i
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN
(CARD) 027/05VIE
Phát triển nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng
sinh kế cho công đồng dân cư nghèo ven biển
miền trung Việt nam
Nuôi ngao trong các điều kiện môi trường và sinh thái
khác nhau Milestone 11
Chu Chí Thiết*
1
, Như Văn Cẩn
1
and Martin S Kumar
2
1
Phân Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ, Việt nam (ARSINC)
2
Viện nghiên cứu phát triển Nam Úc, Australia (SARDI)
Tháng 7, 2009
iii
Các mô hình nuôi ngao thương phẩm: Nuôi ngao
trong các điều kiện môi trường và sinh thái khác
Aqutic Sciences centre
2 Hamra Avenue, West Beach
South Australia Dự án được tài trợ bởi AusAID, Tổ chức của chính phủ Úc
iv
Mục lục 1. Giới thiệu 1
1.1 Cơ sở luận chứng 1
2. Tổng quan tài liệu 1
2. Bối cảnh và phạm vi của báo cáo kỹ thuật 2
3. Nuôi ngao trong ao 5
3.1 Lựa chọn ao nuôi 5
3.2 Chuẩn bị ao nuôi 7
3.3 Bón phân cho ao nuôi 7
3.4 Mật độ thả giống 8
3.5 Thu hoạch 8
C. Ở Việt nam, ngao xuất hiện chủ
yếu ở vùng ven biển ở miền Nam, bao gồm Tiền Giang, Bến tre, Trà Vinh, Sóc trăng,
Bạc liêu và Cà mau. Mặc dù ngao là một loại hải sản ưa thích, nhưng các thông tin về
kỹ thuật nuôi vẫn còn hạn chế. Dự án VIE027/05 đã đề xuất công nghệ nuôi ngao ở
vùng ven biển miền trung Việt nam nhằm cải thiện sinh kế của người dân vùng ven biển
đang sử dụng nguồn lợi hai mảnh vỏ. Bên cạnh xây dựng các công nghệ phù hợp cho
các trại sản xuất giống ngao nhân tạo và nuôi lơn ở các vùng bãi triều, các nghiên cứu
về nuôi lớn loài này trong các ao nước lợ cũng được thực hiện và chủ yếu là tận dụng
trang thiết bị sẵn có của trang trại nuôi tôm và kết hợp với các hộ nuôi tôm ở trong vùng.
Mục đích của dự án là phát triển nuôi ngao trong ao và đồng thời nâng cao sản lượng
trong nuôi ngao ở bãi triều.
2. Tổng quan tài liệu
Trong những năm gần đây, sản lượng động vật thân mềm đã tăng đáng kể (Gibbs,
2004) và đạt tổng sản lượng 13,25 triệu tấn chiếm khoảng 23,3% tổng sản lượng thủy
sản trên thế giới năm 2004 (Tacon and Halwart, 2006). Trong số các loài động vật thân
mềm, thì loài 2 mảnh vỏ không chỉ là loài hải sản được ưa thích mà còn được quan tâm
như là hình thức nuôi trồng thủy sản có tính hiệu quả sinh thái nhất bởi vì chúng là
những động vật nhiệt đới bậc thấp. Bên cạnh đó, các loài 2 mảnh vỏ là loài ăn lọc ví thế
chúng có thể coi như là một hệ thống lọc sinh học để nâng cao chất lượng nước
(Mazzola and Sara, 2001; Shpigel and Blaylock, 1991; Shpigel et al., 1997; Shpigel et
al., 1993) và do đó đóng góp cho phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững.
