TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT QUY MÔ HỘ Ở HUYỆN NAM ĐÔNG, MÔ HÌNH HIỆU QUẢ VÀ TIỀM NĂNG - Pdf 11



255

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT QUY MÔ HỘ Ở HUYỆN NAM ĐÔNG,
MÔ HÌNH HIỆU QUẢ VÀ TIỀM NĂNG
Nguyễn Tài Phúc, Trần Minh Trí, Võ Vân Sơn

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Tóm tắt. Nam Đông là một huyện miền núi có nhiều tiềm năng về phát triển rừng
trồng sản xuất. Trong những năm gần đây, hoạt động trồng rừng đã được đẩy mạnh
nhưng chưa tương xứng với tiềm năng. Các loài cây chủ yếu được sử dụng gồm
keo tai tượng, trong khi đó, hiệu quả tài chính của cây keo lai cao hơn keo tai tượng
1,19 lần. Kết quả và hiệu quả trồng rừng chưa cao, đặc biệt là nhóm hộ đồng bào
dân tộc ít người, NPV/ ha ở hộ người Kinh là 7,1 triệu đồng và hộ đồng bào dân
tộc là 5,2 triệu đồng. Các yếu tố về quy hoạch, kỹ thuật trồng, chọn giống và tiêu
thụ có tác động rất lớn tới hiệu quả rừng trồng sản xuất. Vì thế, cần thực hiện các
giải pháp kinh tế và kỹ thuật để khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả trồng
rừng sản xuất ở huyện Nam Đông.

1. Đặt vấn đề
Với diện tích đất đai chủ yếu được quy hoạch cho ngành lâm nghiệp, chiếm
75,06% diện tích đất tự nhiên của huyện, đời sống dân cư nhiều đời gắn bó với tài
nguyên rừng, Nam Đông thực sự có tiềm năng trong phát triển rừng trồng sản xuất
(RTSX). Thời gian qua, các tiến bộ của kỹ thuật lâm sinh đã tạo ra những giống cây lâm
nghiệp có chu kỳ ngắn, có khả năng cho sản lượng cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho
ngành trồng rừng ở Nam Đông phát triển. Mặt khác, thị trường của sản phẩm gỗ rừng

năm 2010. Một trong những yếu tố quan trọng là công tác giao đất, giao rừng cho hộ gia
đình, cộng đồng quản lý sử dụng đã thúc đẩy, tạo cơ hội cho RTSX phát triển. Nếu năm
2006 nhóm đối tượng này chỉ quản lý 2,5% diện tích đất lâm nghiệp thì con số này của
năm 2010 đã lên tới 39,3%. Hiện nay, theo số liệu khảo sát các hộ trồng rừng, mỗi hộ
nắm giữ 2,3 ha đất rừng sản xuất. Đây là tiền đề quan trọng cho việc phát triển nghề
rừng đối với các hộ gia đình trong thời gian tới. Tuy nhiên, có sự chênh lệch khá lớn về
quy mô diện tích RTSX giữa hộ người Kinh (3,1 ha/hộ) và hộ đồng bào dân tộc ít người
(1,5 ha/hộ).
2.2. Kết quả và hiệu quả trồng rừng sản xuất quy mô nông hộ ở Nam Đông
Loài cây trồng cho mục đích rừng sản xuất chủ yếu là keo tai tượng và keo lai,
một số ít hộ trồng bạch đàn. Theo kết quả khảo sát ngẫu nhiên 93 hộ trồng rừng đã khai
thác thì có tới 70% hộ trồng keo tai tượng, 27% trồng keo lai và 3% trồng bạch đàn. Vì
vậy, trong các phân tích tiếp theo các tính toán chỉ tập trung vào hai nhóm chủ lực là
keo tai tượng và keo lai.
Theo kết quả khảo sát, chi phí trồng rừng sản xuất bình quân 15 triệu đồng/ha.
Đặc biệt, có sự khác biệt rất lớn giữa nhóm hộ người dân tộc Kinh và nhóm hộ đồng
bào dân tộc ít người với mức tương ứng là 17,2 triệu đồng/ha đối với hộ người Kinh và
9 triệu đồng/ha đối với hộ đồng bào dân tộc ít người.
Xét theo các hạng mục chi phí, chi phí khai thác chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm
63% tương ứng 9,4 triệu đồng/ha. Các chi phí này phát sinh vào thời điểm khai thác nên
tính chiếm dụng vốn không cao. Nhóm chi phí tiếp theo là chi phí trồng rừng năm thứ
nhất, với mức 3,4 triệu đồng, nhóm này chiếm 23% tổng chi phí toàn chu kỳ. Tuy không
phải là nhóm chi phí lớn nhất nhưng lại có ảnh hưởng quyết định tới năng suất, sản 257

lượng rừng. Đây là mức chi phí rất thấp so với định mức của của cơ quan chức năng
cũng như một số địa phương lân cận như huyện Phú Lộc.
Kết quả và hiệu quả trồng rừng sản xuất, thu nhập hỗn hợp của người trồng rừng

