Mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng với thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên - Pdf 24


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC PHAN THANH NGỌC
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHẾ ĐỘ DINH DƢỠNG
VỚI THỪA CÂN, BÉO PHÌ Ở HỌC SINH TIỂU HỌC
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Nhi khoa
Mã số: 60.72.01.35 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Tuấn

3
MỤC LỤC
Đặt vấn đề
Chƣơng 1: Tổng quan
1.1. Định nghĩa, cách đánh giá, phân loại và đặc điểm trẻ thừa cân, béo phì
1.2. Tình hình thừa cân - béo phì ở trẻ em hiện nay
1.3. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đối với béo phì ở trẻ em
Chƣơng 2: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Thời gian nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.4. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả
2.5. Xử lý số liệu
2.6. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu
3.1. Thực trạng thừa cân béo phì ở học sinh tiểu học thành phố
Thái Nguyên
3.2. Mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng với thừa cân, béo phì ở
học sinh tiểu học
Chƣơng 4: Bàn luận

55 4
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Tỷ lệ thừa cân, béo phì chung ở học sinh tiểu học thành phố Thái
Nguyên
Bảng 3.2. Phân bố tỷ lệ thừa cân, béo phì ở các trường tiểu học thành phố Thái
Nguyên
Bảng 3.3. Trung bình bề dày lớp mỡ dưới da và lượng mỡ trong cơ thể
của trẻ thừa cân, béo phì
Bảng 3.4. Tỉ lệ thừa cân,béo phì có bề dày LMDD ≥ 90
th
percentile so
với quần thể tham chiếu
Bảng 3.5. Năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày của 2 nhóm
nghiên cứu
Bảng 3.6. Mức đáp ứng nhu cầu đề nghị về các chất dinh dưỡng trong
khẩu phần giữa 2 nhóm nghiên cứu (%)
Bảng 3.7. Tính cân đối trong khẩu phần ăn của 2 nhóm nghiên cứu
Bảng 3.8. Tần suất tiêu thụ thực phẩm trong tháng giữa 2 nhóm trẻ
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa thói quen ăn uống của học sinh tiểu học
với thừa cân, béo phì
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa sở thích về thực phẩm của học sinh tiểu
học với thừa cân, béo phì
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa tiêu thụ chất béo trong khẩu phần hàng
ngày với tình trạng thừa cân, béo phì
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa tiêu thụ đồ ngọt trong khẩu phần hàng
ngày với tình trạng thừa cân, béo phì

Biểu đồ 3.2. Phân bố tỷ lệ thừa cân, béo phì theo tuổi
Biểu đồ 3.3. Mối liên quan giữa thói quen ăn thêm bữa phụ của học sinh
tiểu học với thừa cân, béo phì
33
34
39
6
ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm đầu thế kỷ 21, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, mức
sống của người dân nhiều nước trên thế giới được nâng cao dẫn đến sự thay
đổi cơ cấu các loại bệnh tật trong xã hội, trong đó đáng chú ý là sự tăng lên
nhanh chóng ở mức báo động của tình trạng thừa cân, béo phì [25]. Tình trạng
béo phì trong xã hội đang trở thành một vấn nạn y tế ở các nước đã phát triển.
Đây là mối đe doạ lớn vì béo phì là một nhân tố hàng đầu gây nên các bệnh
mạn tính liên quan đến dinh dưỡng như đái tháo đường týp 2, các bệnh về tim
mạch, về gan mật, các vấn đề về cơ xương khớp và một số bệnh ung thư [3],
[15], [55].
Ở trẻ em, tình trạng dinh dưỡng phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm
chăm sóc của gia đình nên rất dễ mắc bệnh béo phì. Béo phì ở trẻ em tuy
không đe doạ đến tính mạng như suy dinh dưỡng nhưng có ảnh hưởng không

