BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Mai Phương
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI, PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành: Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên)
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐẶNG VĂN PHAN Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
THƯ
VIỆN
LỜI CẢM ƠN
HDR (Human Development Report): Báo cáo phát triển con người
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm trong nước
GDP/người: Tổng sản phẩm trong nước bình quân trên đầu người
MDG (Millennium Development Goals): Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ
PPP (Purchasing Power Parity): Sức mua tương đương
UNDP (United Nations Development Programme): Chương trình Phát triển Liên
hiệp quốc
WB (World Bank): Ngân hàng Thế giới
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, lợi thế phát triển của thế giới không chỉ là điều kiện tự
nhiên hay nguồn lực tài chính, thay vào đó là con người và trí tuệ con người. Thực tiễn
cho thấy, từ phương diện đầu tư cho phát triển thì việc đầu tư vào yếu tố con người,
không ngừng nâng cao vốn con người được coi là đầu tư có hiệu quả nhất. Kinh
nghiệm một số quốc gia phát triển khẳng định chiến lược ưu tiên đầu tư có định hướng
cho con người thông qua việc đẩy mạnh chi tiêu một số lĩnh vực xã hội: giáo dục, y tế,
an sinh xã hội và xoá đói giảm nghèo… đã làm nên những bước tiến thần kỳ trong tăng
trưởng kinh tế và đổi mới xã hội.
Năm 1990, Báo cáo phát triển con người UNDP đã đưa ra một phương pháp, một
cách tiếp cận theo những tiêu chí mới trong việc đánh giá sự phát triển con người thông
qua chỉ số HDI. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ta, phát triển con
người một cách toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt trong mọi chính sách của Đảng
và Nhà nước. Đại hội Đảng lần thứ IX, tháng 4 năm 2001, đã xác định một trong
những mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 là:
“Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta”. [I, tr.160]. Điều đặc
biệt là lần đầu tiên chỉ số phát triển con người HDI đã cùng những chỉ tiêu tăng GDP
trở thành mục tiêu chiến lược của cả đất nước, cả dân tộc.
Để thực hiện được mục tiêu đó, xem xét, phân tích mối tương quan giữa hai chỉ
số HDI và GDP là rất cần thiết cho việc xác định ưu tiên và tiến độ thực hiện thích hợp.
Sông Cửu Long với các vùng khác và cả nước.
Đánh giá mối tương quan qua lại giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển
kinh tế và phát triển giáo dục với các vấn đề đặt ra:
+ Mức độ tương thích của các chỉ số này;
+ Ý nghĩa của mỗi chỉ số vào đóng góp tăng lên của HDI;
+ Sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau theo chiều thuận hay nghịch;
+ Những nhận xét, quan điểm, kiến nghị nào được đưa ra…
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là những chỉ số phát triển con người
HDI; chỉ số tăng trưởng kinh tế mà đại diện là chỉ tiêu GDP, GDP/người và chỉ số phát
triển giáo dục… trên phạm vi 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
Đề tài nghiên cứu với nguồn dữ liệu cơ bản là năm 1999 và 2004, dựa trên Báo
cáo phát triển con người Việt Nam 2001 và 2006 điều tra đến từng tỉnh thành phố của
cả nước. Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng nguồn số liệu từ Niên giám thống kê hàng
năm của các tỉnh, thành phố Đồng bằng Sông Cửu Long.
Dựa trên số liệu gộp với các quan sát là 13 tỉnh, thành phố Đồng bằng Sông Cửu
Long trong giai đoạn 1999-2004, đề tài áp dụng hàm Forecast để mở rộng nghiên cứu
mối tương quan giữa các chỉ số đến năm 2007.
4. Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Hệ thống quan điểm
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống và được
xem là đặc trưng của Địa lý học. Đó là khi xem xét các sự vật hiện tượng địa lý phải
đặt chúng trong mối quan hệ về không gian. Quan điểm này luôn chiếm được sự đồng
thuận cao bởi trong thực tế các sự vật và hiện tượng địa lý luôn luôn có sự phân hóa về
mặt không gian, làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác. Trong quá
trình nghiên cứu đề tài, tác giả luôn đặt các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long trong mối quan hệ không gian của vùng và của vùng với các vùng khác trong cả
nước để so sánh và đánh giá.
