VAI TRÒ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TỪ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN – THỦY LỢI Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM - Pdf 11



79
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 68, 2011

VAI TRÒ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TỪ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN –
THỦY LỢI Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM
Lê Thị Nguyện, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Việt Nam đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì thế một
hiện tượng phổ biến cho việc điện khí hóa “đi trước một bước” là tình trạng phát triển rầm rộ
các công trình thủy điện. Việt Nam đã được EIA (Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ) đánh giá
là quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về việc khai thác thủy điện.
Do đặc
điểm địa lý, thủy văn của hệ thống sông ở miền Trung - Tây Nguyên với lưu
lượng mưa hằng năm rất lớn so với cả nước (từ 2.000 mm/năm trở lên) nên hệ thống sông suối
ở khu vực này ẩn chứa một tiềm năng thủy điện rất lớn. Tuy nhiên, do sự phát triển tràn lan các
công trình thủy điện, thủy lợi đã gây ra nhiều tác động không mong muố
n đến cả môi trường tự
nhiên và môi trường kinh tế - xã hội.

1. Đặt vấn đề
Không ai phủ nhận những cái lợi từ việc đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện.
Thủy điện có thể được coi là một nguồn năng lượng tái tạo như những nguồn năng
lượng tái tạo khác như năng lượng gió, năng lượng bức xạ Mặt trời Thủy năng thải rất
ít khí thải nhà kính so với phương thức sản xuất điện khác. Lượng khí nhà kính mà thủy
điện thải ra nhỏ hơn 10 lần so với các nhà máy tuocbin khí chu kì hỗn hợp và nhỏ hơn
25 lần so với các nhà máy nhiệt điện than. Về mặt kinh tế, việc đầu tư thủy điện thật sự
có hiệu quả kinh tế cao, thu hồi vốn nhanh. Thủy điện có công suất càng lớn, địa hình
tốt thì suất đầu tư thấp, với suất đầu tư bình quân 25 tỉ đồng/ MW thì chỉ từ 8 – 10 năm
sẽ thu hồi vốn. Chính vì thế, trong những năm gần đây, phong trào đầu tư các dự án

sông
Diện tích lưu
vực (km
2
)
Tổng lượng dòng chảy
(tỷ m
3
)
Nhu cầu nước
(tỷ m
3
)
1 Mả 28.400/ 17.600 18 4,5 7,807 36,478
2 Cả 27.200/ 17.730 23,5 4,7 3,749 4,294
3
Vu Gia –
Thu Bồn
10.350 19,9 5,78 2,473 3,522
4 Sê San 11.450 12,9 4,63 1,327 1,625
5 Srêpôk 18.480 15,04 2,83 1,37 2,002
6 Ba 13.900 10,34 2,39 2,709 3,182
7 Đồng Nai 38.600 33,64 9,603 8,061 9,635
Nguồn [2].
Nếu tính đến các hệ thống sông có diện tích lưu vực trên 2.500km
2
thì Việt Nam
có 16 hệ thống sông và riêng khu vực miền Trung – Tây Nguyên đã chiếm 12 hệ thống
sông. Nghĩa là ngoài 7 hệ thống sông kể trên còn có hệ thống sông Gianh (Quảng Bình),
sông Thạch Hãn (Quảng Trị), sông Hương (Thừa Thiên Huế), sông Trà Khúc (Quảng

Th ạch Hãn
Hương
Thu Bồn & Vu Gia
Tra Khuc
Kone
Ba
Đồ ng Nai
Nhóm sông ĐNB
Sê Sa n
Sr ê Po k
ĐBSCL
Kh u vực đô thị do trung ương hoặc t ỉnh quản lý
%
0 102030
Khu vực huyện lỵ
84
83
88
81
67
71
88
82
94
93
96
72
58
84
87

4
5
1
8
4
8
14
11
14
7
8
4
2
2
6
26
6
7
16
0 102030405060708090100
Bằng Giang-Kỳ Cung
Hồng-Thái Bình

