MỘT SỐ TRẬN LŨ ĐIỂN HÌNH VÀ PHÂN VÙNG NGẬP LỤT
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
SOME TYPICAL FLOODS AND FLOOD ZONING
IN THE MEKONG DELTA
GS.TS. Trần Như Hối
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
Tóm tắt:
Diễn biến lũ lụt ở ĐBSCL có thể được hình dung và được nhận diện thông qua
một số trận lũ lụt lớn điển hình trong gần 45 năm qua. Bức tranh ngập lụt toàn vùng
cho một cái nhìn khái quát để từ đó phân vùng ngập lụt phục vụ kế hoạch kiểm soát lũ.
Abstract:
Flood change in the Mekong delta has been figured and identified by some
typical floods during 45 years. The flooding scenery of the whole area has given a
general view and from that to zone the flood areas for flood control planning.
→Diễn biến lũ lụt ở ĐBSCL có thể được hình dung ra và được nhận diện thông
qua một số trận lũ lụt lớn điển hình. Thông thường, khoảng 4 ÷ 6 năm tại ĐBSCL có
một trận lũ lụt lớn Trong gần 45 năm qua, thì các năm 1961, 1978, 1984, 1991, 1994,
1996, 2000, 2001 và 2002 là những năm lũ lụt lớn.
I. Một số trận lũ điển hình tại ĐBSCL
1) Trận lũ năm 1961 có đỉnh cao nhất trong vòng gần 45 năm qua, hình thành do
mưa của 5 cơn bão đổ bộ vào VN, đặc biệt là 2 cơn bão số 8 và số 10, gây ra mưa lớn
ở hạ Lào và CPC. Lượng mưa tháng VIII và IX nhiều nơi đạt từ 500-700mm/tháng.
Tại Kratie, lưu lượng đỉnh lũ là 62400m3/s và tại Pnompenh khoảng 43400m3/s. Tổng
lưu lượng lũ trung bình tháng X trên sông Tiền tại Mỹ Thuận và sông Hậu tại Vàm
Cống là 42200 m3/s. Tại Tân Châu, Châu Đốc, lũ có dạng một đỉnh, xuất hiện hơi
muộn hơn trung bình. Đường quá trình lũ lên xuống nhịp nhàng, trơn đều. Từ đầu
tháng VII đến giữa tháng VIII, mực nước chỉ dao động ở mức từ 2,5→3,0m tại Tân
Châu và 2.0m ở Châu Đốc. Cuối tháng VIII, mực nước lũ lên nhanh, cường suất 7-
10cm/ngày liên tục trong gần 10 ngày. Sau đó, dao động ở mức 4.50m trong 10 ngày
rồi lên chậm trở lại trong gần 1 tháng để đạt đến đỉnh cao nhất. Đỉnh lũ tại Tân Châu là
5.12m vào ngày 10/X, tại Châu Đốc là 4,9m vào ngày 13/X, xuất hiện cùng kỳ đỉnh
ngày. Đỉnh lũ vào tháng X trùng kỳ triều cường và mưa lớn nội đồng nên ngập lụt lớn.
4) Trận lũ năm 1984. Mưa lớn do hai đợt gió mùa Tây - Nam liên tiếp nhau trong
cuối tháng VIII đầu tháng IX đã gây lũ lớn ở thượng trên sông Mekong. Lưu lượng
đỉnh lũ tại Kratie lên tới 62600m3/s. Lũ tại Tân Châu và Châu Đốc bắt đầu lên vào đầu
tháng VIII, nhưng nhờ vào đợt lũ lớn thượng nguồn đã lên nhanh hơn và đạt đỉnh thứ
nhất là 4,44m vào ngày 29/VIII tại Tân Châu, sau đó lên xuống chậm trong khoảng
7→10 ngày và lên trở lại để đạt đỉnh là 4,81m vào ngày 13/IX tại Tân Châu và 4,37m
vào ngày 15/IX tại Châu Đốc. Giữa tháng IX, lũ đã bắt đầu xuống nhanh cho đến đầu
tháng X, giữ ở mức 4.20m khoảng 15-20 ngày và tiếp tục rút nhanh vào cuối tháng X.