- Quan điểm hệ thống: Con người và sự phát triển con người, cũng như các quá
lí. Sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và
toàn diện hơn. Các bản đồ trong đề tài được thành lập bằng phần mềm Mapinfo 7.5,
dựa trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập và xử lý. Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối
quan hệ địa lí thông qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ.
- Phương pháp khảo sát: là phương pháp cần thiết để tăng thêm độ tin cậy của các
nguồn tài liệu thu thập và tính khách quan cho đề tài.
- Phương pháp lượng hoá: làm tăng tính định lượng trong khi lập luận nghiên cứu
các sự vật, hiện tượng địa lý, sẽ làm giảm đi sự suy đoán định tính.
5
- Phương pháp dự báo: Đề tài sử dụng phương pháp dự báo dựa trên cơ sở tính
toán từ các số liệu đã thu thập được và sự phát triển có tính quy luật của các sự vật,
hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo tính
khoa học và đưa ra được những dự báo chính xác, hợp lí... cần phải tham khảo ý kiến
của các chuyên gia, những nhà nghiên cứu về con người, nguồn nhân lực, về kinh tế
học giáo dục...
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu này thực sự có ý nghĩa và mang tính thực tiễn, tính nhân văn cao, vì
các lý do sau:
- Giải thích một cách khoa học mức đóng góp của tăng trưởng kinh tế vào việc
tăng lên của chỉ số HDI; cũng như biểu đạt phần đóng góp của nhân tố giáo dục vào
chỉ số HDI. Sự đóng góp là hợp lý hay không;
- Nhận định được tiềm năng của giáo dục có thể tác động vào sự gia tăng của
thu nhập kinh tế;
- Tạo một cơ sở lý luận khoa học vững chắc để giải quyết các vấn đề này. Có
những biện pháp thúc đẩy, tăng cường nhằm nâng cao chỉ số HDI trong tương lai,
làm cho cuộc sống mọi người dân tốt đẹp hơn.
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp, các ngành chỉ đạo thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội; trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy…
6. Cấu trúc của luận văn
gia, xếp quốc gia này vào nhóm nước đã phát triển hay xếp quốc gia kia vào nhóm
nước đang phát triển. Bất bình đẳng xã hội, sự nghèo khó cùng cực của một bộ
phận dân cư, sự xuống cấp của môi trường tự nhiên và xã hội… tất cả đều được
chấp nhận như là cái giá phải trả cho sự phát triển, nói cho chính xác hơn là trả cho
sự tăng trưởng. Tuy nhiên thực tế cho thấy tại nhiều quốc gia, GDP/người tăng
nhưng thất nghiệp và nghèo đói cùng cực cũng tăng theo hoặc không giảm; khoa
1
Báo cáo phát triển con người 2001 – Đổi mới vì sự phát triển con người. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2001, trang 28.
7
học kỹ thuật phát triển giúp con người bay lên cung trăng nhưng tỷ lệ người mù
chữ, người không có nước sạch, người không được hưởng các dịch vụ y tế tối thiểu
cũng tăng; vệ tinh truyền hình biến thế giới thành “ngôi làng” nhưng phần lớn cư
dân lại đói thông tin và bị tước mất cơ hội để phát triển;… Truớc những nghịch lý
trên, quan niệm rằng cứ tăng thu nhập đầu người là có thể đem lại sự phồn vinh cho
quốc gia đã sụp đổ. Hơn nữa, một quốc gia có GDP/người cao chưa hẳn là xây dựng
được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – một ước mơ từ ngàn năm của loài
người. Người ta nhận ra rằng thật là nông cạn và phiến diện khi đo trình độ phát
triển của một xã hội mà chỉ dùng tiêu chí là GDP/người, tỷ lệ tăng GDP hàng năm
hay các chỉ tiêu về của cải tiện nghi vật chất.
