(cho phép copy) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản ở học sinh trường THPT lê xoay vĩnh tường vĩnh phúc - Pdf 28

Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đã và đang bước sang thế kỷ XXI - thế kỷ của nền kinh tế tri
thức cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật. Cứ khoảng 4
đến 5 năm khối lượng tri thức nhân loại lại tăng lên gấp đôi lần hoặc hơn thế
nữa là cùng với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học và công
nghệ mới như: công nghệ thông tin, công nghệ điện tử, công nghệ nano,…đòi
hỏi con người phải có tri thức, phải có đội ngũ chuyên gia, các kỹ thuật viên
có đủ trình độ và năng lực. Trong khi đó xét về mặt khoa học và công nghệ
Việt Nam thì nước ta đi sau rất nhiều các nước trên thế giới. Còn về mặt kinh
tế thì được xếp vào các nước nghèo có thu nhập thấp. “Việt Nam không thiếu
những người tài giỏi và đầy khả năng sáng tạo” đó là sự thật đã được minh
chứng. Hằng năm, học sinh Việt Nam vẫn đạt nhiều giải cao trong các cuộc
thi Olympic quốc tế. Những cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật các cấp vẫn
luôn có những sản phẩm, đề tài hay, đổi mới, mang tính ứng dụng cao. Ngay
cả nông dân, công nhân vẫn có những sáng chế độc đáo phục vụ cho công
việc hằng ngày, giúp cải thiện năng suất lao động….Có nghĩa là, xét trên tổng
thể, Việt Nam có những yếu tố tiềm ẩn về khả năng phát triển trí tuệ. Thế
nhưng nước ta vẫn lẹt đẹt đi sau nhiều nước trong khu vực trên lĩnh vực sáng
tạo và đổi mới. Vậy câu hỏi được đặt ra là: làm thế nào để nước ta tiến kịp các
nước trên thế giới? Chỉ có tri thức mới giúp chúng ta thực hiện được điều này.
Vậy làm sao để có tri thức? Để có được tri thức không còn cách nào khác là
ngay từ hôm nay chúng ta phải đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho thế hệ trẻ -
chủ nhân của tương lai đất nước.
Bên cạnh đó thế hệ trẻ - lứa tuổi học sinh THPT là một trong những
giai đoạn có những biến đổi sâu sắc về mặt tâm sinh lý. Các em vẫn chưa
thoát khỏi sự cám dỗ, hiếu động xong lại muốn được mọi người xem mình là
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học

4. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu có tác động quan trọng đến việc thay đổi phương
pháp dạy học của giáo viên với các đối tượng học sinh khác nhau.
- Là cơ sở dữ liệu trong chiến lược phát triển con người chất lượng cao.
- Kết quả khảo sát giúp thay đổi nhận thức về cách tiếp cận dạy học tích
hợp các kiến thức về giá trị sống cho học sinh.
5. Đóng góp mới của đề tài
- Xác định thực trạng các chỉ số trí tuệ cơ bản của học sinh THPT.
- Tìm thấy mối tương quan giữa các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản của học
sinh trường THPT Lê Xoay - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc.
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Trí tuệ
1.1.1. Lược sử nghiên cứu trí tuệ
1.1.1.1. Trên thế giới
Xuất phát từ tầm quan trọng của trí tuệ trong thực tiễn, nhiều tác giả đã
đi sâu vào nghiên cứu về trí tuệ, trong đó có các nghiên cứu về cơ sở sinh lý
thần kinh của hoạt động trí tuệ và các cách đo lường trí tuệ,…
F. J. Gall (TK XVIII), là người đầu tiên đưa ra quan điểm rằng có sự
định khu chức năng trong não. Ông đã đưa ra thuật ngữ “nói tướng học” và
cho rằng chức năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên biệt của não nên có
thể đánh giá trí tuệ con người qua đường nét và đo sọ não người. Tuy nhiên
ông đã mắc phải sai lầm là đồng nhất giữa cấu tạo với chức năng của não.
Năm 1905, nhà tâm lí học người Pháp Alfred Binet đã đưa ra khái niệm
“tuổi trí khôn”, là đại lượng đầu tiên thể hiện ý tưởng đo lường trí tuệ trẻ em.
Ông cùng với bác sĩ T. Simon thực hiên một loạt các thực nghiệm nghiên cứu
năng lực trí tuệ của trẻ em ở những lứa tuổi khác nhau (3 đến 5 tuổi). Thang