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ tiêu thụ thức ăn tỷ lệ thuận với kích thước
cơ thể và trong phạm vi tập trung thức ăn thì đặc điểm tiêu hóa thức ăn của chúng có
mối quan hệ mật thiết với nền đáy (Zhuang and Wang, 2004), độ măn hoặc chu kỳ ngày
đêm (Zhuang, 2006). Để tối đa hóa sản lượng và lợi nhuận, Zhang and Yan (2006) đã
mô tả một phương pháp nuôi mới là nuôi 3 kỳ cho trang trại nuôi ngao Manila ở Trung
quốc. Trong phương pháp này, giống được sản xuất nhân tạo trong phòng thí nghiệm
và được nuôi qua mùa đông và giai đoạn nuôi lớn được thực hiện ở bãi triều với kích cỡ
thả rông, mật độ thả giống và nền đáy phù hợp. Ở các vung bãi triều, nguồn thức ăn
Trong năm thứ 2 giống ngao được sản xuất từ trại sản xuất giống được sử dụng cho
các mô hình trình diễn. Mục tiêu của cá mô trình diễn là để chứng minh và bổ sung thêm
các thông tin về kỹ thuật.
Nuôi ngao trong ao chỉ tập trung vào nuôi ngao thương phẩm luân canh. Các trang trại
nuôi tôm ở miền Trung thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm. Nuôi ngao
được thực hiện từ tháng 9. Sản xuất nuôi tôm và ngao kết hợp và nuôi ngao ở kênh dẫn
nước thải của ao nuôi tôm cũng được thực hiện.
Các thông tin kỹ thuật cho 2 loại hình nuôi ngao chính trong báo cáo này bao gồm:
a. Nuôi ngao trong ao
o Nuôi luân canh trong các ao nuôi
o Nuôi ngao trong ao
o Nuôi tôm và ngao kết hợp
b. Nâng cao năng suất nuôi ngao ở vùng bãi.
Báo cáo này được chuẩn bị dựa trên các nghiên cứu ứng dụng và kết quả của mô hình
trình diễn.
3
Chart1
Năm 1
Năm 2
Phát triển kỹ
thuật sản
xuất giống
ngao nhân
tạo đại trà
Thí nghiệm
sản xuất
giống ngao
nhân tạo
The map showing distribution of clam Meretrix lyrata in Vietnam
M Lyrata naturally occurred in
southern part of the Vietnam
indicated below
M lyrata was transferred to North
and central Vietnam mainly in the
intertidal areas.
Bản đồ phân bố của ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) ở Việt Nam
Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata)
phân bố chủ yếu ở m i ền N a m
Việt N a m – chi tiết ở bên
Ngao Bến Tre M. lyrata được
chuyển tới nuôi ngoài bãi triều
ở miền Bắc và miền Trung
5
3. Nuôi ngao trong ao
3.1 Lựa chọn ao nuôi
Nguồn nước: Lựa chọn vị trí phù hợp cho nuôi ngao rất quan trọng cho viêc triển khai.
Nguồn nước là sự sống còn của nghề nuôi. Ao nuôi là lý tưởng nếu nó nằm gần vùng
triều để nước luôn sẵn sàng cung cấp vào, ra dễ dàng. Chất lượng nước là một nhân tố
quan trọng khác được xem xét trong việc nuôi ngao nếu là nguồn nước nội địa hoặc
(hình1-3).
Ảnh hưởng của nền đáy tới sự phát triển của tuyến sinh dục: Thí nghiệm đã được tiến
hành so sánh ảnh hưởng của nền đáy đến sự phát triển của tuyến sinh dục của ngao
dưới điều kiện nhiệt độ nước ổn định. Kết quả xử lý số liệu (t-test) đã chỉ ra rằng tỷ lệ
sống của ngao bố mẹ khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0.05) trong sự khác
nhau của nền đáy (Hình 2). Tỷ lệ sống trung bình của ngao ở nền đáy cát và không đáy
cát lần lượt là 87,4± 4,4 và 80,9± 4,0.Sand
Clay
Clay-sand
5.5
6.0
6.5
7.0
7.5
8.0
8.5
a
a
b
Figure 3. Weight of clam cultured in effluent
on different substrata
gram
Hình 2: chỉ loại nền đáy cát-bùn nơi
ngao thường phân bố.