Tại thượng lưu, lũ 1984 có hai đỉnh, cách nhau khoảng 20 ngày, đỉnh sau cao hơn đỉnh
trước. Do điều tiết của Biển Hồ, lũ ở ĐBSCL chuyển thành dạng 1 đỉnh và đỉnh sau
bẹt đi nhiều và thành thời kỳ mực nước ít biến đổi. Mưa nội đồng không ảnh hưởng
lớn và thủy triều thấp, thuận lợi cho thoát lũ nên từ dưới Tân Châu, Châu Đốc, mực
nước cao nhất trên sông chính thấp hơn so với lũ 1978 chừng 5-25cm. Lũ rút sớm và
nhanh nên thời gian duy trì mực nước 4,50m chỉ có 34 ngày, ngắn hơn nhiều so với lũ
1978.
5) Trận lũ năm 1991. Mùa lũ được bắt đầu như hàng năm, hết tháng VII, mực nước
còn dưới mức 3m tại Tân Châu và 2,5m tại Châu Đốc. Đầu tháng VIII, lũ lên chậm và
còn dưới 3m. Ngày 15/VIII, bão FRED vào đèo Ngang qua Tây Nguyên, trung Lào và
bắc CPC, gây mưa lớn (563mm/tháng tại Pakse), gây lũ khá lớn ở thượng lưu. Lưu
lượng đỉnh lũ tại Kratie khoảng 64000m3/s, tổng lượng lớn nhất trong 90 ngày là 296
tỷ m3. Trên thượng lưu, lũ 1991 có dạng răng cưa với 3 đỉnh phụ và đỉnh chính lưu
lượng 63900m3/s tại Kratie. Vào ĐBSCL, lũ có dạng hai đỉnh với đỉnh chính xuất hiện
trước và đỉnh phụ xuất hiện sau 1,5 tháng. Từ 17/VIII, khi ở mức 2,87m, lũ tại Tân
Châu bắt đầu lên nhanh, đạt đỉnh là 4.80m ngày 13/IX. Cuối tháng IX, lũ rút dần,
nhưng sau lên lại và đạt đỉnh phụ vào đầu tháng X, thấp hơn đỉnh trước nhiều. Lũ 1991
Trang
2
có dạng gần giống lũ 1984. Lũ 1991 đứng hạng 4 về lưu lượng đỉnh nhưng lại đứng
hạng 17-19 về tổng lượng lũ tại Kratie và hạng thứ 11 về đỉnh tại Tân Châu,15 về đỉnh
nhanh với cường suất cao, có thời kỳ đạt 9-12cm/ngày (lớn nhất là 14cm/ngày) và từ
1-7/X lên chậm lại, chỉ 1-2cm/ngày để đạt đỉnh vào ngày 7/X với mực nước lớn nhất
487cm. Tại trạm Châu Đốc trên sông Hậu lũ cũng có diễn biến tương tự và đạt mực
nước cao nhất là 454cm vào ngày 7/X. Tuy lũ xuất hiện muộn (giữa tháng IX), nhưng
lên nhanh với cường suất hiếm thấy trên sông chính tại Tân Châu trong nhiều năm
qua, nên chỉ 20 ngày đã đạt đỉnh, trong khi ở các trận lũ khác thường phải từ 40-50
ngày mới đạt đến đỉnh. Lũ 1996 là lũ một đỉnh. Đỉnh lũ xuất hiện sớm hơn lũ
1961,1978 nhưng muộn hơn lũ 1991,1994. Triều cường trong tháng X làm gia tăng
đáng kể mực nước lũ phần thuộc các tỉnh Tiền Giang, Long An, Cần Thơ, Vĩnh Long
và Bến Tre. Mưa nội đồng tăng thêm ngập úng cho các tỉnh Kiên Giang, Cần Thơ,
Vĩnh Long và Tiền Giang. Diễn biến mực nước và dòng chảy lũ trong nội đồng phức
tạp hơn so với trước đây. Nếu như những năm trước đây lũ chảy từ sông Tiền vào
ĐTM qua kênh Hồng Ngự thì trong năm 1996, tình hình đã ngược lại: nước từ nội
đồng theo Hồng Ngự chảy rất mạnh ra sông Tiền trong thời gian dài trước, trong và
Trang
3
sau đỉnh lũ.