Đến những năm 70, người ta chuyển sang quan niệm tăng trưởng phải có phát
triển, hiểu là tăng trưởng nguồn thu nhập kinh tế phải kéo theo những biến đổi tích
cực trong đời sống xã hội và đời sống con người, cả vật chất lẫn tinh thần. Vấn đề
tăng trưởng kinh tế được gắn với vấn đề phát triển văn hóa – xã hội, phát triển con
người. Từ đó, phát triển bền vững dần trở thành tư tưởng trung tâm trong nhận thức
về phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế, tăng
nguồn vốn, đó còn là bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên của trái đất mà thế hệ
chúng ta đang “vay” của thế hệ sau, đó còn là bảo vệ sự đồng thuận của cộng đồng
trí lực, tâm lực, thái độ sống và lao động, hiệu quả lao động. Muốn phát triển nguồn
lực con người mạnh mẽ, cần chú ý 5 yếu tố:
- Giáo dục và đào tạo
- Sức khỏe và dinh dưỡng
- Môi trường
- Việc làm
- Tự do chính trị và kinh tế
Trong 5 yếu tố này thì giáo dục và đào tạo là quan trọng nhất.
1.1.2. Quan niệm phát triển con người
Năm 1990, lần đầu tiên một cách hiểu mới về phát triển được công bố trong
báo cáo của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Báo cáo phát triển
9
con người (Human Development Report-HDR). Báo cáo đã được mở đầu bằng
đoạn sau: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và
mục đích của phát triển là để tạo ra môi trường thuận lợi cho phép con người được
hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe và sáng tạo. Chân lý đơn giản này rất hay bị
người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính”
2
. Lời mở đầu
này đã chính thức tuyên chiến với quan niệm lạc hậu về phát triển đã ngự trị suốt
một thời gian dài và đưa con người từ vị trí là một nhân tố sản xuất góp phần làm
tăng trưởng kinh tế, là một động lực kinh tế hướng đến vị trí con người là trung tâm
- vừa là động lực vừa là mục tiêu đích thực của phát triển.
1.1.2.1. Triết lý con người là trung tâm của UNDP
Theo UNDP, mục tiêu của phát triển không chỉ là phát triển kinh tế hoặc xã
hội mà chính là phát triển con người. Lịch sử đã ghi nhận những trường hợp có phát
triển trong kinh tế nhưng không có phát triển xã hội hoặc tưởng rằng có phát triển
xã hội nhưng con người lại bị gạt ra bên lề của sự phát triển đó.
Quan niệm phát triển con người có 5 đặc trưng cơ bản:
- Một là đặt con người ở trung tâm sự phát triển;
mở mang các năng lực và các hoạt động của con người. Năng lực được UNDP
quan niệm là khả năng đạt đến các mục tiêu được lựa chọn và thực hiện các chức
năng có liên quan một cách đầy đủ, hiệu quả và lâu dài. Các năng lực cần được mở
rộng bao gồm các năng lực sinh thể (trước hết là sức khỏe) và các năng lực tinh thần
(trước hết là tri thức). Sau đó là năng lực tham gia, năng lực tổ chức thực hiện và
năng lực hưởng thụ kết quả. Nhận thức như vậy giúp chúng ta thấy tầm quan trọng
của chăm sóc sức khỏe và giáo dục ở gia đình và cộng đồng đối với việc mở mang,
bồi dưỡng năng lực con người.
Các hoạt động cần được mở rộng bao gồm các hoạt động lao động và nghỉ
ngơi. Như vậy mở rộng các hoạt động sẽ làm cho con người có khả năng sử dụng
tốt hơn năng lực sinh thể và tinh thần của mình cả trong công việc lẫn nghỉ ngơi
(C.Mác đã từng ví von rằng thời gian rỗi rãi chính là không gian để phát triển nhân
cách). Con người phải được sống trong môi trường tự nhiên và xã hội mà ở đó khả
năng sáng tạo, được sống khỏe mạnh, thọ lâu, được học hành, quyền tự do chính trị
và quyền tự do cá nhân không ngừng tăng lên.
3
Kinh tế học của các nước phát triển. E.Wayne Nafzinger. Nxb Thống kê. Hà Nội, 1998, trang 65.