Hình 1: Trọng lượng ngao nuôi ở các nền đấy
khác nhau
Cát
Hình 4. So sánh tỷ lệ thanh thục của ngao nuôi ở các nền đáy khác nhau (Mean±SD)
Tỷ lệ thành thục trong thí nghiệm này chỉ ra rằng ngao có thể thanh thục tốt hơn với đáy
cát trong hệ thống nuôi vỗ thanh thục (hình 4). Kết quả thí nghiệm đã củng có cho lý
thuyết nền đáy cát phù hợp cho sự phát triển của ngao. Liên quan đến tỷ lệ thanh thục
của ngao ở ngày đầu tiên (ngày 0 thí nghiệm) chỉ ra rằng ngao bố mẹ được lựa chọn
đang ở giai đoạn thanh thuc trong mùa vụ sinh sản. Tuy nhiên, ngao cần 10 ngày để
thích nghi và đáp lại điều kiện môi trường và thức ăn sẵn có trong hệ thống nuôi vỗ
trong thí nghiệm này. Ngao bố mẹ cần khoảng 10 ngày cho việc thích nghi các điều kiện
mới. Thời gian thích nghi này có thể làm cho ngao bị giảm tỷ lệ thành thục. Trong 10
ngày tiếp theo, có hơn 50% ngao đã thanh thục và sẵn sang tham gia sinh sản. Để làm
sang tỏ các vấn đề này, đặc biệt là sự thích nghi của con bố mẹ hoặc giai đoạn thuần
hoá, thì cần có thêm nghiên cứu tiếp theo.
0.00
0.10
0.20
0.30
0.40
0.50
0.60
0.70
0.80
Day 0 Day 5 Day 10 Day 15 Day 20 Day 25
Age (days)
Maturation rate
việc bón vôi nhằm trung hoà các axít ở đáy. Vôi giữ vệ sinh môi trường trong ao. Lượng
vôi được sử dụng phụ thuộc vào pH đáy ao, Vôi được dùng theo khuyến cáo trong ao
khô với lượng nước ít. Hình 5 Chuẩn bị ao và bón vôi cho ao nuôi ngao
3.3 Bón phân cho ao nuôi
Bón phân cho ao được sử dụng phân vi sinh không được nghiên cứu cho nuôi ngao.
Các yếu tố lây bệnh cần phải được xem xét hợp lý trước khi sử dụng phân bón trong ao
nuôi ngao. Tuy nhiên, phân vô cơ (phân hoá học) như urê, super phosphate calcium có
thể sử dụng được. Công thức áp dụng với tỷ lệ 20 kg urê và 30 kg NP trong 1 hecta ao
nuôi. Màu nước (tảo) trong ao được duy trì thông qua việc sử dụng phân hoá học được
hướng dẫn dưới đây:
• Urea NH
2
CONH
2
(46%N): 1,5 g/m
3
Các nghiên cứu đã được tiến hành bằng việc sử dụng nguồn nước thải giàu dưỡng để
nuôi ngao. Thông tin liên quan được cung cấp ở mục 3.7. 2
8
3.4 Mật độ thả giống
Mật độ thả phù hợp cần được áp dụng tùy thuộc vào loại hình nuôi.Thời gian thả giống
và chu kỳ nuôi tùy thuộc vào loại hình nuôi. Ví dụ, hoạt động nuôi tôm ở miền trung Việt
nam thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 9, ví thế luân canh nuôi ngao phải đợi đến
tháng 9. Nuôi ngao luận canh có thể thực hiện ở các trang trại nuôi tôm từ giữa tháng
10 đến tháng 3 năm sau. Chi tiết cho mỗi loại hình nuôi khác nhau ứng dụng cho nuôi
ao được mô tả trong phần 3.7.1.
