Trầu Không: Mẫu thu tại tỉnh Kiên Giang
- Lá Lốt: Mẫu thu tại Lai vung, Lấp vò - tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ
- Sử dụng các chủng vi khuẩn:
+ Chủng vi khuẩn nguồn gốc từ viện Pasteur Tp Hồ Chí Minh:
Staphylococcus aureus (Staph.), Streptococcus faecalis (Strep.), Escherichia coli
- f
i
là tần số xuất hiện dãy băng protein i. Qui định tần số của những dãy băng
protein được thấy bằng mắt thường, nếu có hiện diện cho điểm là 1, nếu không
hiện diện cho điểm là 0.
- n là số dãy băng protein hiện diện.
Tạp chí Khoa học 2011:17b 282-288 Trường Đại học Cần Thơ
284
- Nếu Ho
= 0 chứng tỏ tính thuần chủng cao, nếu giá trị Ho lớn chứng tỏ có sự đa
dạng về di truyền, tức cây không thuần chủng.
- H
EP
biến thiên từ 0 đến 1, nếu trị số H
EP
nhỏ chứng tỏ tính thuần chủng cao, nếu
trị số H
EP
lớn chứng tỏ có sự đa dạng về di truyền.
- SENA được tính toán dựa vào xác định số allele hiệu quả.
- Sự đa dạng về hình thái của cá thể hay của các dãy băng protein được ghi nhận
khi sự biến đổi những dãy băng protein của nó < 90%.
2.2.2 Thử hoạt tính kháng khuẩn
Các cây có sự khác biệt về dãy băng protein được trồng lại trong cùng điều kiện
chăm sóc, dinh d
ưỡng. Sau khoảng 4 tháng, lá được hái thử hoạt tính kháng khuẩn.
- Lá Trầu Không và Lá Lốt được sấy khô và chiết ngấm kiệt với methanol, dịch
chiết đem cô quay dưới áp suất thấp thu được cao thô, dùng thử hoạt tính kháng
với giống thuần, giá trị SENA = 0, SENA càng lớn thì hiệu quả tác động càng lớn
làm cho quần thể giống càng đa dạng. Kết quả phân tích cho thấy giá trị SENA
trên cây Trầu Không (3,76) cao hơn cây L
ốt (0,21), như vậy giá trị này đã góp
phần cho thấy sự đa dạng dòng của cây Trầu Không cao hơn cây Lốt. Mặc dù tỉ lệ
cá thể đa hình và tỉ lệ băng protein đa hình của lá Trầu Không (7,69% và 3,33%)
thấp hơn lá Lốt (53% và 63%). Dựa vào kết quả điện di protein, cây Trầu Không
được chia làm 11 dòng và cây Lốt được chia làm 5 dòng khác nhau.
Tạp chí Khoa học 2011:17b 282-288 Trường Đại học Cần Thơ
285
35,2 KDa
16,1 KDa
27,4 KDa
87,4 KDa
69,6 KDa
25 KDa
18,4 KDa
14,4 KDa
45 KDa
66.2 KDa
116 KDa
35 KDa
Mark
1
2
3
4
5
6 7 9
58,4 KDa
47,7 KDa
Hình 2: Phổ điện di protein Lá lốt
116 DKa
66,2 DKa
25 DKa
18,4 DKa
14,4 DKa
35 DKa
45 DKa
30 KDa
rất mạnh trên Edwardsiella tarda, Staphylococcus aureus,
Pseudomonas
aeruginosa, Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila
Dòng
Lốt
Vi khuẩn
Staph. Strep. E. coli Pseu. Sal.
A.
hydrophila
E.
ictaluri
E.
tarda
1 4096 - - 4096 - 4096 256 4096
2 - - - 4096 - - 256 4096
3
4096 - - 4096 - 4096 256 4096
4 - - - 4096 - - 256 4096
5 4096 - - - - 4096 256 2048
Dòng
Trầu
không
Vi khuẩn
Staph. Strep. E. coli Pseu. Sal.
