67
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 68, 2011
THỰC TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC HUẾ
Phan Thị Tú Nga, Đại học Huế
TÓM TẮT
Nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học vì không những
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ
cho sự phát triển của nhân loại. Với tầm quan trọng như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban
chấp hành TW khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam có nêu: “Các trường đại học phả
i là các
trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và
đời sống”. Chỉ thị 296/CT-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới
quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2020 cũng nêu rõ “Nâng cao năng lực quản lý và hiệu
quả công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, góp phần tích cực nâng cao chất lượng
đào tạo và phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội”. Bài báo này nhằm đánh giá thực trạng hoạt động
nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Đại học Huế, và trên cơ sở phân tích thực trạng, đề xuất
các biện pháp nhằm tháo gỡ và thúc đẩy hoạt động này hiệu quả hơn.
1. Đặt vấn đề
Thực tiễn trong các trường đại học, cao đẳng, hoạt động nghiên cứu khoa học
(NCKH) là con đường hiệu quả nhất để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phát
triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy và giáo dục. NCKH là một
trong hai tiêu chí chính để đánh giá chất lượng của nhà trường trong việc nâng cao, đảm
bảo chất lượng của quá trình đào tạo. Mối quan hệ giữa đào tạo và NCKH là mối quan hệ
hữu cơ, gắn bó mật thiết có tác dụng tương hỗ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Đại học Huế đã đạt
được một số thành tựu đáng kể. So với các trường đại học trong cả nước, hoạt động
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra với 208 giảng viên và 67
cán bộ quản lý gồm cán bộ tham gia trực tiếp vào việc quản lý hoạt động NCKH của
Đại học Huế.
3. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Đại học Huế
Kết quả nghiên cứu qua phương pháp điều tra cho thấy thực trạng hoạt động
NCKH của GV Đại học Huế có những đặc điểm sau:
3.1. Nhận thức của cán bộ giảng viên về hoạt động nghiên cứu khoa học
Chất lượng hoạt động NCKH, thái độ tham gia của giảng viên phụ thuộc rất
nhiều vào nhận thức về hoạt động NCKH của giảng viên và cán bộ quản lý (CBQL).
Bảng 1. Nhận thức của GV, CBQL của Đại học Huế về hoạt động NCKH
GV (n = 208) CBQL (n = 67)
Nhận thức về hoạt
động NCKH
SL % SL %
Rất quan trọng 155 74,5 44 65,7
Quan trọng 51 24,5 23 34,3
Ít quan trọng 2 1,0
Không quan trọng 0 0 0 0
Tổng cộng 208 100,0 67 100,0 69
Kết quả khảo sát ở Bảng 1 cho thấy, chỉ có 1% đánh giá hoạt động này là ít quan
trọng, còn đa số GV và CBQL đều nhận thức rằng hoạt động NCKH giữ một vai trò quan
trọng và rất quan trọng, đặc biệt, số người đồng ý với vai trò của NCKH trong trường đại
học rất quan trọng chiếm tỷ lệ rất lớn so với ý kiến cho rằng quan trọng: gấp 3 lần đối với
GV (74,5% so với 24,5%) và gần 2 lần (65,7% so với 34,3%) ở đối tượng CBQL.
3.1.1. Động cơ, mục đích tham gia nghiên cứu
Kết quả khảo sát về động cơ tham gia NCKH của giảng viên ở Bảng 2 chỉ ra
rằng, trong khi ý kiến của giảng viên về động cơ tham gia NCKH có sự phân hóa rõ rệt
70
tiêu chuẩn xét công nhận các chức danh giáo sư, phó giáo sư, các công trình NCKH là
một thành phần rất quan trọng, tổng điểm công trình từ bài báo, sách, giáo trình chiếm
tỷ lệ lớn.
Cũng như đối với động cơ nghiên cứu, GV thực hiện NCKH nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu với phần lớn ý kiến đánh giá (92,3%). Nhóm
có tỷ lệ lớn tiếp theo là ứng dụng lý luận vào thực tiễn giảng dạy (88,5%), nâng cao và
mở rộng tầm hiểu biết (81,7%), phát hiện những tri thức mới trong chuyên môn (79,8%)
và hình thành thói quen làm việc khoa học (74%).