Primary Scale of Intelligence) dành cho trẻ em từ 4 đến 6 tuổi rưỡi.
Năm 1995, Daniel Goleman trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa IQ
với các yếu tố tư tưởng tạo thành tính cách của các nhà quản lí, đã kết luận sự
thành công của mỗi người không phải chủ yếu là do có chỉ số trí tuệ cao, mà
do các yếu tố tạo nên tính cách đó. Ông cho rằng, các cảm xúc chỉ đạo trí tuệ,
thậm chí nó còn lành mạnh hơn cả logic toán mà chúng ta vẫn thấy trong các
trắc nghiệm.
Cho đến nay vấn đề về năng lực trí tuệ không còn là vấn đề quá mới mẻ
nhưng con người vẫn chưa hiểu hết về nó, đó là lí do tại sao trí tuệ đã, đang
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
6
và sẽ thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước.
1.1.1.2. Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam được tiến hành trong vài chục năm
gần đây. Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu trí tuệ của con người
chưa được quan tâm nhiều, chỉ có rất ít công trình do cán bộ ngành y tế
nghiên cứu để chẩn đoán trí tuệ của bệnh nhân tâm thần bệnh viện Bạch Mai
và bệnh viện nhi Thuỵ Điển (theo [15]). Từ cuối những năm 1980 đến nay, đã
có nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ của học sinh Việt Nam. Một số tác giả
quan tâm đến bản chất và cấu trúc của trí tuệ . Kết quả nghiên cứu của các
công trình cho thấy, có thể sử dụng test trí tuệ để chẩn đoán khả năng hoạt
động trí tuệ của trẻ em Việt Nam.
Trần Trọng Thuỷ (1989) là một trong số các tác giả đầu tiên nghiên cứu
về trí tuệ của học sinh Việt Nam. Qua nghiên cứu, ông đã xác định chiều
hướng, cường độ, trình độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh. Tác
giả nhận thấy, sự phân bố học sinh Việt Nam theo IQ gần sự phân phối chuẩn,
có sự khác biệt giữa học sinh thành thị và học sinh nông thôn, có sự liên quan
giữa học lực và thành phần gia đình [14].

Thanh Hóa đã nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và
có mối liên quan thuận với học lực [12].
Mai Văn Hưng (2003) nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực trí
tuệ của sinh viên ở một số trường đại học phía Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, mối tương quan thuận không chặt chẽ giữa chỉ số trí tuệ và thể
lực [5]. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của nhiều tác giả khác
trên đối tượng học sinh, sinh viên cũng cho kết quả tương tự. Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
8
1.2. Chỉ số cảm xúc
Thuật ngữ “ trí tuệ cảm xúc” (Emotional Intelligence - EI) thường
dùng dưới hàm nghĩa nói về chỉ số cảm xúc (Emotional intellegence quotient
- EQ) của mỗi cá nhân. “Chỉ số cảm xúc (EQ) là một tập hợp các kỹ năng
cảm xúc mà một người sử dụng để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống
hàng ngày” (Theo Multi - Health Systems, 2008). Nói một cách đơn giản, trí
tuệ cảm xúc chính là sự phán đoán dựa trên kinh nghiệm hoặc khả năng hòa
nhập với mọi người.
Trí tuệ cảm xúc mới được biết đến vào đầu những năm 90 của thế kỷ
XX nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ cảm xúc vào cuộc sống đang thu
hút được sự quan tâm chú ý của nhiều người và đang ngày càng trở nên phổ
biến hơn. Đã không ít ý kiến cho rằng: “Chỉ số cảm xúc được coi là quan
trọng hơn IQ và AQ đối với sự thành bại của con người”. Nhà Tâm lý học
người Mỹ Daniel Goleman đã nhận định: “Trong những nhân tố quyết định sự
thành bại trong cuộc đời, IQ chiếm ít nhất là 20%, còn ngoài ra bị quy định
bởi các nhân tố khác”.
Howard Garden (1983), trong học thuyết đa trí tuệ của mình đã từng đề
cập đến loại trí tuệ về người khác (Interpersonal Intelligence), bao gồm các