Kết quả và hiệu quả sản xuất giữa các nhóm dân tộc có sự khác biệt khá lớn.
Doanh thu của một ha rừng trồng của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 60,5% so với hộ
người Kinh. NPV của hộ dân tộc ít người chỉ đạt 5,2 triệu/ha trong khi đó con số này ở
các hộ người Kinh lên tới 7,1 triệu (gấp 1,35 lần). Nguyên nhân của hiện tượng trên là 258

do sản lượng rừng trên một đơn vị diện tích của đồng bào dân tộc thấp, đồng bào rất ít
bón phân cho cây rừng vì quan niệm rằng “cây rừng thì tự nó lớn”. Ngoài ra, do hộ
đồng bào dân tộc ít người chăm sóc không đúng kỹ thuật, sử dụng giống cây trồng
không rõ nguồn gốc.
Bảng 2. So sánh kết quả và hiệu quả trồng rừng theo giống cây (tính trên 1ha)
ĐVT: 1.000đ
STT Chỉ tiêu Keo tai tượng (I) Keo lai (II) So sánh (I-II)
1 Doanh thu 24.198 30.573 -6.375
2 Tổng chi phí 14.027 17.737 -3.710
3 Chi phí bằng tiền 11.609 14.777 -3.168
4 Thu nhập hỗn hợp 12.589 15.796 -3.207
5 Thu nhập ròng 10.171 12.836 -1.665
6 NPV 6.288 7.463 -1.175
7 IRR (%) 50,0 45,3 5,3
8 PMT 1.608 1.909 -301
9 BCR (lần) 2,16 2,10 0,06
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra năm 2010).
Xét theo loài cây, có sự khác biệt khá lớn giữa keo lai và keo tai tượng, theo đó
một ha keo lai cho doanh thu 31 triệu đồng, gấp 1,26 lần so với keo tai tượng. Cơ sở để
tạo nên sự chênh lệch này là do sản lượng trên 1 ha keo lai cao hơn keo tai tượng trong
khi giá bán của 2 loại sản phẩm này hoàn toàn như nhau trên thị trường. Chính điều này
đã dẫn tới các chỉ tiêu tài chính quan trọng khác như NPV, giá trị san đều hàng năm

dẫn tới tình trạng giảm hiệu quả kinh doanh.
2.4. Giải pháp phát triển RTSX ở các nông hộ huyện Nam Đông
- Tăng cường công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch đất trồng rừng sản xuất.
Giải quyết tình trạng diện tích rừng của các hộ bị chia cắt, manh mún, giảm thiểu các
chi phí liên quan đến vận chuyển.
- Phát triển cơ sở hạ tầng nghề rừng. Đây là một giải pháp quan trọng cần được
thực hiện song song với hỗ trợ kỹ thuật. Sự tham gia của nhà nước có ý nghĩa quyết
định vì đây là vấn đề đòi hỏi vốn lớn, tác động đến nhiều người.
- Tăng cường công tác giống. Trước hết cần tăng cường quản lý nhà nước đối
với các cơ sở sản xuất và cung cấp giống. Tổ chức liên kết với các cơ sở sản xuất giống
có uy tín để cung cấp giống đạt tiêu chuẩn cho nông dân.
- Hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng. Đặc biệt chú trọng tới kỹ thuật trồng, mật độ
trồng và quy trình chăm sóc, bón phân cho rừng.
- Xây dựng liên kết doanh nghiệp và nhà nông. Các doanh nghiệp thu mua gỗ
rừng trồng cần chủ động có những liên kết với người trồng rừng ở mức độ cao hơn từ
việc cung cấp cây giống chất lượng tốt tới hỗ trợ kỹ thuật và thu mua sản phẩm. Chính
quyền địa phương cần có những động thái tích cực để hỗ trợ các liên kết này một cách
hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Thành lập các nhóm trồng rừng để hỗ trợ chia sẻ về kỹ thuật trồng rừng, liên
kết sử dụng lao động và tổ chức tự khai thác. 260

3. Kết luận
- Nam Đông là huyện có tiềm năng đất đai rất lớn để phát triển RTSX, tuy đã có
nhiều nỗ lực nhưng hoạt động trồng rừng sản xuất trong các nông hộ chưa tương xứng
với tiềm năng và cơ hội của địa phương.
- Keo tai tượng là loài cây được lựa chọn phổ biến đối với các hộ trồng rừng.
Tuy vậy, hiệu quả tài chính (NPV) của rừng trồng keo tai tượng trên một đơn vị diện

261AFFORESTATION PRODUCTION SCALE OF HOUSEHOLD IN NAM DONG
DISTRICT, MODEL PERFORMANCE AND POTENTIAL
Nguyen Tai Phuc, Tran Minh Tri, Vo Van Son

College of Economics, Hue University

Abstract. Nam Dong is one of the upland districts that has enormous natural
resource potential to develop forest production. For a few recent years,
afforestation activities have been improved but have not been commensurate with
its potential resources. Acacia Mangium is the most popular species which has
been planted but Acacia Hybrid is 1,19 times as high in financial productivity.
Furthermore, there is a difference in land use effectiveness (NPV) between Kinh
people with 7,1 million VND/ha and ethnic minority groups with 5,2 million
VND/ha respectively. Forest land planning, forest planting technology and market
site are factors that have strong influences on the productivity of forest production.
It is, therefore, necessary to apply sound economic and technological solutions for
forest production to be improved effectively.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status