Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Với nền kinh tế Việt Nam cũng như các nước trên thế giới doanh
nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đang ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của
mình trong nền kinh tế xã hội. Theo thống kê đội ngũ này chiếm khoảng 85%
tổng số các doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp khoảng 30% GDP và thu
hút được một lực lượng lao động đáng kể, tạo nhiều công ăn việc làm, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác những tiềm năng trong dân chúng.
Tuy nhiên, các DNVVN vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn vướng mắc
cần giải quyết, và một trong những khó khăn lớn nhất đó là vốn.
Thành lập và đi vào sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp nói chung
và các DNVVN nói riêng cần có một lượng vốn nhất định. Nguồn vốn này có
thể được huy động bằng nhiều nguồn khác nhau: của bạn bè, của gia đình...
Nhưng có một nguồn vốn mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn tiếp cận đó
là vốn vay từ ngân hàng thương mại. Các NHTM có thể cung cấp cho các
doanh nghiệp một lượng vốn lớn, rẻ và quan trọng hơn là họ có thể đáp ứng
ngay khi các doanh nghiệp có yêu cầu và có đủ điều kiện để vay vốn. Các
NHTM có vai trò hết sức quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn của
các DNVVN. Nhưng bên cạnh việc ngân hàng cho các doanh nghiệp vay
ngày càng tăng là việc nâng cao chất lượng tín dụng các khoản vay để công
tác tín dụng ngân hàng ngày một hiệu quả.
Nhận thức vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với các
DNVVN, sau một thời gian thực tập, khảo sát tình hình thực tế cho vay của
Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, em đã
chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình là “Nâng cao chất lượng tín
dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội”.
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề gồm 3 chương:
triển chung của nền kinh tế đất nước, các DN mới ra đời ngày một nhiều, có
không ít DN có số vốn vượt quá 5 tỷ đồng nhưng vẫn chưa đủ mạnh để được
coi là một DN lớn. Để đáp ứng được đòi hỏi của thực tế, ngày 23/11/2003,
Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/NĐ-CP đưa ra tiêu chí mới để xác định
DNVVN của Việt Nam. Theo Nghị định:
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
“Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10
tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Vì tình hình kinh tế của mỗi địa phương là khác nhau nên trong khi
phân loại các DN có thể áp dụng cả hai chỉ tiêu hoặc chỉ sử dụng một trong
hai chỉ tiêu vốn và số lượng lao động để xếp loại và có những định hướng
cũng như các chính sách hỗ trợ.
1.1.1.2- Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Theo số liệu của Chi cục Thống kê TP Hà Nội, đến hết năm 2006,về
mặt số lượng các DNVVN trên địa bàn chiếm tuyệt đại đa số trong tổng số
DN của thủ đô (Số DN có dưới 500 lao động chiếm 86%, số DN có vốn dưới
10 tỷ đồng chiếm 75%). Phần lớn các DNVVN nằm trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại (khoảng
50%) và công nghiệp (khoảng 22-24%) tiếp theo là xây dựng, kinh doanh
khách sạn nhà hàng với số lượng đông đảo như trên, các DNVVN có một số
đặc điểm nổi bật như sau:
Chủ doanh nghiệp có trình độ chưa cao nên khả năng quản lý, điều
hành hoạt động sản xuất, kinh doanh thấp.
Theo số liệu thống kê, chủ các DNVVN thường có trình độ về một lĩnh
vực nhất định. Các chủ doanh nghiệp này có trình độ đại học, trên đại học còn
hạn chế, đặc biệt là những kiến thức về thị trường cũng như hiểu biết về các
quy luật kinh tế, các quy định của pháp luật. Vì vậy mà các ông chủ này gặp
lực lượng lao động này cũng không đáp ứng được những đòi hỏi về tay nghề
và trình độ mà các DN lớn trong nước và nước ngoài đòi hỏi. Vì vậy, các
DNVVN ra đời đã phần nào giảm bớt gánh nặng thất nghiệp cho xã hội.
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
DNVVN hoạt động trong nhiều lĩnh vực nên các DN này có thể sử dụng
người lao động ở mọi trình độ, vì vậy những người có trình độ chuyên môn
không cao vẫn có thể tìm được việc làm thích hợp với khả năng của mình.