động.
3+4: khả năng hiểu các cảm xúc của người đối diện để phản ứng tốt và
điều khiển các quan hệ xã hội [3].
“Quan niệm”, những khẳng định và sự lạc quan của Goleman được báo
chí rầm rộ ủng hộ. Phải nói là vấn đề này, mở cửa cho một thị trường đầy lợi
nhuận: thị trường đào tạo kỹ năng cảm xúc để thành công. Những khẳng định
của Goleman lại rất là thích hợp với cảm tính và thị hiếu của dân tình. Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
10
1.2.1. Các công trình nghiên cứu chỉ số cảm xúc ở Việt Nam
Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc ở Việt Nam còn rất mới mẻ, nó chỉ thực
sự được nghiên cứu một cách bài bản, sâu hơn là trong đề tài cấp nhà nước
KX - 05 - 06 (2001- 2005): “Nghiên cứu sự phát triển các chỉ số trí tuệ (IQ,
CQ, EQ) của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH
đất nước” (2001- 2005) do PGS. TS.Trần Kiều làm chủ nhiệm. Công trình
nghiên cứu này chỉ ra rằng chỉ số cảm xúc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố:
giới, ngành học, môi trường văn hóa nhà trường
Tiếp đó là những công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Dung
(2002) đã tiến hành đo đạc chỉ số cảm xúc của giáo viên tiểu học để xem IQ
hay EQ đóng vai trò quan trọng hơn trong công tác chủ nhiệm.
Năm 2004, tác giả Dương Thị Hoàng Yến của trường Cao Đẳng Sư
Phạm Hà Nội do PGS Trần Trọng Thủy chủ nhiệm đã sử dụng công cụ trắc
nghiệm để đo chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm Hà
Nội và Đại học Sư phạm Thái Nguyên [4].
Năm 2005, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học Sư
phạm Hà Nội do PGS.Trần Trọng Thủy chủ nghiệm đã sử dụng công cụ trắc
nghiệm để đo chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm Hà

những bài tập dành cho những vận động viên thể thao Olympic, những trường
học, những tập đoàn, doanh nghiệp dùng để đào tạo nhân viên.
Paul Stoltz đã phát triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm
lí học đi trước, như Abrecham Maslow, từ Martin Seligman, tác giả của sách
“Học lạc quan”, và Stephen R.Covey, tác giả của “Tồn tại thói quen của
người thành đạt”.
Nhiều nhà tâm lí đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này. Điều này
góp phần khẳng định việc lượng hóa những phẩm chất tâm lí bậc cao là một
điều có thể làm được như đã từng làm với trí tuệ (IQ) và cảm xúc (EQ).
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
12
Paul Stoltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và
dễ buông xuôi trước nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong khi, những người
có AQ cao sẽ ít khi đầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai.
Ông phân tích ra 3 dạng người dựa trên cách thức họ đối diện với
những khó khăn thử thách trong cuộc đời. Đó là: Quitter, Camper và Climber.
- Quitter: Là những người dễ buông xuôi. Họ dễ dàng nản chí, dễ
dàng từ bỏ việc theo đuổi một công việc, một dự định và cao hơn là một mục
đích sống. Và, kết quả là thường giữa đường đứt gánh, nhận thất bại hoặc kết
quả không như ý.
- Camper: Là những người chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức
phấn đấu rèn luyện bản thân, và sẽ làm nhiều thứ để đạt tới một mức độ nhất
định nào đó trong cuộc sống. Tuy nhiên, họ dễ hài lòng và thỏa hiệp với bản
thân để thấy như vậy là đủ.
- Climber: Là những người có sự kiên định và hoài bão lớn. Họ luôn
học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất
có thể trong khả năng. Họ cũng thường là túyp người không chấp nhận một
tình thế sẵn có, và tìm cách xoay sở để cải thiện nó tốt hơn.
Theo đó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những điều kiện khó

vào trạng thái thê thảm, bị thất bại. Đo chỉ số R để xác định mức độ, phạm vi
tiếp cận sự kiện,sức chịu đựng các cấp độ căng thẳng.
- Chỉ số E (Endurance): Khả năng chịu đựng, tính nhẫn nại. Những
người có AQ cao luôn đối diện với khó khăn với thái độ lạc quan và giữ hi
vọng. Những người có AQ thấp xem trở ngại như là khó khăn không giải
quyết nổi. Đo chỉ số E để xác định thời gian chịu đựng các sự kiện, là thước
đo về sự lạc quan, hi vọng.
Chỉ số AQ mới được đưa ra cách đây hơn 10 năm nên ở Việt Nam chỉ
số AQ còn ít được nghiên cứu.
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
14
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh có độ tuổi từ 15 đến 17 (từ lớp 10 đến lớp 12). Các đối tượng
chúng tôi nghiên cứu có sức khỏe, trạng thái tâm lý bình thường. Tuổi của các
đối tượng được tính theo quy ước chung của các tài liệu Y tế thế giới và Việt
Nam. Đó là cách tính tuổi quy về tháng hay năm gần nhất, nghĩa là một độ
tuổi nào đó bao gồm những cá thể có số năm trước hoặc sau 6 tháng.
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 304 học sinh, trong đó có 147 học
sinh nam và 157 học sinh nữ.
Sự phân bố đối tượng nghiên cứu có thể thấy ở bảng 2.1.
Bảng 2.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính
Tuổi Tổng số Nam Nữ
15 100 47 53
16 101 51 50
17 103 49 54
2.2. Phạm vi nghiên cứu