8) Trận lũ năm 2000. Đây là trận lũ lịch sử tại ĐBSCL. Các chuyên gia, nhất là
chuyên gia tư vấn về quy hoạch thủy lợi, nông nghiệp, giao thông…, đặc biệt quan tâm
đến trân lũ này và được phân tích chi tiết trong mục 1.2. Trận lũ năm 2000 ở ĐBSCL
có những điểm rất khác thường:
a. Đây là trận lũ dạng 2 đỉnh lớn, là dạng lũ ít gặp (1978,1984, ) ở ĐBSCL,
trong đó đỉnh thứ nhất trên dòng chính tại các trạm đầu nguồn đạt mức cao và
sớm lịch sử, đỉnh thứ 2 đạt mức cao nhất (tại Châu Đốc) hoặc đặc biệt cao (tại
Tân Châu) với 2 đỉnh xuất hiện cách nhau 51 ngày, lâu hơn những năm có lũ 2
đỉnh khác khoảng 10-20 ngày, gây ngập lụt lâu nhất và sâu nhất trong 80 năm
gần đây tại ĐBSCL;
b. Lũ lụt về sớm nhất lịch sử và các đỉnh lũ đều rất cao, trong đó đỉnh lũ vào ngày
2/8 (4,22m tại Tân Châu) cao hơn mực nước cùng kỳ trong các năm lũ lớn (như
1961,1966 và 1996) tới 1→1,5 mét và sớm hơn trung bình khoảng 1 tháng, còn
4
70cm. Dòng chảy lũ năm 2001 chủ yếu được hình thành từ phần lưu vực thuộc
Lào và Tây Nguyên VN, chiếm tới 70% tổng lượng lũ tại Kratie (tổng lượng lũ
từ tháng VI đến tháng X là gần 465 tỷ m3, đứng thứ 2 kể từ năm 1939 đến nay,
sau lũ năm 2000). Do mưa ở vùng lưu vực Biển Hồ thuộc CPC và ở ĐBSCL
thấp hơn TBNN khá nhiều, nên đỉnh lũ tại vùng Phnôm Pênh nhỏ hơn đỉnh lũ
năm 2000 khoảng 45cm, mặc dù đỉnh lũ tại Kratie năm 2001 cao hơn năm
2000.
2 Các đặc điểm chính của trận lũ năm 2001 tại ĐBSCL là:
- Lũ năm 2001 thuộc loại đặc biệt lớn và sớm (chỉ muộn hơn lũ năm 2000 khi lũ
thấp hơn báo động 3, còn khi lũ ở mức trên báo động 3 lại sớm nhất từ trước tới
nay), là dạng lũ 2 đỉnh cao rất bất lợi cho phòng tránh.
- Cường suất lũ lớn hiếm thấy: nước lên rất nhanh vào cuối tháng VIII, lớn nhất
tới 15-25cm/ngày ở vùng đầu nguồn, nhiều ngày lũ lên 30-50cm/ngày, là
trường hợp mới quan trắc thấy lần đầu tiên ở ĐBSCL.
- Lũ lụt lớn với đỉnh kép trên 4,7m xảy ra liên tiếp trong năm 2000 và 2001 là
trường hợp duy nhất quan trắc được trong 50 năm gần đây. Đỉnh lũ thứ nhất tại
Tân Châu là 4,73m vào ngày 3/IX và tại Châu Đốc là 4,45m vào ngày 5/IX;
đỉnh thứ hai tại Tân Châu là 4,78m ngày 20/IX, tại Châu Đốc là 4,48m vào
ngày 23/IX. Đỉnh lũ ở vùng nội đồng xuất hiện vào cuối tháng IX, đầu tháng X;
- Đặc biệt, do tác động kết hợp của lũ và triều rất cao (vào lúc đỉnh triều Vũng
Tàu mực nước lũ là 4,20 mét), và có thể do quy mô đắp đê bao sau trận lũ lịch
sử năm 2000 tăng đột biết ở vùng hạ lưu, nên đỉnh lũ tại vùng cuối nguồn đạt
mức cao nhất trong hơn 40 năm gần đây và cao hơn đỉnh lũ năm 2000: tại Mỹ
Thuận, đỉnh lũ là 1,83m (năm 2000 là 1,80 m); tại Cần Thơ là 1,98m (năm
2000 là 1,79m). Thời gian duy trì mực nước trên 4,50m ở Tân Châu là 47 ngày,
dài hơn so với lũ năm 2000.