Mật độ thả và kích cỡ giống là yếu tố quan trong để xem xét tới khả năng tối đa hóa sản
lượng. Dựa trên các nghiên cứu, ngao giống có trọng lượng 300-500/kg là lý tưởng cho
nuôi trong ao. Nếu trong thời gian nuôi là ngắn, cần thiết sử dụng ngao cỡ giống lớn vì
thế co thể đạt được cỡ giống thương phẩm trong thời gian ngắn. Mặt khác ngao giống
cỡ nhỏ cần được ương cho đến khi mùa vụ nuôi ngao sẵn sàng. Dựa trên mật độ nuôi
của các thí nghiệm, chúng tôi khuyến cáo là mật độ nuôi từ 1.8-3 tấn/ha.
Dưới đay là các thông tin để cung cấp rõ hơn về trọng lượng và cỡ giống theo chiều dài
(cm)
- 1 cm – 1200 ngao/kg
9
gian nuôi sẵn sàng cho mỗi loại hình nuôi trước khi quyết định mật độ và kích cỡ
giống phù hợp khi bắt đầu thả giống
3.7 Các loại hình nuôi ngao
3.7. Ngao nuôi luân canh sau vụ tôm
Một trong những thanh công lớn của các
loại hình nuôi ngao là nuôi luân canh sau
vụ tôm trong ao. Nghề nuôi tôm ở miền
Trung Việt Nam thường diễn ra từ tháng
4 đến tháng 9 hàng năm; nuôi ngao luân
canh chỉ được bắt đầu tiến hành từ
tháng 9. Nuôi luân canh ngao được tiến
hành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Người nông dân phải tuân thủ theo quy
trình cải tạo ao và có trách nhiệm trong
việc nuôi ngao. Kết quả thử nghiệm mô
hình cho thấy năng suất của ngao nuôi
có thể đạt được 20 tấn/ha ao.
Việc phát triển nhanh và không có quy
hoạch trong nuôi tôm đã gây nên sự
bùng phát bệnh dịch ở Việt Nam. Năng
suất nuôi ngày càng suy giảm, có nhiều
hộ nông dân muốn sử dụng ao để nuôi
các đối tượng có giá trị kinh tế khác.
Nhiều người dân đã nuôi ngao như là
đối tượng thay thế và họ có thêm nguồn
thu nhập từ việc này. Vì thế, nuôi ngao
có thể tạo nên cơ hội mới cho cộng
nuôi ở ao chứa, ao nước thải và ao nuôi tôm
(P<0,05). Hình 7 và 8 chỉ ra trọng luợng cuối
của ngao cao nhất nuôi trong ao lắng và thấp
nhất là nuôi kết hợp với tôm. Trọng lượng
trung bình cao hơn trong hệ thống nuôi ao
lắng có thể do tỷ lệ sống thấp so với hệ
thống nuôi ao nước thải. Tuy nhiên, tốc độ
tăng truởng thấp của ngao nuôi kết hợp với tôm
có thể do điều kiện môi trường. Thêm vào đó,
màu sắc của ngao nuôi với tôm trông tối hơn so
với ngao nuôi ở ao chứa hoặc ao nước thải (hình 8). Ngao và tôm đều là động vật đáy,
ngao có thể tôm làm hạn chế việc trao đối (lọc) nước do hoạt động của tôm. Hơn nữa,
hoạt động của tôm có thể làm giảm sự vận chuyển của nước, vì thế làm giảm mức độ
xâm nhập của ánh sang, có thể ảnh hưởng đến phát triển của tảo, là nguồn thức an
chính trong ao. Một lý do khác có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngao trong ao
tôm là hoá chất để xử lý nước trong quá trình nuôi tôm. Ngao nuôi sử dụng nước thuỷ
triều là khuyến cáo đối với mô hình này để đạt kết quả tốt. Sản lượng phụ thuộc vào thời
gian nuôi và mật độ con giống nuôi thả. Các nghiên cứu đã tiến hành với mục tiêu là sử
dụng nguồn dinh dưỡng trong ao nước thải để nuôi ngao. Kết quả được trình bày trong
hình 9 đến 14. Influent
Efluent
Fig. 6
Fig. 7
Hình 8: màu sắc ngao tối hơn ở ngao
nuôi với tôm (nuôi kết hợp)
11
b
Figure 9. Weight of clam cultured
at stocking density of 90 ind./m
2
Gram
Influent
Efluent
7.5
10.0
12.5
15.0
a
b
Figure 10. Weight of clam cultured
at stocking density of 120 ind./m
2
Gram
Influent
Effluent
8
9
10
11
12
13
14
a
a
11
12
13
14
a
b
Figure 13. Weight of clam cultured in clay substrate
Gram
Influent
Effluent
6
7
8
9
10
11
12
13
14
a
b
Figure 14. Weight of clam cultured in clay-sandy substrate
Gram
Fig.13
Fig.14
Fig.12
Fig.11
Fig. 9
Nuôi ngao thành công trong kênh nước thải từ ao nuôi tôm được chỉ ra trong hình 1.