Bài trắc nghiệm được dùng cho đối tượng từ trẻ 12 tuổi đến người lớn.
Kết quả của bài trắc nghiệm: Tính được điểm tổng quát (từ 0 đến 30
điểm), ba điểm chi tiết không gian, con số và số học (mỗi phần sẽ có điểm từ
0 đến 10). Sự phân biệt giữa các học sinh được thể hiện qua điểm tổng cũng
như điểm chi tiết do đó ta có thể phân tích từng câu hỏi.
Phân tích được sai lầm thực sự: không đúng về giá trị lẫn màu hoặc sai
lầm một nửa: chỉ có một biến số (màu hoặc giá trị) đúng đáp án đối với từng
loại câu trắc nghiệm.
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
16
Bài trắc nghiệm đã được kiểm định với các thông số như độ tin cậy, giá
trị, sự khác biệt của mẫu đáng tin cậy [8].
2.4.1.2. Nhận định kết quả
+ Kết quả về độ tin cậy của bài trắc nghiệm được đánh giá thông qua hệ
số tương quan cronbach anpha giữa các items trong từng nhóm lập luận của cả
bài.
+ Các đại lượng đặc trưng cho mức độ phân tán và tập trung của bài
trắc nghiệm RCC.
+ Phân bố điểm chuẩn của bài trắc nghiệm đối với mẫu.
+ Sự khác biệt giữa các đối tượng thực hiện trắc nghiệm (khối lớp, giới
tính,…)
+ Xác định lại các điểm chuẩn (normos). Bước này cũng bao hàm
những gợi ý, những cảnh báo về việc nên sử dụng trắc nghiệm như thế nào.
+ Kiểm tra mức độ hiểu, làm quen với bộ bài, mức độ hấp dẫn người
làm trắc nghiệm.
Từ các kết quả trên, có thể đánh giá được quy trình triển khai thực hiện
trắc nghiệm có đạt chuẩn hay không.
Mỗi bài tập trả lời đúng được 1 điểm. Căn cứ vào điểm test của mỗi
nghiệm thể, tính IQ theo nghiệm theo công thức của D.Wechsler [21]:

khi đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc
sống, từ đó con người kiểm tra, điều khiển hành vi của bản thân ở các mức độ
khác nhau.
- Nhóm câu hỏi thuộc chỉ số O (Ownership - quyền sở hữu): Bao gồm
các câu hỏi mà nội dung của nó nhằm đo bản lĩnh sống của mỗi cá nhân khi
đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống,
từ đó con người xác định mức độ chịu trách nhiệm và khả năng xử lý tình
huống, hành động ở các mức độ khác nhau.
- Nhóm câu hỏi thuộc chỉ số R (Reach - phạm vi hoạt động): Bao gồm
các câu hỏi mà nội dung của nó nhằm đo bản lĩnh sống của mỗi cá nhân khi
đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn trong cuộc sống,
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
18
từ đó con người xác định mức độ, phạm vi tiếp cận sự kiện, sức chịu đựng các
cấp độ căng thẳng ở các mức độ khác nhau.
- Nhóm câu hỏi thuộc chỉ số E (Edurance - khả năng chịu đựng tính
nhẫn nại): Bao gồm các câu hỏi mà nội dung của nó nhằm đo bản lĩnh sống
của mỗi cá nhân khi đối diện với các thay đổi, áp lực và các tình huống khó
khăn trong cuộc sống, từ đó con người xác định thời gian chịu đựng các sự
kiện xấu, là thước đo về sự lạc quan, hy vọng ở các mức độ khác nhau.
2.4.2.2. Nhận định kết quả
Câu hỏi AQ gồm 4 chỉ số C, O, R, E
Viết các số đối tượng nghiên cứu đã khoanh tròn trên Câu hỏi AQ (gồm
20 câu hỏi), tương ứng với các ô bên dưới, tính tổng cho mỗi cột, tính tổng
của 4 cột, nhân 2, tìm được chỉ số AQ
AQ = (C + O + R + E) x 2
AQ trung bình = 147,5. Chỉ số này càng cao càng tốt. Câu hỏi AQ cần
hình thành trong vòng 8 →10 phút.
Bảng 2.3. Phân loại các chỉ số thành phần AQ