- Lũ làm ngập sâu các vùng đầu nguồn, làm sạt lở nhiều công trình, đường giao
thông, bờ sông kênh, một số đê bao, bờ bao, ; ngập vừa và ngập nông ở vùng
giữa và cuối nguồn. Ngập lụt ở ĐTM và ở TGLX đều thấp hơn so với lũ năm
- Nhìn chung, các hướng chính thoát nước lũ, lụt từ ĐBSCL không có thay đổi gì
đáng kể so với trong các trận lũ lớn các năm trước, tuy mức độ thoát ở mỗi
hướng có khác biệt nhất định, ở một vài hướng có những thay đổi cơ bản so với
những nhận xét, đánh giá trước đây về khả năng thoát nước lụt từ ĐBSCL.
Những hướng chính là thoát lũ theo các dòng chính, về sông Vàm Cỏ và ra
Biển Tây năm 2001.
- Dòng chính sông Tiền và sông Hậu, sau khi được phân phối lại theo các kênh
và sông Vàm Nao, thoát lượng nước lũ gần tương đương nhau ra biển. Lưu
lượng lớn nhất trên sông Tiền tại Mỹ Thuận trong lũ năm 2000 là 17200m3/s
và trên sông Hậu tại Cần Thơ là 17700m3/s. Lượng nước thoát theo sông Hậu
lớn hơn theo sông Tiền một chút, song nếu tính cả lượng nước thoát từ ĐTM
qua QL1 (đoạn An Hữu - Long Định) sau đó lại trở lại sông Tiền thì tổng lưu
lượng thoát theo sông Tiền vẫn lớn hơn theo sông Hậu.
- Lượng nước thoát theo sông Vàm Cỏ trong lũ năm 2001 nhỏ hơn trong lũ năm
2000 không nhiều, chứng tỏ lũ thoát theo sông Vàm Cỏ khá thuận lợi. Lượng
nước lũ từ ĐTM thoát trở lại sông Tiền trên đoạn QL30 trong năm 2001 tuy
nhỏ hơn trong lũ năm 2000 nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các hướng
thoát. Cơ chế điền nước trong nội đồng cấu thành từ mạng ô đồng giới hạn bởi
các bờ bao, đường giao thông có cao trình vượt lũ năm 1996 hoặc 2000 và việc
xây dựng, cải tạo các kênh, bơ bao, cầu cống trên vùng nằm dưới QL1, QL30 là
nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tỷ lệ phân phối lượng nước vào/ra ĐTM.
- Cân bằng nước ở TGLX vẫn như trong các trận lũ lớn trước đây. Tổng lưu
lượng lớn nhất ngày thoát từ TGLX trong lũ chính vụ năm 2001 nhỏ hơn trong
lũ năm 2000. Tỷ lệ phân bố giữa các hướng về cơ bản tương tự như trong lũ lụt
năm 2000, chứng tỏ các công trình kiểm soát lũ vùng TGLX đã hoạt động khá
ổn định trong 2 năm lũ lớn. Tình trạng tiêu thoát vùng tứ giác Hà Tiên đã được
cải thiện nhiều, song vẫn cần xem xét để có biện pháp cải thiện hơn nữa.
- Ngập lũ ở vùng khu giữa sông Tiền - sông Hậu do nước 2 sông tràn vào là
Trang
6
+ Dòng chảy lũ năm 2002 chủ yếu được hình thành từ phần lưu vực thuộc Lào và
Tây Nguyên VN, chiếm tới 60% tổng lượng lũ tại Kratie (tổng lượng lũ từ tháng
VI→X là gần 456 tỷ m3, đứng thứ 4 kể từ năm 1939 đến nay, sau lũ năm 1961, 2000,
2001).
+ Do mưa ở vùng lưu vực Biển Hồ thuộc CPC và ở ĐBSCL tương đương với
TBNN, đặc biệt là trong tháng IX cao hơn khá nhiều với TBNN và tổng lượng mưa
cao hơn nhiều so với năm 2001, nên khả năng cắt đỉnh lũ của Biển Hồ kém hơn năm
2001: mặc dù đỉnh lũ năm 2000 tại Kratie thấp hơn năm 2001 gần 0,5m, nhưng lũ
2002 tại Phnôm Pênh đạt đỉnh tương đương lũ năm 2001.
+ Tại ĐBSCL, lũ năm 2002 thuộc loại đặc biệt lớn, sớm và lũ 2 đỉnh cao (tương
tự như lũ 1978 và 2001). Vào ngay từ đầu tháng VII, lũ sớm và lớn đã tràn về, tạo sức
ép lớn lên khu vực đầu nguồn vùng ĐBSCL. Nhất là cuối tháng VIII đến đầu tháng X
lũ uy hiếp liên tục, làm nên trận lũ hai đỉnh thuộc loại đặc biệt lớn và ít gặp ở ĐBSCL.