Lưu ý là nuôi ngao trong ao nước thải không được nghiên cứu tốt để đầy đủ để khuyến
cáo một cáhc thuyết phục. Tuy nhiên, theo các điều kiện phù hợp đã làm cho việc nuôi
ngao bằng việc sử dụng nguồn nước thải thành công. Các điều kiện này bao gồm: dòng
chải/lưu lượng nước trong mương tốt, khả năng hấp thụ ánh sáng tốt, nguồn nước bảo
đảm sạch. Năng suất ngao nuôi đối với mô hình này thu được đạt 30 tấn/hecta ở tỉnh
Quảng Bình.
Mặt khác, cũng ở Quảng Bình, một vài nông dân đã sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm để
nuôi ngao thì tỷ lệ chết của ngao rất cao và năng suất thu được rất thấp (hình 16). Điều
này có thể khuyến cáo rằng nuôi ngao trong ao nước thải rủi ro rất cao. Sự cần thiết
phải tiếp tục nghiên cứu là xử lý nguồn nước thải và xác định mức dinh dưỡng phù hợp
cho ngao phát triển. Tuy nhiên, nuôi ngao trong ao sử dụng nguồn nước thuỷ triều đã
thu được kết quả tốt.
13
Hình 16: Nguồn nước ô nhiễm cho tỷ lệ chết của ngao nuôi cao. Mũi tên chỉ ngao đã bị chết nổi
lên khỏi bề mặt nền đáy trong ao.
4. Nuôi ngao ngoài bãi triều
Nghề nuôi ngao truyền thống được tiến hành ngoài bãi triều. Trước khi dự án CARD
triển khai, nguồn ngao giống nuôi thả được thu gom ngào tự nhiên. Con giống spat
được mua từ những người thu gom, họ gom từ những ngư dân với số lượng nhỏ lẻ từ
tự nhiên.
Nuôi ngao ngoài bãi triều ít
phải quản lý hơn. Đây là loại
hình nuôi quảng canh. Quản lý
chất lượng nước (vật lý và hoá
Các hoạt động liên quan tới việc chuẩn bị vùng nuôi là hạn chế, không giống như chuẩn
bị ao nuôi, việc theo dõi quản lý được tiến hành nhiều hơn. Bãi nuôi cần phải được cày
xới để bay hơi, cho ráo nước và loại bỏ địch hại trong vây nuôi. Tuy nhiên, không có bất
kỳ một sự tác động nào thêm như bón vôi, bón phân…Nguồn nước tự nhiên với lưu tốc
dựa vào chế độ thuỷ triều.
Vị trí được lựa chọn để nuôi ngao cần thiết phải vây bằng lưới (kích thước 4-5mm).
Chiều cao của lưới từ 0,6-0,7 m từ mặt đáy và được chôn dưới đáy từ 0,4-0,6 m. Để
chống chịu lại dòng chảy và sóng gió, sử dụng cọc tre với khoảng cách 1,2 -1,5 m được
liên kết với nhau bằng lưới nylon (hình 17). Bãi nuôi được bố trí theo hình chữ nhật
hoặc bậc thang dọc theo bãi triều để giảm thiểu tác động trực tiếp của sóng và thuỷ
triều.