cảm xúc và hành động hiệu quả): nếu đạt được 8/8 điểm, nghiệm thể có thể
thấu hiểu được cảm xúc của bản thân và đưa ra những quyết định hợp lý, hiệu
quả. Nghiệm thể có thể biết tự cân bằng cảm xúc của bản thân, tránh được
những stress quá tải (hung hăng, nóng nảy,…) hoặc stress thiếu tải (buồn
chán, ủ rũ, đau khổ,…) khi gặp phải những tình huống bất thường. Đây là
bước biến chuyển cảm xúc thành hành động ý chí, trở thành trí tuệ cảm xúc
mức độ cao.
2.4.3.2. Nhận định kết quả
+ Mỗi câu trả lời đúng được cho 1 điểm.
+ Tổng số điểm dành được/tổng số các item sẽ là kết quả để lượng hóa
mức độ phát triển chỉ số cảm xúc của người được đánh giá.
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
20
Đánh giá kết quả: điểm đạt lý tưởng là 30 điểm và thấp nhất là 0 điểm,
điểm trung bình là 15.
2.5. Phương pháp xử lí số liệu
2.5.1. Xử lí thô
+ Kiểm tra các phiếu trả lời của đối tượng nghiên cứu. Những phiếu
nào không đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt của test cần được loại bỏ hoặc
yêu cầu đối tượng làm lại.
+ Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng để
chấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng.
+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu.
2.5.2. Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê xác xuất dùng cho sinh học
Số liệu được xử lý trên máy vi tính bằng chương trình Exell để tính các
trị số như giá trị trung bình (
X
), độ lệch chuẩn SD. Số liệu được kiểm định
bằng hàm “T - test” theo phương trình Student - Fisher với ý nghĩa α = 0,05.

X
X


=1
2
)(
n≥30 SD=
1
2
)(



n
i
X
X
n≤30
Trường ĐHSPHN 2 Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vũ Thị Thắm Lớp K35B - Sinh
21
X
i
-
X
là độ lệch của từng giá trị so với giá trị trung bình.
n là số cá thể ở mẫu nghiên cứu.
*Hệ số tương quan (r) :
r =

Y
y
m
X
xm
y
xm
nn
YX
n

Trong đó : r là hệ số tương quan giữa 2 đại lượng X và Y
X
i
là từng giá trị của đại lượng X
Y
i
là từng giá trị của đại lượng Y
n là số cá thể mẫu nghiên cứu
Sự tương quan giữa hai đại lượng X và Y được kiểm định bằng phương pháp
sau
Tính hệ số (t) t =
r
nr
2
1
2




IQ
(
X
±
SD)
Tăng
15 100 106,42
±
7,85 -
16 101 107,83
±
8,08 1,41
17 103 109,34
±
8,51 1,51
Tổng 304 107,88
±
8,21
Tăng trung bình/năm 0,76
104.5
105
105.5
106
106.5
107
107.5
108
108.5
109
109.5

P (1-2)
Nam
(1)
Nữ
(2)
n
X
± SD
Tăng n
X
± SD
Tăng
15 47 106,70
±
7,07

- 53 106,17
±
8,54 - 0,53 >0,05
16 51 108,02
±
8,61

1,32 50 107,64
±
8,57 1,47 0,38 >0,05
17 49 109,69
±
8,80


109
110
15 16 17
Tuổi
IQ
Nam
Nữ

Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn IQ của học sinh theo tuổi và giới tính
3.1.3. Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
Căn cứ vào thang phân bố mức trí tuệ của Wechsler (bảng 2.2), có thể
xếp học sinh theo 7 mức trí tuệ. Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bảng
3.3, hình 3.3 và hình 3.4.
Bảng 3.3. Bảng phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
Tuổi
Giới
tính
n
Tỉ lệ (%) học sinh thuộc các mức trí tuệ
I II III IV V VI VII
15
Nam 47 - 4,25 38,29

57,45

- - -
Nữ 53 - 7,55 30,19

56,60


44,44

1,85 - -
Chung

103 0,97 13,59

37,86

45,63

1,94 - -
Tổng

Nam 147 0,68 10,88

34,69

48,98

2,04 - -
Nữ 157 - 9,55 32,48

50,95

2,55 0,68 -
Chung

304 0,33 10,19


Trong đó học sinh có trí tuệ mức IV (trung bình) chiếm tỉ lệ cao (45,63% -
57%) và cao nhất ở tuổi 15 (57%).
Tuy nhiên, tỉ lệ các mức trí tuệ giữa các lớp tuổi có sự chênh lệch nhau
không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Trích đoạn Mối liên quan giữa các chỉ số sinh học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status