Theo số liệu của bộ lao động thương binh và xã hội, tỷ lệ thất nghiệp ở khu
vực thành thị đã giảm từ 13% năm 1989 xuống còn 6,2% năm 1994 và hàng
năm có khoảng gần 1 triệu lao động tìm được việc làm trong các DNVVN.
Góp phần to lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế
Từ khi ra đời các DNVVN đã khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực kinh tế tiềm ẩn trong dân cư, hoạt động của các DNVVN thực sự
đã góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Theo số liệu thống kê của Bộ kế hoạch và đầu tư, mỗi năm các DNVVN Việt
Nam tạo ra khoảng 25-26% GDP của cả nước, 31% giá trị tổng sản lượng
công nghiệp, 64% tổng khối lượng luân chuyển hàng hoá. Bên cạnh đó, các
DNVVN còn giữ một vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển
những làng nghề truyền thống nhằm giữ được những nét văn hoá Việt Nam
trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Tăng tính năng động và đa dạng cho nền kinh tế
Với đặc trưng về nguồn vốn và quy mô hoạt động, các DNVVN có khả
năng nhanh chóng chuyển đổi mặt hàng kinh doanh, chuyển hướng sản xuất
và đổi mới công nghệ…cho phù hợp với sự biến động của môi trường kinh
doanh. Như vậy, vô hình chung các DNVVN đã làm cho nền kinh tế trở nên
năng động hơn. Thực tế cho thấy, tốc độ gia tăng các DNVVN lớn hơn rất
nhiều so với các DN lớn và đương nhiên khi có càng nhiều doanh nghiệp ra
đời thì tính cạnh tranh của thị trường càng được tăng lên. Một thị trường có
trung gian đủ mạnh có khả năng đảm đương việc bảo lãnh phát hành cổ phiếu,
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
trái phiếu của công ty và nó còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí, thói
quen kinh doanh và sự sôi động của thị trường vốn thứ cấp.
Ở nước ta hiện nay thị trường chứng khoán đang trên đà phát triển và
hoàn thiện. Việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu của các công ty để huy động
vốn cũng không phải là một điều gì quá xa lạ và mới mẻ . Tuy nhiên, để đáp
ứng được những quy định của việc phát hành các chứng khoán và tham gia
niêm yết trên thị trường thì phải thoả mãn các điều kiện như trong quy định
của Nghị định 144 và mới đây nhất là Luật Chứng khoán. Theo các văn bản
này một chủ thể phát hành phải có số vốn tối thiểu là 10 tỷ đồng. Điều kiện
này tuy đơn giản nhưng không phải bất cứ một DNVVN nào cũng đáp ứng
được. Do đó, huy động vốn qua thị trường chứng khoán để huy động vốn
phát triển sản xuất kinh doanh đối với các DNVVN vẫn chưa thực sự hiệu
quả.
Chính vì lẽ đó, đối với các DNVVN tín dụng Ngân hàng luôn được coi là
một điểm tựa vững chắc về vốn.
1.1.2- Tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.2.1- Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường có nhiều hình thức quan hệ tín dụng, như:
Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu
dùng, tín dụng quốc tế…Trong đó, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng
phổ biến và có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng
giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại.
Chúng ta có thể nói: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng
tiền tệ giữa một bên là ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ - với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân
hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”
1.1.2.2- Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn hợp lý cho
DNVVN
Nguồn vốn của một DN luôn bao gồm hai phần: Vốn tự có và vốn vay.
Sự kết hợp nhất định giữa hai nguồn này chỉ ra chi phí vốn tối ưu cho doanh
nghiệp. Cơ cấu vốn tối ưu là sự kết hợp hợp lý nhất các nguồn tài trợ cho kinh
doanh của một doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hoá giá trị thị trường của
doanh nghiệp tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất. Cơ cấu vốn tối ưu cần đạt
được sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận. Nếu tỷ lệ vốn của chủ lớn thì mức
độ rủi ro của DN thấp nhưng kéo theo mức lợi nhuận thu được cũng thấp do
vốn chủ sở hữu thường là nhỏ bé trong khi nhu cầu vốn của DN là rất lớn, vì
vậy để đáp ứng được nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như
mong muốn tăng nguồn lợi thu được, các DN phải tiếp cận với nguồn vốn
vay.