4.3 Quy trình thả ngao giống
Ngao giống có thể được ương nuôi từ cỡ nhỏ từ 10.000 đến 40.000 con/kg. Sau 2 đến
3 tháng ngao giống đạt kích thước 0,5cm. Ở giai đoạn này con giống được sàng lọc,
phân cỡ và di chuyển đến những nơi phù hợp. Điều này cũng làm giảm mật độ và đáp
ứng nhu cầu thức ăn cục bộ cho từng vùng.
Trong quá trình nuôi, các loài địch hại thâm nhập vào bãi nuôi, vì thế phải thường xuyên
kiểm tra vây bãi để loại bỏ địch hại và những cá thể ngao chết. Ngao giống nếu phải vận
chuyển từ vùng này đến vùng khác, tốt nhất là tiến hành vào ban đêm, tránh ánh sánh
trực tiếp, nếu có thể. Thời gian nuôi ngao thương phẩm nằm trong khoảng 10 – 18
tháng, tuỳ thuộc vào kích thước con giống. Dưới đây là kích thước và mật độ nuôi thả
được khuyến cáo.
Kích thước ngao
(con/kg)
Mật độ thả
(kg/ha)
Mật độ thả
(con/m
23,59±2,40
o
C trong quá trình thí nghiệm không phải là tối thích cho ngao phát triển.
Thí nghiệm nuôi bãi triều được tiến hành trong 24 ô, với diện tích 50 m
2
mỗi ô cho 8 thí
nghiệm (mỗi thí nghiệm bố trí 3 lần lặp). Ngao giống kích thước nhỏ (1,0 cm) được bố trí
ở 4 mật độ khác nhau: 0,5, 1,0, 2,0 và 3,0 tấn/ha, gọi lần lượt là T1, T2, T3 và T4. Ngao
giống lớn hơn (1,7 cm) cũng được bố trí ở 4 mật độ khác nhau: 3,4, 6,8, 13,6 và 20,6
tấn/ha, được gọi là T5, T6, T7 và T8 (mật độ đã được điều chỉnh dựa vào mật độ thực
tế sau khi thả). Thời gian thí nghiệm trong 165 ngày.
Hình19. Tỷ lệ sống của ngao kích thước 1.0c m và 1.7cm nuôi ở các mật độ khác nhau.
Giá trị (Average ± S.D) theo các ký hiệu là khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05). T1, T2, T3 và T4 là thí
nghiệm ngao (1cm) nuôi ở mật độ 0.5, 1.0, 2.0 và 3.0 tons/ha; T5, T6, T7 và T8 là thí nghiệm của ngao
kích t h ước 1,7 c m nuôi ở các mật độ 3.4, 6.8, 13.6 và 20.6 ton/ha.
Ảnh hưởng của mật độ nuôi thả ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, có ý nghĩa thống kê, ở nhóm
con giống kích thước 1,7cm. Mật độ thả càng cao thì tỷ lệ sống càng thấp. Tỷ lệ sống
của ngao ở các mật độ nuôi thả khác nhau được mô tả trong hình 19. Tỷ lệ sống của
ngao cao đối với mật độ nuôi thửa, hầu như có kết quả tương tự với các thí nghiệm T2
và T3. Thí nghiệm T1 và T4 khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Ở nhóm kích
thước lớn hơn, thí nghiệm T7 và T8 có kết quả tỷ lệ sống thấp và khác nhau không có ý
nghĩa thống kê so với các thí nghiệm T5 và T6. Mặt khác, tỷ lệ sống của ngao không chỉ
ảnh hưởng bởi mật độ nuôi thả mà còn ảnh hưởng bởi kích thước con giống.
Hình 20: Tăng mật độ nuôi thả thì tăng sản lượng thụ hoạch
T1
T2
T3
T4
0
50
60
70
80
90
100
110
a
ab
ab
b
Treatments (1.0 cm)
Survival (%)
T5
T6
T7
T8
50
60
70
80
90
100
110
a
b
c
c
Treatments (1.7cm)
T1
c
Treatments (1.7cm)
16
Thông thường ở giai đoạn con non, động vật thường có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn.