cân, béo phì đã được tiến hành cách đây 10 năm, từ đó đến nay, cơ cấu bữa ăn
đã có nhiều sự thay đổi nhưng chưa có nghiên cứu nào được lặp lại trên địa
bàn tỉnh. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để tìm hiểu về bệnh béo
phì và ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ
em thành phố Thái Nguyên nhằm tìm ra các biện pháp phòng và điều trị kịp
thời góp phần giảm bớt gánh nặng cho y tế và xã hội.
Mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Thái
Nguyên năm 2012.
2. Xác định mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng với thừa cân, béo
phì ở học sinh tiểu học. 8
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa, cách đánh giá, phân loại và đặc điểm trẻ thừa cân, béo phì
1.1.1. Định nghĩa
Béo phì đã được biết đến từ thời cổ đại, nhưng cho đến những thập kỷ
gần đây, béo phì mới thực sự được coi là một căn bệnh. Béo phì mở đầu cho
sự phát triển loại bệnh dịch không nhiễm khuẩn đầu tiên trong lịch sử nhân
loại - dịch béo phì [52]
Thừa cân béo phì là tình trạng cơ thể tích tụ quá nhiều mỡ do hậu quả
của sự mất cân bằng năng lượng, có nghĩa là năng lượng đưa vào cơ thể vượt
quá năng lượng tiêu hao.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [52]
- Thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng "nên có" so
với chiều cao.
- Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một
cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ.

dày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì [23].
* Đối với trẻ em
Việc đánh giá thừa cân béo phì ở trẻ em còn gặp khó khăn do tỷ lệ tăng
trưởng và trưởng thành khác nhau. Lượng mỡ có liên quan đến các giai đoạn
trưởng thành của trẻ và có sự tăng về lượng mỡ ở hai giai đoạn, đó là lúc trẻ 5
- 7 tuổi và lúc tiền dậy thì và dậy thì. Mặc dù có một điểm ngưỡng được sử
dụng để xác định béo phì ở người lớn, ở trẻ em điểm ngưỡng này cần được
hiệu chỉnh theo tuổi của trẻ. Ở một số quốc gia, có biểu đồ tăng trưởng riêng
để tính cân nặng, chiều cao và thừa cân, béo phì theo tuổi. Tuy nhiên, gần đây
người ta đã đạt được sự thống nhất về các biện pháp phù hợp đo lượng mỡ

10
trong cơ thể, điều này cho phép phân loại và so sánh béo phì. Biểu đồ chỉ số
khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới đã được WHO khuyến cáo sử dụng trên
phạm vi toàn cầu.
- Trước đây dựa trên quần thể tham chiếu NCHS, Tổ chức Y tế thế giới
(WHO, 1995) đưa ra cách đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em như sau:
+ Đối với trẻ dưới 5 tuổi và trẻ từ 5 - 9 tuổi:
Thừa cân: Cân nặng/Chiều cao > +2SD
Béo phì: Cân nặng/Chiều cao > +2SD và bề dày lớp mỡ dưới da cơ
tam đầu, dưới xương bả vai đều  90
th
percentile.
+ Đối với trẻ 10 - 19 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và
giới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho lứa tuổi này.
Cân nặng (kg)
BMI =
(Chiều cao)
2
(m)

Hình 1.2. Biểu đồ đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nữ 2 - 20 tuổi
Trong đề tài này, để nghiên cứu thực trạng thừa cân, béo phì, chúng tôi sử
dụng biểu đồ chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới đã được khuyến cáo
(theo WHO - 2007)
13
1.1.3. Phân loại béo phì
* Phân loại béo phì theo hình thái mô mỡ
- Béo phì quá sản (hyperplasia): thường gặp ở trẻ em, các tế bào mỡ tăng cả
về số lượng và kích thước. Béo phì loại này thường nặng, khó điều trị và sớm
phát triển những bất thường trong cuộc sống.
- Béo phì phì đại (hypertrophy): thường gặp ở người trưởng thành, các tế bào
mỡ to bất thường, trong khi đó số lượng tế bào mỡ không tăng hoặc chỉ tăng
khi đã phình to hết mức. Béo phì loại này có thể đáp ứng tốt với điều trị [32].
* Phân loại béo phì theo vị trí phân bố mỡ
- Béo bụng (android): là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng.
Thường gặp ở đàn ông do ngồi nhiều, ít hoạt động, trọng lượng dồn ở phần
trên cơ thể tạo nên hình dạng béo phì hình “quả táo”.
- Béo đùi (gynoid): là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng mông và
đùi. Thường gặp ở phụ nữ do đẻ nhiều, khung chậu rộng, trọng lượng dồn ở
phần dưới cơ thể tạo nên hình dạng béo hình “quả lê”.
Nhìn chung béo bụng có nguy cơ mắc bệnh và tử vong do các bệnh tim
mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường… nhiều hơn so với béo đùi.
- Béo đều: Mỡ phân bố toàn thân. Thường gặp ở trẻ em do tế bào mỡ bội tăng [32].
1.1.4. Đặc điểm trẻ thừa cân, béo phì
* Lâm sàng
Trẻ thừa cân, béo phì thường háu ăn, ăn nhanh, hay ăn vặt, lúc nào
cũng có cảm giác thèm ăn, thích ăn đồ ngọt, thức ăn xào rán nhiều mỡ, thức

tiểu học tại thành phố Melbourne (Úc) cũng cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là
31% [51]. Theo thống kê mới nhất của “Hiệp hội quốc tế nghiên cứu béo phì”
năm 2011 thì Hy Lạp là quốc gia có tỷ lệ trẻ em thừa cân, béo phì cao nhất là