A.
hydrophila
E.
Các vi khuẩn thử nghiệm Staphylococcus aureus và Streptococcus faecalis là
nhóm vi khuẩn gram dương gây viêm có mủ, viêm họng và Pseudomonas
aeruginosa là trực khuẩn mủ xanh gây mung mủ, viêm hoại tử, ở heo trưởng thành
Pseudomonas aeruginosa còn tiết độc tố và nội độc tố gây viêm bàng quang, viêm
âm đạo và viêm vú (Taylor, 1992). Escherichia coli là tác nhân chính gây tiêu
chả
y, E. coli là vi khuẩn có khả năng kháng thuốc nhanh nhất. Vi khuẩn
Salmonella có thể gây bệnh đường ruột cho người, gia súc và gia cầm gọi là bệnh
thương hàn, phó thương hàn, nhiễm trùng huyết và viêm ruột. Aeromonas
hydrophila gây bệnh đốm đỏ; Edwardsiella ictaluri là nguyên nhân chính gây
bệnh nhiễm trùng máu, bệnh gan thận mủ ở cá tra. Edwardsiella tarda, gây áp xe
gan thận, gây bệnh trên tôm càng xanh (Quinn, 1994). Edwardsiella tarda còn lây
nhiễm từ cá sang người gây tiêu chảy, viêm hệ thống niệu, viêm màng não, viêm
nội tâm mạc, viêm dạ dày ru
ột, áp xe vòi trứng, áp xe vùng chậu; gây viêm dạ dày
ruột, nhiễm khuẩn dạ dày và ruột. Edwardsiella tarda cũng là nguyên nhân gây
viêm ruột già, áp xe ở gan và bệnh kiết lỵ ở người (Janda et al., 1991).
Kết quả hoạt tính kháng khuẩn đã giải thích được tại sao cây Trầu Không được dân
gian sử dụng sử dụng trị vết thương nhiễm trùng có mủ sưng đau, sâu kiến đốt,
bỏng, viêm quanh răng, dùng phòng trị bệnh viêm họng, bệnh b
ạch hầu; chữa viêm
kết mạc, chữa viêm tai, trị đau bụng đầy hơi, tiêu chảy, nôn mửa. Bên cạnh đấy,
kết quả nghiên cứu đã phát hiện ra khả năng trị được mầm bệnh thủy sản của lá
Trầu Không và lá Lốt (đặc biệt trên Edwardsiella ictaluri và Edwardsiella tarda).
Thông qua Kết quả điện di protein đã giúp chọn lọc dòng Lốt và Trầu Không có
hoạt tính kháng khuẩn cao. Các dòng có hoạt tính cao này hy vọng s
ẽ là tiềm năng
thay thế kháng sinh trong tương lai.
4 KẾT LUẬN
Cây Lốt và Trầu Không đều không thuần chủng, chúng có nhiều dòng (Lốt 5 dòng
State University Press/ Ames, Iowa U.S.A.
Thanh V.C., Nguyen T.N., Hirata Y. and Thuong N.V. (2003), Antenna protein diversity of
prawns (Macrobrachium) in the MeKong Delta, Biophere Conservation, 5:11-17.
Trương Công Quyền và cộng tác viên (1986), Thực hành dược khoa, NXB Y học.
Từ Minh Koóng và cộng tác viên (2001), Kỹ thuật sản xuất dược phẩm Tập I, Trường Đại
học Dược Hà Nội.
Tu Thanh Dung, Freddy H., Nguyen A.T., Patric S., Margo B. and Annemie D. (2008),
Antimicrobial susceptibility pattern of Edwardsiella ictaluri isolates from natural
outbreaks of Bacillary necrosis of Pangasianodon hypophthalmus in Vietnam, Microbial
drug resistance, 14(4): 311-316.
Võ Văn Chi (1999), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học.