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn đối với việc thực hiện hoạt động NCKH của
giảng viên
Trong khảo sát, chúng tôi liệt kê ra 11 yếu tố thuận lợi/khó khăn mà GV thường
gặp phải khi thực hiện hoạt động NCKH. Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy,
trong 3 yếu tố mà GV đánh giá là thuận lợi gồm ý chí của bản thân (87,5%), kinh
nghiệm, kỹ năng nghiên cứu (69,2%) và cán bộ chuyên môn phối hợp nghiên cứu
(68,3%) thì 2 yếu tố đầu tiên thuộc về các yếu tố chủ quan.
Như vậy, với những lợi ích mà hoạt động NCKH mang lại, tự bản thân GV đều
mong muốn được thực hiện. Ngoài ra, với đội ngũ lớn cán bộ giảng viên có trình độ thì
kinh nghiệm và kỹ năng NC và việc tìm, lựa chọn cán bộ phối hợp không phải là vấn đề
cản trở GV thực hiện hoạt động NC. So sánh với những thuận lợi thì tỷ lệ các yếu tố
được GV đánh giá khó khăn chiếm tỷ lệ cao hơn, chủ yếu là những yếu tố khách quan.
Có đến 7 yếu tố được cho là khó khăn chiếm tỷ lệ trên 50% (kinh phí, cơ chế
khuyến khích nghiên cứu, trang thiết bị phục vụ NC, môi trường nghiên cứu, tài liệu
chuyên môn, quy trình đăng ký, tuyển chọn, quỹ thời gian dành cho NC), trong đó cao
nhất là kinh phí với 90,9% và trang thiết bị phục vụ NC với 82,2%.
Trong những năm trở lại đây, mặc dù kinh phí cho KHCN được cải thiện đáng
kể nhưng vẫn rất nhỏ so với nhu cầu nghiên cứu, trang thiết bị nghiên cứu còn thiếu,
chưa đáp ứng được yêu cầu khiến cho việc thực hiện hoạt động NCKH của GV gặp khó
khăn. Hơn nữa, chưa có một chính sách thực sự động viên, tạo động lực cho GV nghiên
cứu, trong lúc thủ
Giảng viên CB QL
Cơ chế, chính sách động viên người nghiên cứu 4,51 4,21
Môi trường KT-XH, KH-CN địa phương 3,88 3,97
Các nguồn lực phục vụ NCKH (kinh phí, CSVC ) 4,49 4,51
Đặc điểm giới tính 2,20 2,30
Sự quản lý, điều hành hoạt động NCKH 3,98 3,63
Tài liệu, trang thiết bị cho NCKH 4,39 4,27
Động lực tham gia NCKH 4,28 4,27
Ý thức, thái độ đối với NCKH 4,40 4,46
Trình độ, năng lực chuyên môn 4,74 4,63
Kinh nghiệm, kỹ năng NCKH 4,63 4,49
Trình độ tin học, ngoại ngữ 3,79 3,54
Khối lượng công việc giảng dạy 3,73 4,24
Các nguyên nhân khác (bận kiếm sống, tuổi tác, vị trí
công tác )
3,48 3,93 72
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động NCKH có thể là
những yếu tố khách quan như cơ chế, chính sách, môi trường KT-XH, KH-CN địa
phương, các nguồn lực phục vụ NCKH (kinh phí, CSVC ), đặc điểm giới tính, sự quản
lý, điều hành hoạt động NCKH, tài liệu, trang thiết bị cho NCKH và cũng có thể là các
yếu tố chủ quan như động lực tham gia NCKH, ý thức, thái độ đối với NCKH, trình độ,
năng lực chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng NCKH, trình độ tin học, ngoại ngữ, khối
lượng công việc giảng dạy và các nguyên nhân khác.
Bảng 3 cho thấy, đối với hai đối tượng GV và cán bộ quản lý, các yếu tố ảnh hưởng
đến hoạt động NCKH là khá tương đồng, trong đó hai yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến
hoạt động NCKH của giảng viên thuộc về yếu tố chủ quan đó là trình độ, năng lực chuyên
môn và kinh nghiệm, kỹ năng NCKH (giá trị trung bình là 4,74 và 4,63 đối với GV và 4,63
về tạp chí khoa học. Tuy nhiên, với lượng thông tin bùng nổ và ngày càng phát triển
mạnh mẽ như hiện nay, các tài liệu rất nhanh bị lạc hậu. Trong khi đó, kinh phí để mua
sắm và bổ sung tài liệu rất hạn chế, vì vậy, với những tài liệu hiện có khó có thể đáp ứng
được nhu cầu tham khảo và cập nhật thông tin khoa học của GV.