15
37% ở trẻ gái và 45% ở trẻ trai, Hoa Kỳ đứng thứ 2 với 35,9% trẻ gái, 35% trẻ
trai thừa cân, béo phì, tại một số quốc gia khác như Mexico, New Zealand,
Chile, Anh, Canada, Hungary tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em đều trên 25% [46].
Vấn nạn béo phì không chỉ của riêng các nước phát triển mà đang có xu
hướng tăng cao ở cả các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì ở
Châu Phi tăng từ 4% trong năm 1990 lên đến 8,5% trong năm 2010, còn tại
tại các nước Châu Á mức tăng tương ứng là từ 3,2% đến 4,9% [50]. Nghiên
cứu của Amin và cộng sự tại một số trường tiểu học ở Al Hassa, Ả Rập cho
thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh là 14,2%, còn tại Malaysia tỷ lệ thừa
cân, béo phì trong độ tuổi 9 đến 12 là 17,9% [39],[49]. Con số này cho thấy tỷ
lệ thừa cân, béo phì tại các nước đang phát triển đang dần áp sát các nước
phát triển và sẽ trở thành vấn nghiêm trọng nếu không được can thiệp kịp thời.
1.2.2. Tình hình thừa cân, béo phì ở trẻ em Việt Nam
Việt Nam đang phải đối đầu với gánh nặng kép về dinh dưỡng, khi tỷ lệ
trẻ suy dinh dưỡng đang có xu hướng giảm nhưng vẫn còn cao thì tỷ lệ trẻ
thừa cân, béo phì lại đang gia tăng. Trong vài năm trở lại đây, vấn đề thừa
cân, béo phì đang được quan tâm và đã có nhiều nghiên cứu ở đối tượng học
sinh tiểu học. Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn ở học sinh tiểu học Thành
phố Thái Nguyên năm 2002, tỷ lệ học sinh thừa cân, béo phì là 7,3% [35].
Theo Hoàng Thị Minh Thu nghiên cứu tình trạng thừa cân, béo phì của 1053
trẻ 6 - 11 tuổi tại quận Cầu Giấy - Hà Nội năm 2003 nhận thấy tỉ lệ thừa cân,
béo phì tại đây là 6,8% [34]. Nhưng đến năm 2009, theo nghiên cứu của Trịnh
Thị Thanh Thủy, tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học tại Hà Nội đã là
12,9% [37]. Tại Cao Bằng, theo nghiên cứu của Mã Hồng Lam, tỷ lệ béo phì
của trẻ 6 - 14 tuổi năm 2009 là 1,08% [26]. Theo Ngô Văn Quang và cộng sự

hiệu quả tình trạng thừa cân - béo phì [11].