11
Quan niệm phát triển đầy tính nhân văn về con người không chủ trương sự
phát triển mang tính bình quân, ai cũng như ai mà hướng tới việc tạo ra sự bình
đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, phân bố năng lực công bằng hơn trong các
cộng đồng dân cư. Chính vì vậy, nhà quản lý xã hội cần quan tâm sâu hơn, có biện
pháp tích cực hơn đối với các nhóm người “yếu thế” và dễ bị tổn thương trong dân
cư. Đó là những người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc ít người, cư dân vùng
sâu, vùng xa, phụ nữ… Việc đảm bảo yêu cầu được ăn, mặc, ở, trị bệnh, được cung
cấp thông tin cho các nhóm người nói trên chính là nhằm bảo đảm việc phát triển
các năng lực cơ bản cho họ, rút ngắn dần sự bất bình đẳng trong việc lựa chọn cơ
hội phát triển, phân bổ năng lực công bằng hơn trong các nhóm dân cư khác nhau.
Có thể tóm lược quan niệm của UNDP về phát triển con người như sau:
nhưng sớm được sự đồng tình rộng rãi trên thế giới. Điều đó được thể hiện qua các
con số sau đây: Năm 1999, 120 nước đã công bố Báo cáo phát triển con người. Ở
Ấn Độ, có bang còn tự đo đạc HDI. Nhiều chính phủ đã lấy HDI làm căn cứ để đề
xuất chính sách và chiến lược phát triển quốc gia.
Tuy nhiên cần lưu ý một điều là các chuyên gia UNDP vẫn khuyên các nước
trong quá trình tự tính HDI nên bổ sung hoặc thay thế các thành phần cơ bản trong
công thức tính bằng những thành phần khác phù hợp hơn với tình hình thực tế của
từng quốc gia.
Triết lý con người là trung tâm của UNDP còn được tiếp tục phát triển lên tầm
cao hơn trong Tuyên bố Thiên niên kỷ ra đời tháng 9 năm 2000 tại Hội nghị thượng
đỉnh của Liên Hiệp Quốc ở New York. Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
(Millennium Development Goals – viết tắt là MDG) được 189 nguyên thủy quốc
gia (trong đó có Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức
Lương) thông qua tại hội nghị này là một kế hoạch mang tính toàn cầu được các
chính phủ cam kết thực hiện bằng nhiều hoạt động rộng lớn trong đó có hoạt động
phát triển con người. MDG xác định một hệ thống tổng hợp 8 mục tiêu ưu tiên của
các chính phủ trên lĩnh vực kinh tế - xã hội với một hệ thống các nhiệm vụ được
lượng hóa trong 18 chỉ tiêu với 48 chỉ số giám sát sự tiến bộ trong từng giai đoạn.
13
Triết lý của MDG gắn kết chặt với triết lý con người là trung tâm. Đó là nâng
cao các giá trị tự do, bình đẳng, đoàn kết, khoan dung, tôn trọng môi trường. Đó là
nâng cao quyền con người, mở rọng sự lựa chọn, phát triển kinh tế và xã hội gắn liền
với công bằng, hợp tác toàn cầu để cùng phát triển.
1.1.2.2. Quan điểm vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam
Triết lý phát triển con người của UNDP nhanh chóng tìm được sự cộng hưởng
ở Việt Nam là nhờ bắt gặp truyền thống “thương người như thể thương thân” của
người Việt Nam, lý tưởng giải phóng con người của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng
di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại.
Trong Di chúc viết năm 1969, Hồ Chí Minh mở đầu một cách hết sức tự nhiên
chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức
mạnh của nhân tố con người và vì con người. Kết hợp hài hòa giữa sự phát triển
kinh tế với sự phát triển xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của
nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã
hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội là động lực phát triển kinh tế. Quan điểm vì
con người này đã được Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ghi rõ trong điều 2: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…”.
Hội nghị lần thứ tư BCHTƯ Đảng khóa VII đã đúc kết quan điểm nhân văn vì
con người của Đảng như sau: “tất cả là do con người, tất cả vì hạnh phúc con người,
chúng ta coi con người là nhân tố quyết định, là động lực to lớn, là chủ thể sáng tạo
mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội; đồng thời, coi hạnh phúc con
người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chúng ta”
Quan điểm phát triển con người còn được tiếp tục thể hiện sâu hơn khi Hội
nghị lần thứ năm BCHTƯ khóa VIII xác định rằng “… không quan tâm giải quyết
tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể
có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững”.
15
1.1.3. Quan niệm phát triển giáo dục
Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, là nền tảng cơ bản để phát triển bền
vững cho một quốc gia, dân tộc. Vì giáo dục chính là trụ cột của một quốc gia để tạo
dựng, giữ gìn và phát triển hệ giá trị xã hội.