* Phòng thí nghiệm, phương tiện, thiết bị phục vụ NCKH
Đại học Huế
có hệ thống các phòng thí nghiệm cơ bản và chuyên đề phong phú,
đa ngành với gần 100 phòng thí nghiệm tại các khoa, trong đó có 5 phòng thí nghiệm
được trang bị hiện đại theo chương trình tăng cường năng lực nghiên cứu của Bộ Giáo
dục và Đào tạo. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, thiết bị nghiên cứu khoa học và thí
nghiệm mặc dù đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn thiếu. Phòng thí nghiệm m
ột số
khoa học cơ bản còn phân tán, chưa tập trung thành các phòng thí nghiệm lớn, hạn chế
khả năng khai thác và phương án đầu tư nâng cấp, gây hạn chế cho hoạt động NCKH.
Một thực tế nữa là hiện nay một số phòng thí nghiệm được đầu tư tốt, khá đồng
bộ và hiện đại nhưng việc trang bị không đồng thời với xây dựng cơ sở hạ tầng nên một
số thiết bị không đưa vào sử dụng được. Cũng có tình trạng phòng thí nghiệm đáp ứng
được yêu cầu nhưng ít người sử dụng hoặc không đủ kinh phí để mua hóa chất nên dẫn
đến hư hỏng, độ chính xác giảm qua thời gian.
* Kinh phí
Trong giai đoạn 2006-2010, nhìn chung kinh phí KHCN của Đại học Huế được
Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp tăng dần mỗi năm với các loại đề tài, dự án đa dạng.
Bảng 4. Kinh phí KHCN giai đoạn 2006-2010
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Nhiệm vụ KHCN cấp Nhà nước 1.400 3.245 2.335 3.880 5.280
Nhiệm vụ KHCN cấp Bộ 3.630 6.260 11.000 10.164 6.935
Nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở
(do ĐHH tự phân bổ)
2.980 4.035 5.226 6.512 6.096
cứu khoa học của giảng viên
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến chiến lược khoa học công nghệ, các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động khoa học công nghệ, quán triệt
sâu sắc hơn nữa cho đội ngũ cán bộ quản lý, GV của Đại học Huế các quyết định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo về hoạt động NCKH cũng như các qui định, qui chế khác liên
quan đến hoạt động này để đội ngũ NCKH của trường có định hướng hoạt động, có ý
thức trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ NCKH bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy
của người GV.
- Thông tin đầy đủ về các chủ trương, chính sách NCKH. Xác định rõ vị trí và
vai trò của hoạt động NCKH đối với mục tiêu đào tạo trong trường đại h
ọc; Cần xác
định hoạt động NCKH có vị trí quan trọng, có liên quan trực tiếp đến chất lượng giáo
dục đào tạo của nhà trường. Vì vậy, GV phải có nhiệm vụ NCKH và kết quả của NCKH
phải được xem là một tiêu chí đánh giá về chất lượng chuyên môn của GV.
* Tạo môi trường hoạt động khoa học sôi nổi
- Hình thành các giải thưởng khoa học công nghệ với quy mô khác nhau để thu
hút cũng như tạo nên một môi tr
ường khoa học năng động. Có cơ chế khuyến khích GV
tham gia NCKH thông qua việc khen thưởng về vật chất và tinh thần để tôn vinh những 75
cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH, có kết quả NC nổi bật hay công
bố bài báo khoa học xuất sắc Cơ chế khen thưởng cần rõ ràng, theo định mức để tạo ra
tính hấp dẫn cho hoạt động này góp phần tạo hứng thú, say mê NCKH của GV. Đồng
thời, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy hoạt động NCKH trong nhà trường.