17
1.3. Ảnh hƣởng của chế độ dinh dƣỡng đối với thừa cân, béo phì ở trẻ em
1.3.1. Các vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Theo các chuyên gia nghiên cứu dinh dưỡng thì chuyển tiếp dinh
dưỡng là những thay đổi chính về toàn cảnh dinh dưỡng của quần thể trực tiếp
liên quan tới thay đổi khẩu phần ăn và mô hình tiêu thụ các chất dinh dưỡng
trong bối cảnh tác động tương hỗ của những thay đổi điều kiện kinh tế, nhân
khẩu học, môi trường và yếu tố văn hóa [44]. Thời kỳ chuyển tiếp về dinh
dưỡng của mỗi nước diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào hoàn cảnh từng nước.
* Những đặc điểm chính của dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Nhiều nước đang phát triển, sự thay đổi chế độ ăn và hoạt động thể lực
xảy ra đồng thời. Những thay đổi chế độ ăn bao gồm tăng tiêu thụ chất béo và
các thức ăn động vật làm cho đậm độ năng lượng trong khẩu phần tăng nhưng
đậm độ các chất dinh dưỡng trong đó lại không tăng một cách cân đối. Công
nghệ chế biến và nấu nướng làm tăng đậm độ năng lượng của thực phẩm nhờ
cho thêm chất béo và đường là các thực phẩm có giá trị khi cần thiết nhưng
lại không có lợi khi dư thừa nhất là với các lối sống tĩnh tại, nhàn rỗi [25].
* Những xu hướng hiện nay về tiêu thụ chất béo trong khẩu phần
Tăng số lượng và chất lượng của chất béo trong khẩu phần là một đặc
điểm quan trọng của sự chuyển tiếp dinh dưỡng được phản ánh trong các chế
độ ăn ở các nước đang phát triển. Có sự khác nhau lớn giữa các khu vực trên
thế giới về số lượng sử dụng chất béo toàn phần. Lượng tiêu thụ thấp nhất
được ghi nhận ở châu Phi, trong khi mức tiêu thụ cao nhất lại thuộc vùng Bắc
Mỹ và châu Âu. Sự cung cấp chất béo toàn phần trung bình đã tăng 20 g/ đầu
người/ ngày so với giai đoạn 1967 - 1969, rõ rệt nhất ở các nước châu Mỹ,
Đông Á và cộng đồng châu Âu [45].
Các bằng chứng ở châu Á và châu Mĩ Latin còn cho thấy sự thay đổi
cấu trúc khẩu phần ăn và hoạt động thể lực bao gồm chế độ ăn giàu năng

19
năng lượng do chất béo tăng lên rõ rệt sau 10 năm từ 8,4% lên 12% làm cho
khẩu phần có xu hướng cân đối hơn [8].
1.3.3. Đặc điểm tăng trưởng và nhu cầu năng lượng, dinh dưỡng hợp lý
cho học sinh tiểu học (6 - 11 tuổi)
1.3.3.1. Đặc điểm tăng trưởng của học sinh tiểu học
Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển, vì vậy tăng trưởng là một
đặc điểm sinh học ở trẻ em. Tăng trưởng là một khái niệm bao gồm quá trình
lớn và phát triển. Có hai loại tăng trưởng: tăng trưởng về thể chất và tăng
trưởng về chức năng. Hai quá trình này có liên quan mật thiết với nhau,
nhưng thời điểm trưởng thành không giống nhau. Nhóm các chỉ tiêu nhân trắc
là một trong ba nhóm đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng (chỉ tiêu nhân trắc, đánh
giá tuổi xương và tuổi dậy thì) [5].
Có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ em đó là: di
truyền, môi trường, nội tiết, bệnh tật và khuynh hướng thời gian. Mô hình
tăng trưởng thể chất của trẻ em không phải đứng yên mà thay đổi theo thời
gian, những nghiên cứu gần đây ở các tỉnh phía bắc đều cho thấy ở mọi lứa
tuổi đều có sự gia tăng về chiều cao đặc biệt ở khu vực thành phố. Trong giai
đoạn từ 1985 đến nay, khuynh hướng tăng trưởng thế tục dương tính về chiều
cao và cân nặng ở trẻ em bao gồm cả trẻ sơ sinh và trẻ 1 đến 15 tuổi, phản ánh
tình trạng kinh tế xã hội và dinh dưỡng của Việt Nam được cải thiện rõ rệt sau
20 năm đổi mới. Khuynh hướng thế tục này xuất hiện ở mọi lứa tuổi của trẻ
em đặc biệt ở tuổi vị thành niên (10 - 15 tuổi) có gia tốc tăng trưởng cả về
chiều cao và cân nặng cao hơn các lứa tuổi nhỏ. Kết quả nghiên cứu cả chiều
dọc và nghiên cứu cắt ngang cho thấy trẻ em Hà nội trong các thời điểm
nghiên cứu đều có chiều cao và cân nặng cao hơn so với số liệu toàn quốc và tốc
độ tăng trưởng thế tục cũng nhanh hơn (tăng khoảng 1,5 đến 2 cm/1 thập kỷ) [22]. 20

2110
Nữ
10 - 12
2010

21
* Nhu cầu chất dinh dưỡng của cơ thể
- Protein
Nhu cầu chất đạm của cơ thể không những phụ thuộc vào tuổi và tình
trạng sinh lý mà còn phụ thuộc cả vào chất lượng của đạm được sử dụng.
Thường trong khẩu phần ăn của trẻ em tỷ lệ đạm động vật và đạm thực vật là
1/1 và của người lớn là 1/2.
Lượng đạm cần cho người lớn khoảng 1 - 1,5 g/kg cân nặng và lượng
đạm cần cho trẻ em khoảng 2 g/kg cân nặng [9].
Bảng 2.3. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ dưới 10 tuổi
Nhóm tuổi
Nhu cầu protein
(g/ngày)
Yêu cầu tỷ lệ protein
động vật
(%)
Với năng lượng từ
protein = 12 - 15%
NPU ước tính = 70%
4 - 6 tuổi
44 - 55
≥ 50