Ngoài chức năng bao trùm trên, giáo dục còn mang một nhiệm vụ không kém
phần quan trọng, đó là đảm bảo sự tồn tại và phát triển hay cụ thể hơn là hiện thực
hóa quyền bình đẳng về cơ hội vào đời và tạo dựng cuộc sống của mỗi cá nhân trong
xã hội. Bởi, để đạt được điều đó thì họ phải có cơ hội, ai cũng như ai, tiếp thu những
giá trị, tri thức và kỹ năng mà nền giáo dục đã đưa lại cho họ.
Phát triển giáo dục không chỉ dừng lại phục vụ cho những cái hiện tại cần, phản
ánh những cái hiện tại đang diễn ra mà cao hơn, thiêng liêng hơn là giáo dục phải xây
1. Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được đo bằng Tuổi thọ trung
bình (đơn vị tính: năm)
2. Học vấn: được đo bằng Tỷ lệ người lớn biết chữ (đơn vị tính: %) và Tỷ lệ
nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học, đại học (đơn vị tính: %). Từ
năm 1995 trở về trước chỉ tiêu này chưa được sử dụng, thay vào đó là chỉ
tiêu Số năm học trung bình).
3. Mức sống: được đo bằng GDP thực tế bình quân đầu người (đơn vị tính:
PPP/USD).
Hình 1.1: Sơ đồ mô tả tổng quát cách xây dựng chỉ số phát triển con người
17
Chỉ số HDI là một thước đo tương đối tổng hợp, vượt ra khỏi khía cạnh kinh
tế thuần tuý về sự phát triển, bổ sung cho thước đo GDP, dẫu quan trọng, nhưng còn
phiến diện và sai lệch. Có thể nói, với HDI, việc đánh giá về thành tựu phát triển
chân thực hơn tính mục tiêu của nó. Theo thời gian, HDI không chỉ phản ánh trạng
thái và những tiến bộ về phát triển con người, mà còn là một căn cứ để xác định và
lựa chọn các mục tiêu và chính sách phát triển.
HDI là một chỉ số còn tương đối đơn giản, không bao quát hết tính phong phú,
nhiều mặt của sự phát triển con người. Nó chỉ phản ánh gián tiếp, do đó chưa đầy
đủ và còn bỏ qua một số khía cạnh có liên quan đến chất lượng cuộc sống của con
người như chính trị, văn hoá, môi trường hay mức độ tham gia của người dân. HDI
của một quốc gia chỉ là một chỉ số trung bình, do đó, cũng như GDP, nó có thể che
lấp các quá trình phân phối, tình trạng bất bình đẳng, hay sự khác biệt về phát triển
con người giữa các vùng và các nhóm dân cư. Nó có thể không làm nổi bật được
những thách thức cần được ưu tiên giải quyết của một quốc gia trong tiến trình phát
triển. Các khía cạnh chất lượng của các yếu tố cấu thành HDI cũng khó có thể phản
ánh đầy đủ: trình độ giáo dục thật ra không chỉ thể hiện bằng tỷ lệ biết chữ hay số
năm đi học mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất lượng giáo dục, khả năng
và cơ hội lựa chọn của người học, đặc biệt với giáo dục bậc cao. Nhận xét này cũng
có thể áp dụng cho các yếu tố khác của HDI.
một tập hợp dân số trong cuộc đời kể từ khi sinh ra.
Tuổi thọ trung bình của dân số là một trong những chỉ tiêu cơ bản của bảng
sống, được tính bằng cách lấy tổng số năm mà toàn bộ thế hệ sống được (tổng số
năm người sống T
0
) chia cho tổng số sinh ban đầu của thế hệ đó (I
0
).
Chỉ số tuổi thọ bình quân đo thành tựu tương đối về tuổi thọ bình quân tính từ
lúc sinh của một quốc gia hay địa phương. Công thức tính chỉ số tuổi thọ bình quân
như sau:
Chỉ số tuổi thọ trung bình =
1.2.1.2. Chỉ số giáo dục
Chỉ số phát triển giáo dục (kí hiệu E
1
) của một cộng đồng phản ánh trạng thái
phát triển giáo dục cộng đồng trong mối quan hệ với các khía cạnh của phát triển
kinh tế - xã hội.