Đối với ngao, kích thước nhỏ (1 cm) tăng trưởng nhanh hơn kích thước lớn (1,7 cm)
nếu nuôi cùng mật độ. Trên các vùng triều, các yếu tố môi trường và thức ăn không thể
kiểm soát mà chủ yếu dựa vào tự nhiên. Chế độ thuỷ triều, sóng và dòng nước mang
tảo, các vật chất hữu cơ làm thức ăn cho ngao. Tuy nhiên, ngao là động vật ăn lọc và
thụ động ở đáy, vì thế với một sinh khối nào đó thức ăn tự nhiên có thể không đủ cho
chúng tăng trưởng. Kết quả theo dõi tăng trưởng cho thấy ở mật độ cao (3 tấn/ha) tăng
trưởng chậm và tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt khi tăng mật độ nuôi thả giống cao.
Đối với kích thước con giống lớn hơn, sản lượng cuối cungd của thí nghiệm tăng có ý
nghĩa thống kê khi tăng mật độ nuôi thả ban đầu (p<0,05), trong khi gia tăng sinh vật
lượng khác nhau không có ý nghĩa (p>0,05) ở thí nghiệm T5 và T6. Tỷ lệ % gia tăng
sinh vật lượng trái ngược, giảm khi tăng mật độ nuôi thả và khác nhau không có ý nghĩa
(p>0,05) ở mật độ nuôi thả lớn nhất là T7 và T8.
Giá trị % gia tăng sinh vật lượng chứng tỏ rằng mật độ nuôi thả là một yếu tố liên quan
đến tăng trưởng cua ngao. Tuy nhiên, sự gia tăng về sinh vật lượng và sản lượng cuối
cùng của ngao chỉ ra rằng lợi ích có thể đạt được nếu xác định được mật độ nuôi thả
phù hợp của chúng. Hiệu quả kinh tế cần được đánh giá dựa vào mức độ đầu tư vốn
ban đầu.
Ở nhóm kích thước nhỏ hơn chỉ ra lãi ròng cao nhất ở thí nghiệm T4, tiếp theo là T3 và
T2. Mặt dù sản lượng cuối cùng và gia tăng sinh vật lượng với việc tăng mật độ nuôi thả
kết quả là tăng giá trị đầu ra, lãi ròng với nhóm kích thước nhỏ hơn như ở thí nghiệm
T4. Điều này có thể giải thích là phần giá trị con giống tương đối cao, trong khi tăng
trưởng và tỷ lệ sống của thí nghiệm này thấp hơn các thí nghiệm khác. Với tính toàn
này, mật độ thả 2 ton/ha có thể được khuyến cáo cho việc nuôi ngao ngoài bãi triều với
kích cỡ con giống 1 cm, trong thời gian 6 tháng.
Với nhóm giống kích thước lớn hơn, lãi ròng rõ ràng giảm khi tăng mật độ thả giống,
5. Tài liệu tham khảo
Cigarrıa, J., Fernandez, J.M., 2000. Management of Manila clam beds I. Influence of seed
size, type of substratum and protection on initial mortality. Aquaculture 182, 173-
182.
Gibbs, M.T., 2004. Interactions between bivalve shellfish farms and fishery resources.
Aquaculture 240, 267-296.
Jara-Jara, R., Pazos, A.J., Abad, M., Garcia-Martin, L.O., Sanchez, J.L., 1997. Growth of
clam seed (Ruditapes decussatus) reared in the wastewater effluent from a fish
farm in Galicia (N. W. Spain). Aquaculture 158, 247-262.
Mazzola, A., Sara, G., 2001. The effect of fish farming organic waste on food availability
for bivalve molluscs (Gaeta Gulf, Central Tyrrhenian, MED): stable carbon
isotopic analysis. Aquaculture 192, 361-379.
Shpigel, M., Fridman, R., 1990. Propagation of the Manila clam (Tapes semidecussatus)
in the effluent of fish aquaculture ponds in Eilat, Israel. Aquaculture 90, 113-122.