Ở người trẻ, tỷ lệ nhu cầu giữa lượng chất đạm và chất béo ngang nhau;
ở người đứng tuổi và người già nhu cầu chất béo giảm xuống (tỷ lệ chất đạm
và chất béo ở người đứng tuổi là 1/0,7; ở người già là 1/0,5).
Nhu cầu chất béo (tính bằng g) trên 1 kg cân nặng, cơ thể như sau:
+ Với người trẻ và trung niên:
Lao động trí óc: 1,5 (nam), 1,2 (nữ)
Lao động chân tay: 2,0 (nam), 1,5 (nữ)
+ Với người lớn tuổi:
Không lao động chân tay: 0,7 (nam), 0,5 (nữ)
Lao động chân tay: 1,2 (nam), 0,7 (nữ)
Bảng 2.5. Tổng hợp nhu cầu Lipid khuyến nghị theo tuổi, giới và tình trạng sinh lý
Nhóm tuổi/ trạng thái sinh lý
Nhu cầu năng lượng Lipid so với năng
lượng tổng số (%)
Hàng ngày
Tối đa
Dưới 6 tháng
45 - 50
60
6 - 11 tháng
40
60
1 - 3 tuổi
35 - 40
50
4 - 18 tuổi
20 - 25
30
Nam giới trưởng thành
18 - 25

thuỷ phân ở ruột người nhưng xenlulose có vai trò quan trọng kích thích nhu
động ruột, tạo điều kiện bài xuất cholesterol khỏi cơ thể, góp phần phòng
ngừa xơ vữa động mạch.
Nhu cầu bột đường của cơ thể phụ thuộc vào sự tiêu hao năng lượng
lao động thể lực. Hàng ngày lượng bột đường cung cấp khoảng 50% tổng nhu
cầu năng lượng của cơ thể (khoảng 5 - 7 g cho mỗi kg thể trọng).
Ở Việt Nam, mức năng lượng do Glucid cung cấp khuyến nghị giao
động trong khoảng 60 - 70% năng lượng tổng số, trong đó các glucid phức
hợp nên chiếm 70%. 24
* Nhu cầu vitamin và chất khoáng của cơ thể
- Nguồn thức ăn cung cấp Calci trong khẩu phần hàng ngày
Bảng 2.6. Nhu cầu calci khuyến nghị
Nhóm tuổi/ Tình trạng sinh lý
Nhu cầu calci
(mg/ngày)
Trẻ nhỏ
(năm tuổi)
4 - 6
600
7 - 9
700
Nam vị thành viên (tuổi)
10 - 18
1.000
Nữ vị thành niên (tuổi)
10 - 18
1.000


10 - 14 tuổi
(chưa có kinh nguyệt)
28
18,7
14
10 - 14 tuổi
(có kinh nguyệt)
65,4
43,6
32,7
15 - 18 tuổi
62
41,3
31
* Loại khẩu phần có giá trị sinh học sắt thấp (chỉ có khoảng 5% sắt được hấp
thu): Khi chế độ ăn đơn điệu, lượng thịt hoặc cá < 30g/ngày hoặc lượng
vitamin C < 25mg/ngày.

25
** Loại khẩu phần có giá trị sinh học sắt trung bình (khoảng 10% sắt được
hấp thu): Khi khẩu phần có lượng thịt hoặc cá từ 30g - 90g/ngày hoặc lượng
Vitamin C từ 25 mg - 75 mg/ngày.
*** Loại khẩu phần có giá trị sinh học sắt cao (khoảng 15% sắt được hấp
thu): Khi khẩu phần có lượng thịt hoặc cá từ > 90g/ngày hoặc lượng Vitamin
C > 75 mg/ngày.
Bảng 2.8. Nhu cầu Vitamin A khuyến nghị
Nhóm tuổi
Nhu cầu Vitamin A khuyến
nghị (mcg/ngày) *

1,2
Nữ vị thành niên (tuổi)
10 - 18
1,1

Trích đoạn Phân bố tỷ lệ thừa cân,béo phì theo giớ Phân bố tỷ lệ thừa cân,béo phì giữa các trường tiểu học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status