Cả
Gianh
Thạch Hãn
Hương
Vu Gia-Thu Bồn
Trà Khúc
Kone

núi cao nên sông có độ dốc lớn, có nhiều thác ghềnh và v
ới khả năng hiện có của các
tỉnh, nên trong thời gian qua UBND các tỉnh cùng với các Sở, Ban ngành đã tiến hành
lập nhiều đề án, chiến lược trong việc xây dựng và khai thác thủy điện, thủy lợi. Đồng
thời, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, như vốn ngân sách, vốn của một số tập đoàn
kinh tế đã đầu tư nhiều công trình thủy lợi, thủy điện khắp trên các sông. Có thể nói
mật độ các dự án nhà máy thủy điện đã và đang được xây dựng dày đặc, cụ thể:
- Quảng Nam có đến 62 dự án thủy điện được phê duyệt. Riêng hệ thống sông
Vu Gia - Thu Bồn đã có 10 dự án hoạt động và 47 dự án thủy điện vừa và nhỏ đã được
địa phương cho phép lập kế hoạch nghiên cứu và đầu tư.
- Thừa Thiên Huế cũng có một loạt nhà máy thủy điện nằm trên các nhánh của
sông Hương đang được thi công ồ ạt. Hệ thống sông Hương là hợp lưu của 3 nhánh
sông lớn, sông Bồ, sông Tả Trạch và Hữu Trạch. Tổng diện tích lưu vực khoảng
2.960km
2
.
+ Sông Bồ: Có diện tích lưu vực 780km
2
, nhập lưu với sông Hương ở ngã ba
Sình. Chiều dài dòng chính sông Bồ đến ngã ba Sình là 94km. Hiện nay trên thượng
nguồn sông Bồ đang được Công ty cổ phần Thủy điện Hương Điền đầu tư xây dựng hồ
thủy điện Hương Điền để tạo nguồn phát điện cung cấp cho lưới điện quốc gia phục vụ
miền Trung và miền Nam với công suất 81MW, điện lượng trung bình năm là
197,7.10
6
kwh. Công trình thủy điện Hương Điền còn đón thêm lưu lượng xã từ nhà máy
thủy điện A Lưới và các thủy điện nhỏ khác trên sông Bồ để tăng thêm công suất.
+ Sông Hữu Trạch: Bắt nguồn từ vùng rừng núi huyện A Lưới và Nam Đông,
nhập lưu với sông Tả Trạch tại ngã ba Tuần, có diện tích tính đến của nhập lưu là
729km

Mi 3 (45MW) và Đắk Mi 4 (210MW). Như vậy, “1 giọt nước” chảy từ nguồn ra biển
phải qua 4 cửa tuốc bin.

Hình 3. Các nhà máy thủy điện đã, đang và sẽ xây dựng ở tỉnh Quảng Nam 84
Có thể thấy mức độ phát triển các công trình thủy điện trên các lưu vực sông ở
miền Trung và Tây Nguyên qua hình sau:

Hình 4. Mức độ phát triển thủy điện trên các hệ thống sông
Nguồn [3].
Việc đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện nêu trên sẽ mang lại
nhiều hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội, như cung cấp điện năng, các hồ chứa sẽ tham
gia giảm nhẹ và phòng chống thiên tai, nghĩa là sẽ cắt được lũ và chống được hạn, sẽ
bảo đảm nguồn nước nuôi trồng thủy sản và canh tác. Cụ thể như hồ Tả Trạch (Thừa
Thiên Huế) theo quy hoạch sẽ kết hợp với hồ Bình Điền để cắt 100% lũ tiểu mãn và lũ
sớm (theo tính toán của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam trong dự án Quy hoạch ổn
định sông Hương đã phê duyệt), từ đó sẽ giảm thiệt hại cơ sở hạ tầng, ổn định đời sống
nhân dân, đặc biệt là bảo vệ được khu di sản Kinh Thành Huế và vùng phụ cận. Hệ
thống các công trình thủy lợi, thủy điện này sẽ bổ sung nguồn nước tưới cho 34.728ha,
cấp nước sinh hoạt và hoạt động công nghiệp với lưu lượng Q = 2m
3
/s và bổ sung nước
để đẩy mặn với lưu lượng Q = 25km
3
/s. Ngoài ra, khi toàn bộ các công trình được xây
dựng hoàn thành sẽ hòa vào mạng lưới điện quốc gia với công suất 260MW, trong đó Tả
Trạch: 19,5MW, Bình Điền: 48MW, Hương Điền: 50MW và A Lưới: 150MW.
2.3. Những tác hại từ các công trình thủy điện – thủy lợi ở miền Trung

Trữ n ăng Kinh t
ế
Kỹ thuật Công su

t đã khai thác Công su

t sẽ khai thác đ
ế
n 202585
Thác Bà (Yên Bái) nhưng phạm vi mặt thoáng tạo thành hồ chứa chỉ có 9,09km
2
, một
cái mặt hồ rất bé và dung tích toàn bộ của hồ chứa chỉ 343,55 triệu m
3
, trong khi dung
tích hồ chứa của Thác Bà lên tới 1,4 tỉ m
3
, gấp gần năm lần hồ chứa của A Vương [1],
[4]. Chính vì vậy, bao nhiêu năm nay hồ Thác Bà chứa và điều tiết nước rất tốt, không
gây ra vấn đề gì đối với hạ lưu. Còn A Vương, chỉ cần một trận lũ lớn sẽ làm đầy hồ rất
nhanh chóng, vì vậy buộc phải tính đến phương án giữ an toàn cho bản thân công trình
là phải đưa nước xuống hết và hạ lưu đương nhiên phải chấp nhận một đợt đại hồng
thủy. Hiện tượng xả lũ của thủy điện A Vương từ ngày 28-30 tháng 09 năm 2009 là điển
hình. Ngoài ra, vào mùa mưa lũ, hiện tượng ngập lụt ở hạ lưu càng trầm trọng hơn khi
lũ có kèm theo theo bùn cát sẽ dễ gây sụp đổ nhà cửa và lượng phù sa ở các con sông
cũng sẽ bị bồi lắng quá mức. Như sông Vu Gia tại trạm quan trắc Thành Mỹ (Nam
Giang) bình quân mỗi năm bị bồi lắng 460.000 tấn đất, cát [5].