Trang
7
Nước lên rất nhanh vào đầu tháng VII và giữa tháng VIII, lớn nhất tới 25cm/ngày ở
vùng đầu nguồn, nhiều ngày lũ lên 30?35cm/ngày, thậm chí có ngày lên tới 0,43m tại
Tân Châu đầu tháng VII là trường hợp hiếm thấy lần ở ĐBSCL.
+ Đỉnh lũ thứ nhất tại Tân Châu là 4,60m vào ngày 29/VIII và tại Châu Đốc là
4,17m vào ngày 1/IX; đỉnh thứ hai tại Tân Châu là 4,82m ngày 30/IX, tại Châu Đốc là
4,42m vào ngày 23/IX. Đỉnh lũ ở vùng nội đồng xuất hiện vào cuối tháng IX, đầu
tháng X; đặc biệt, do tác động kết hợp của lũ, triều mạnh và các thay đổi của hạ tầng
vùng duyên hải (sau các trận lũ năm 2000 và 2001 tại phần ĐBSCL nằm dưới QL1),
nên đỉnh lũ tại vùng cuối nguồn đạt mức cao nhất trong hơn 40 năm gần đây: tại Mỹ
Thuận, đỉnh lũ là 1,91m; tại Mỹ Tho: 1,66m, tại Bến Lức: 1,45m.
+ Thời gian duy trì mực nước trên 4,50m ở Tân Châu là 35 ngày, đứng thứ 3 lịch
sử, sau các năm 1961, 2001. Ngập lụt ở vùng đầu nguồn và giữa ĐTM và ở TGLX
đều thấp hơn so với lũ năm 2000 từ 10-60cm, tương đương lũ năm 2001, đồng thời
xuất hiện khá chậm so với thời gian xuất hiện mực nước đỉnh ở Tân Châu và Châu
Đốc.
thống trị từ giữa tháng VIII là chảy ra sông Tiền, khác với hướng dẫn nước vào
đồng như trước đây). Nước thoát mạnh nhất là qua cầu Phong Mỹ, Cần Lố,
Đốc Vàng Hạ, Trà Lọt, Cổ Cò và nhiều kênh khác cắt qua QL1. Các kênh
ngang cũng có tác dụng dẫn nước lũ sang phía Vàm Cỏ.
3. Mức độ dẫn nước vào ĐTM và TGLX và thoát nước ra trong lũ sớm và lũ
chính vụ nhìn chung tương tự như trong lũ năm 2000.
+ Yếu tố triều tác động mạnh hơn và thường tạo đỉnh lớn nhất năm khi lũ bắt đầu
rút lại gặp triều đang cao. Quá trình mực nước có dạng dao động triều khá rõ. Biên độ
dao động từ 2.5-3.0m ở vùng ven biển, giảm còn 0.4-0.6m ở khu giáp vùng lũ - triều.
Ven biển, triều hoàn toàn chiếm ưu thế và mực nước cao nhất thuần tuý do triều.
Chênh lệch mực nước giữa các nơi không nhiều. Mực nước cao nhất trong vùng đạt từ
1.70-2.20m. Do hệ thống kênh rạch phát triển, triều đã ảnh hưởng mạnh hơn đến vùng
thứ 2, tác động nhất định đến quá trình nước rút.
II. Phân vùng ngập lụt ở ĐBSCL.
Vùng ngập, độ sâu và thời gian ngập lụt là những đặc trưng chính phản ánh tình
trạng ngập lụt ở ĐBSCL. Ngập lụt tại ĐBSCL do nhiều yếu tố (như: lũ thượng nguồn,
điều tiết của Biển Hồ, cơ sở hạ tầng, thủy triều và các biện pháp công trình phòng
tránh lũ) với tỷ lệ đóng góp khác nhau gây ra.
II.1. Theo nguyên nhân chính gây ngập có thể phân ra 4 vùng ngập như sau:
1. Vùng ngập lũ có nguyên nhân gây ngập chủ yếu do lũ. Ngập lụt ở ĐBSCL chủ
yếu là ngập lũ, mức độ ảnh hưởng của triều lên dạng đường quá trình lũ không
đáng kể hoặc chỉ biểu hiện rõ hơn vào kỳ cường và làm cho nước lũ khó tiêu
thoát hơn. Việc xác định độ ngập sâu chủ yếu dựa vào quan hệ giữa mực nước
lũ và cao trình mặt đất ở vùng ngập và sự lan truyền của lũ vào trong vùng.