Tuổi thọ bình quân thực tế - 25
85 - 25
19
Kinh tế học giáo dục xuất phát từ quan điểm “Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là
động lực cho sự phát triển” nên coi chỉ số E
1
vừa biểu thị tình trạng phúc lợi giáo
dục – một phúc lợi quan trọng mà cư dân cộng đồng được thụ hưởng vừa biểu thị
tiềm năng của giáo dục có thể tác động vào sự gia tăng của thu nhập kinh tế.
100 - 0
Chỉ số người lớn biết chữ =
20
Với cách tính này thì E
1
có Max = 1 và Min = 0
Phân loại chỉ số phát triển giáo dục thành 3 mức sau:
E
1
≥ 0,75: mức cao
0,5< E
1
< 0,75: mức trung bình
E
1
< 0,5: mức thấp
1.2.1.3. Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP
Tổng sản phẩm trong nước - GDP là giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
được tạo ra của nền kinh tế trong khoảng thời gian một năm. Thuật ngữ “hàng hóa
và dịch vụ cuối cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị hàng hóa và dịch vụ
sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm.
Khi so sánh các số liệu thống kê kinh tế giữa các nước, các số liệu trước hết
phải được chuyển về cùng một đơn vị tiền tệ. Để so sánh mức độ GDP thực tế tính
trên đầu người giữa các nước trước hết GDP thực tế của các nước phải được tính
theo tỷ giá trao đổi theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity – PPP).
Phương pháp chuyển đổi GDP thực tế của các nước theo tỷ giá PPP loại trừ được sự
r
: Chỉ số giá tiêu dùng của vùng r.
Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP được tính bằng chỉ tiêu GDP thực tế bình
quân đầu người theo sức mua tương đương. Trong chỉ số HDI, thu nhập đóng vai
trò là đại diện cho mọi thước đo khác về sự phát triển con người chưa được phản
ánh trong các thước đo về tuổi thọ hay kiến thức. GDP bình quân đầu người đạt đến
một mức độ nhất định là có thể thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người. Vượt lên
trên giới hạn đó, thì tác dụng của thu nhập không tăng lên theo tỷ lệ thuận mà sẽ hạn
chế dần. Do đó, thu nhập sẽ được điều chỉnh vì để đạt được một mức độ đáng kể về
sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoản thu nhập vô hạn. Do đó
từ năm 1999 khi tính chỉ số thu nhập sẽ dùng hàm logarit để điều chỉnh (từ 1990
đến 1998 sử dụng công thức chiết khấu khác).
Chỉ số thu nhập đầu người = (GDP tính theo phương pháp sức mua tương đương qui ra dollar Mỹ)
1.2.2. Tính chỉ số HDI
Khi tính được các chỉ số thành phần thì việc tính chỉ số HDI sẽ rất đơn giản.
Đó là giá trị trung bình chung của cả 3 chỉ số thành phần trên. Chỉ số HDI là số
trung bình cộng của các số sau: chỉ số tuổi thọ trung bình, chỉ số giáo dục và chỉ số
GDP thực tế bình quân đầu người.
HDI = 1/3 (chỉ số tuổi thọ trung bình + chỉ số giáo dục + chỉ số GDP thực tế
bình quân đầu người)
Lưu ý: Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục, GDP và HDI đều nhận giá trị từ 0 đến 1.
Giá trị của các chỉ số này càng gần tới 1 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng
càng cao (với 1 là thứ hạng cao nhất), ngược lại, các chỉ số càng gần 0 có nghĩa là
trình độ phát triển và xếp hạng càng thấp.
K
thì được xem là có đạt
mức tương thích trung bình về phát triển kinh tế - phát triển con người; phần đóng
góp của kinh tế vào phát triển con người đạt mức trung bình.
- Nếu 75,0
H
K
thì tương thích này là thấp, kinh tế đóng góp, tác động còn ít
vào phát triển con người.
HDI
GDP bình
quân đầu
người PPP
USD
Tuổi thọ
trung bình
(năm)
Tỷ lệ đi học các cấp
(%, với quyền số 1/3)
Tỷ lệ biết
chữ của người dân
từ 15 tuổi trở lên
(% với quyền số 2/3)
Giáo
dục
Mức
sống