3
.
- Nhiều hồ chứa thủy điện lại thiếu cửa xả đáy vì thế vào mùa khô nếu một lý do
nào đó nhà máy tạm ngưng không phát điện thì không một giọt nước nào có thể qua đập
để đổ về hạ lưu. Như vậy, chắc chắn ở hạ lưu sẽ bị khô hạn, như công trình thủy điện
Đắk Mi 4 và thủy điện A Vương.
- Các công trình thủ
y điện, thủy lợi hầu như đều có liên quan đến việc di dân ra
khỏi các khu vực xây dựng và số dân này sẽ được đưa đến định cư ở một khu vực mới.
Nghị quyết số 26 được Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII, khóa IX
thông qua là: “Nơi tái định cư phải có điều kiện sống, sinh hoạt phát triển tốt hơn hoặc
bằng so với nơi ở cũ”. Mặc dù hầu hết trong các dự án về tái định cư thủy điện đều tạo
điều kiện cho người dân khi đến các khu tái định cư sẽ được hưởng các chính sách về hạ
tầng, nhà cửa, đất sản xuất, đất canh tác,… bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Nhưng một
thực tế là người dân thuộc diện di dời “nghèo vẫn hoàn nghèo”. Tại các khu tái định cư
thủy điện ở miền Trung – Tây Nguyên nhìn chung điều kiện sống của bà con nhiều nơi
không được thực hiện như các chính sách, các quy định đã đưa ra. Một khó khăn chung
là người dân hầu như bất lực trong việc kiếm kế sinh nhai. Các dự án hỗ trợ từ chính
quyền đều không có hiệu quả. Tình trạng phổ biến nhất ở các khu tái định cư là nông
dân không có đấ
t canh tác, nếu có thì đất cằn cỗi, trơ sỏi đá cũng không canh tác được.
Nghĩa là định cư nhưng thiếu định canh.
Thủy điện Pa Ôi (huyện Nam Giang, trên suối Tạp Rông và Laê, một nhánh
sông Bung, Quảng Nam) đã đụng đến đất sản xuất của dân tộc Katu quá nhiều, hơn 16
ha đất ruộng bị chìm trong lòng hồ, nghĩa là 100% dân tộc Katu nơi đây không có đất để
làm nương rẫy.
Ông Nguyễn Chua - Trưởng thôn khu tái định cư Hoà Bình, Thừa Thiên Huế,
ngậm ngùi: “Sau khi được Nhà nước bố trí tái định cư, dù nơi ở mới đầy đủ hơn về điện,
đường, trường, trạm nhưng việc làm thì rất bấp bênh nên đời sống người dân gặp nhiều
khó khăn”[1].

- Diện tích rừng già bị tàn phá mãnh liệt để có mặt bằng xây dựng nhiều công
trình có liên quan đến hệ thống thủy điện, thủy lợi. Đồng thời, trong khu vực lòng hồ sẽ
làm ngập nhiều diện tích rừng tự nhiên, diện tích cây trồng công nghiệp và cây hoa màu.
- Chất lượ
ng nước sinh hoạt ở vùng hạ lưu bị suy giảm.
- Việc di dân ra khỏi vùng lòng hồ và đưa dân đến các khu tái định cư cũng đã
để lại nhiều hệ lụy. Quan trọng hơn cả là cuộc sống của người dân ở một số khu tái định
cư trở nên bấp bênh vì phần lớn họ bị bế tắt trong việc tìm kiếm kế sinh nhai, nhất là đối
với dân tộc thiể
u số…
Với những thực trạng trên, để có thể khắc phục dần những tác động không mong
muốn từ các công trình thủy điện, thủy lợi thì việc ban hành các nguyên tắc cần phải
được thực thi nghiêm túc, phải được giám sát chặt chẽ và quan trọng hơn cả là công tác
đánh giá tác động môi trường từ các công trình thủy lợi, thủy điện phải được tiến hành
hết sức nghiêm túc, kĩ lưỡng. 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Báo Tuổi trẻ, phát hành ngày 09, 10, 17, 22 tháng 10 năm 2009.
[2]. Lê Bắc Huỳnh, Lưu vực sông và thực trạng quản lý lưu vực sông ở Việt Nam, Báo cáo
Hội thảo Các khuyến nghị của Ủy ban thế giới về đập, Hòa Bình, 2009.
[3]. Nguyễn Danh Oanh, Tiềm năng, hiện trạng và kế hoạch phát triển thủy điện ở Việt
Nam, Báo cáo Hội thảo Các khuyến nghị của Ủy ban th
ế giới về đập, Hòa Bình, 2009.
[4]. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đăklăk, Tài nguyên nước Tây Nguyên và vấn
đề khai thác sử dụng hiệu quả, Báo cáo của Sở năm 2009.
[5]. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Nam, Các vấn đề liên quan đến sông
ngòi và tài nguyên nước ở Quảng Nam, Báo cáo của Sở năm 2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status