Trong các trận lũ lớn, yếu tố lan truyền lũ đóng vai trò không đáng kể. Các
công trình ở nội đồng như đường xá, cầu cống, hệ thống đê bao, kênh, khu dân
cư, thường làm thay đổi độ sâu ngập lụt, diện ngập và thời gian ngập (bắt đầu
và kết thúc). Đối với lũ lớn, độ sâu ngập lũ thay đổi từ 3.0 - 3.5m ở vùng ngập
sâu (sát sông lớn và gần biên giới) đến 1.5-2.5m ở vùng ngập trung bình (chiếm
phần lớn diện tích hai tỉnh Đồng Tháp và An Giang, một phần hai tỉnh Long An
XI). Diện tích ngập triều ở ĐBSCL vào khoảng 200-300 ngàn ha.
II.2. Theo thời gian ngập lụt có thể phân ĐBSCL làm 4 vùng ngập chính:
1. Vùng ngập lâu và ngập rất sâu: Ngập lũ trên 2.0m, kéo dài từ 3-5 tháng,
trung bình là 3.5-4.0 tháng liên tục, từ tháng VIII-XI. Ranh giới vùng ngập sâu,
ngập lâu ở ĐTM là biên giới, bờ sông Tiền, kênh Đồng Tiền và kênh Phước
Xuyên; vùng kẹp giữa hai sông Tiền - Hậu trên Vàm Nao; ở TGLX là vùng từ
biên giới về bờ sông Hậu và kênh Mạc Cần Dưng.
2. Vùng ngập lâu và ngập sâu trung bình: Ngập sâu từ 1.0-2.0m, kéo dài 3-4
tháng, từ tháng VIII-XI, một số vùng thấp từ tháng IX-XII. Vùng ngập lâu và
ngập sâu trung bình giới hạn ở phía trên là vùng ngập rất sâu, phía dưới là kênh
Nguyễn Văn Tiếp, kênh 12 và sông Vàm Cỏ Tây ở ĐTM; là rạch Cái Tàu
Thượng ở vùng kẹp giữa hai sông; là tuyến đường Long Xuyên - Thoại Sơn -
Tri Tôn ở TGLX.
3. Vùng ngập lâu nhưng ngập nông: Ngập sâu từ 0.5-1.0m, thường kéo dài 2.5-
3.5 tháng, từ tháng IX-XII. Vùng ngập nông, giới hạn phía trên là vùng ngập
sâu trung bình, giới hạn phía dưới là sông Vàm Cỏ Đông và trục QLI cho đến
Mỹ Tho và ven theo bờ sông Tiền ở ĐTM; là trục đường QLI ở vùng kẹp giữa
hai sông; là tuyến đường Cần Thơ - Vị Thanh - Gò Quao - Rạch Giá ở TGLX
và vùng Tây sông Hậu.
4. Vùng ngập không đáng kể bao gồm phần còn lại của ĐBSCL (một số nơi
hoàn toàn không bị ngập như vùng Bảy Núi tỉnh An Giang, vùng trung tâm Bến
Tre ). Đại bộ phận vùng này bị ngập do mưa hoặc do mưa và triều (trung tâm
Bán đảo Cà Mau, U Minh Thượng, Gò Công ) và ngập do triều (Nam bán đảo
Cà Mau, ven biển Trà Vinh, Bến Tre )
II.3. Xét tác động của lũ và triều có thể phân vùng ngập lụt ra làm 3 khu chính:
1. Khu lũ, lụt chủ yếu do nước từ biên giới và từ sông, ảnh hưởng triều không
Trang
10
đáng kể. Khu này có thể bao gồm phía bắc kênh Hồng Ngự, Bắc Vàm Nao,
phần lớn TGLX. Từ tháng VII-VIII, triều hầu như không thể hiện rõ (thể hiện
2. Trần Như Hối và nnk: Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài nhà nước
“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê
bao bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ ĐBSCL“ Tp.HCM. 12/2005
3. Trần Như Hối và nnk: Đê bao vùng ngập lũ ĐBSCL. NXB. Nông nghiệp. 2005
__________________________
Người phản biện: GS.TSKH. Nguyễn Ân Niên
Trang
11