Shpigel, M., Blaylock, R.A., 1991. The Pacific oyster Crassostrea gigas as a biological
filter for a marine fish aquaculture pond. Aquaculture 92, 187-197.
Shpigel, M., Spencer, B., 1996. Performance of diploid and triploid Manila clams (Tapes
philippinarum, Adams and Reeve) at various levels of tidal exposure in the UK
and in water from fish ponds at Eilat, Israel. Aquaculture 141, 159-171.
Shpigel, M., Gasith, A., Kimmel, E., 1997. A biomechanical filter for treating fish-pond
effluents. Aquaculture 152, 103-117.
Shpigel, M., Neori, A., Popper, D.M., Gordin, H., 1993. A proposed model for
"environmentally clean" land-based culture of fish, bivalves and seaweeds.
Aquaculture 17, 115-128.
Soudanta, P., Paillarda, C., Choqueta, G., Lamberta, C., H.I. Reidb, Marhica, A.,
Donaghya, L., Birkbeck, T.H., 2004. Impact of season and rearing site on the
physiological and immunological parameters of the Manila clam Venerupis
(=Tapes, =Ruditapes) philippinarum. Aquaculture 229, 401-418.
Nuôi luân canh
Lựa chọn an nuôi
• Vị trí: ao nên nằm ở gần vùng triều, thuận tiện việc lấy nước vào ao.
• Nền đáy: đáy cát bùn (80% cát, 20% bùn)
• Độ mặn: từ 10 – 25
0
/
00
• Tránh xa nguồn nước bị ô nhiễm. Cải tạo ao nuôi
• Phơi đáy 2-3 tuần
•
Bón vôi: 7 – 15 kg (CaO)/100 m
2
• Loại bỏ địch hại của ngao (ốc mỡ, cua) Thả giống
• Thời gian thả: tháng 5 và tháng 9
• Thời gian nuôi: 6- 10 tháng
• Mật độ thả: 90 con/m
2
(1,8 - 3 tấn/ha)
• Kích cỡ giống: 300 – 500 ngao/kg Thu hoạch
• Thủ tỉa: chọn ngao đạt kích thước thương phẩm
• Thu toàn bộ: thu tất cả ngao nuôi
• Ngao sau khi thu được đóng trong bao 30 – 40 kg trước khi vận chuyển tới nơi tiêu thụ.
• Giữ túi ngao trong mát, tránh ánh nắng hoặc nước mưa. Ngao có thể sống trong thời gian từ 24 đến 56
giờ Nuôi bãi triều Lựa chọn vị trí
• Vùng triều, từ vùng cao triều đến trung triều, ngao phát triển tốt hơn từ vùng trung triều tới vùng triều
dưới. Tuy nhiên, vùng triều dưới thường khó quản lý và thu hoạch hơn.
• Những vùng mà hạn chế hoặc không thay đổi/ảnh hưởng hoặc những nơi có sóng và thuỷ triều lớn
không phù hợp để nuôi ngao.
• Độ mặn trong khoảng 7-35
0
/
00
.
• Nền đáy: cát-bùn (20% bùn, 80% cát)
• Nền đáy để ương con giống nên là cát bùn (70-80% cát và 20-30% bùn)
• Độ mặn từ 19-26‰ Cải tạo vùng nuôi
• Cày đáy trư ớ c khi thả giống
3.000
300
500
3.000
150
200
6.000
120 Theo dõi và quản lý
• Khi ngao giống đạt kích thước 50 mm, sau 2-3 tháng ương, chúng được san thưa và chuyển tới nuôi ở
vùng nước sâu hơn để bảo đảm đủ thức ăn và tránh nhiệt độ nước cao ở vùng nước nông.
• Thường xuyên kiểm tra lưới chắn để bảo đảm ngao không bị thất thoát ra ngoài.
• Nếu ngao tập trung nhiều ở góc của vây, phải chuyển chúng tới vị trí phía đối diện