- Khuyến khích hoạt động hội nghị, hội thảo, seminar, sinh hoạt chuyên môn tại
các khoa, bộ môn để tổ chức các hoạt động học thuật sôi nổi thông qua việc dành một
phần kinh phí KHCN hàng năm hợp lý cho các đơn vị tổ chức hội nghị, hội thảo.
- Ban hành quy định yêu cầu bắt buộc về số bài báo, số đề tài nghiên cứu khoa
76
nghiên cứu và hỗ trợ ứng dụng kết quả NC vào thực tiễn để đảm bảo chất lượng và hiệu
quả hoạt động KHCN.
- Khuyến khích các đơn vị hỗ trợ kinh phí trích từ hoạt động đào tạo hỗ trợ NCKH.
* Huy động kinh phí nghiên cứu khoa học từ nhiều nguồn khác nhau
- Chủ trì thành lập được các nhóm nghiên cứu đa ngành, tập hợp các nhà khoa
học có năng lực nghiên cứu để
tham gia xây dựng các đề tài có kinh phí lớn, các dự án
hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học.
- Chỉ đạo các đơn vị tập trung lực lượng để xây dựng các dự án tăng cường năng
lực nghiên cứu tốt trình Bộ Giáo dục và Đào tạo.
* Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học với các địa phương, các tỉnh thành
trong nước và hợp tác quốc tế
- Ký kết hợp tác với các Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh trong việc thực
hiện có hệ thống các nghiên cứu khoa học tại địa phương.
- Cùng phối hợp tổ chức các hội thảo, hợp tác trao đổi thông tin phục vụ công
tác nghiên cứu của trường và địa phương. Thông qua việc hợp tác, thông tin về hoạt
động KHCN của các địa phương, kết quả nghiên cứu các đề tài/dự án được trao đổi
thường xuyên, từ đó tránh sự trùng lặp trong tổ
chức nghiên cứu khoa học.
- Tăng cường các hoạt động NCKH giữa Đại học Huế với các trường đại học
nước ngoài qua các dự án, đề tài nghị định thư, hợp tác song phương.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các đơn vị, cá nhân mở rộng quan hệ tìm kiếm
các dự án hợp tác quốc tế
4.3. Tăng cường công bố, ứng dụng kết quả, sản phẩm của hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên
Biện pháp này nhằm đổi mới về quản lý, về cách làm, tạo môi trường thuận lợi
cho ứng dụng nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống để khoa học và
công nghệ ngày càng phát huy vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Thành lập các ban biên tập với sự cộng tác của các nhà khoa học danh tiếng
trong và ngoài nước.
- Cộng tác với các nhà xuất bản danh tiếng trong việc công bố ấn phẩm của nhau
nhằm mở rộng mạng lưới người đọc, tăng khả năng tiếp cận đến với các nhà khoa học
của Đại học Huế.
- Đề nghị cập nhật và nâng điểm của tạp chí đối với từng chuyên san trong danh
mục tạp chí của Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước và ngành.
5. Kết luận
Trên cơ sở phân tích, đánh giá với những số liệu đã thu thập, bài báo đã làm rõ
thực trạng hoạt động NCKH của GV. Hầu hết GV và cán bộ quản lý nhận thức đúng đắn
về vai trò của hoạt động NCKH của GV trong trường đại học. Chấ
t lượng hoạt động
NCKH ngày càng được nâng cao và đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao
năng lực nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ, phục vụ cho công tác đào tạo đại học và
sau đại học. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động NCKH là chưa tương xứng với tiềm
năng hiện có của Đại học Huế, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu còn hạn chế, việc
tổ chức thực hiện các hoạt động NCKH còn có nhiều bất cập.
78
Bài báo đã đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn và phát huy
những lợi thế để thúc đẩy và phát triển các hoạt động NCKH của giảng viên. Trong phạm
vi một bài báo, chúng tôi chỉ tập trung các biện pháp nhằm tạo điều kiện về môi trường và
các biện pháp mang tính kỹ thuật để đẩy mạnh hoạt động NCKH. Trong thời gian đến,
chúng tôi sẽ tập trung phân tích và đề xuất các biện pháp quản lý để thúc đẩy hơn nữa các
hoạt động NCKH tại Đại học Huế xứng đáng với tiềm năng và năng lực hiện có.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Chỉ thị 296/CT-TTg ngày
27 tháng 02 năm 2010 về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2020