Nhưng nếu vốn vay quá lớn thì chi phí vốn sẽ tăng, kéo theo giá thành
tăng và đương nhiên lợi nhuận thu được sẽ giảm, đồng thời khả năng thanh
toán của DN giảm, rủi ro dẫn tới nguy cơ phá sản tăng. Do đó, tỷ lệ vốn vay
càng lớn, doanh nghiệp càng phải chịu sự kiểm soát sát sao và các điều kiện
vay vốn chặt chẽ của ngân hàng. Vì thế, các ngân hàng và các DN phải cân
nhắc trong việc quyết định tỷ trọng giữa vốn vay và vốn chủ trong cơ cấu vốn
sao cho hợp lý để vừa đáp ứng được nhu cầu về vốn, vừa đảm bảo được
nguồn thu và mang lại sự an toàn cho hoạt động kinh doanh.
Tín dụng ngân hàng tác động vào xu thế chuyển dịch cơ cấu sản xuất
của DNVVN
Nhà nước ta đang có chủ trương chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế
theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong tổng thu
nhập quốc nội. Như vậy, các DN hoạt động trong các lĩnh vực nãy sẽ được
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Hơn nữa, bằng việc kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, giám sát
chặt chẽ tiến độ và mục đích sử dụng vốn của DN ngân hàng không chỉ kiểm
soát được đồng vốn của mình mà còn đưa ra những tư vấn, giúp đỡ trong
phạm vi cho phép giúp DN tháo gỡ khó khăn trước mắt và gây dựng được
mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng.
1.1.2.3- Các hình thức tín dụng ngân hàng
Có nhiều tiêu thức để có thể phân loại các hình thức tín dụng ngân hàng,
tuy nhiên dưới đây chúng ta chỉ đề cập đến các tiêu thức chính như sau:
Phân loại theo mục đích vay vốn
Dựa vào căn cứ này cho vay thường được chia ra làm các loại:
- Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc…
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín
dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí
thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
Phân loại theo thời hạn cho vay
Theo căn cứ này cho vay được chia làm 3 loại sau:
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được
dân, từ 5 triệu đồng trở xuống. Ngày 29/12/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 178/1999/ NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; theo
đó mà việc cho vay không bảo đảm được mở rộng hơn so với trước đây, cho
phép các tổ chức tín dụng được lựa chọn khách hàng để cho vay không có bảo
đảm, tuy nhiên khách hàng vay không bảo đảm phải hội tụ đầy đủ những điều
kiện sau đây:
+ Có tín nhiệm đối với tổ chức cho vay trong việc sử dụng vốn vay và
trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
+ Có dự án đầu tư, hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi
có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án phương án phục vụ đời sống khả thi
phù hợp với quy định của pháp luật
+ Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
+ Cam kết thực hiện biện pháp đảm bảo bằng tài chính theo yêu cầu của
tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong trường hợp
đồng tín dụng; cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện
pháp bảo đảm bằng tài sản.
Mức vay tối đa không bảo đảm của mỗi loại hình tổ chức tín dụng do
Ngân hàng Nhà nước quy định trong mỗi thời kỳ.
Phân loại theo phương pháp hoàn trả
Cho vay của ngân hàng được chia làm hai loại:
- Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ
thể theo hợp đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp:
Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãI theo định kỳ.
Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay bất động sản nhà ở
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ
(cho vay chợ), cho vay để mua sắm thiết bị.
- Mua các phiếu bán hàng (dealer paper) tiêu dùng và máy móc nông
nghiệp trả góp.
Do sự tác động của phương thức tiêu thụ hàng hoá gắn phương pháp
tiếp thị mới đã thúc đẩy các NHTM đưa vào áp dụng loại cho vay gián tiếp.
Trong điều kiện hiện nay các DN thương mại đang tìm mọi biện pháp đã cạnh
tranh trong việc tiêu thụ hàng hoá, trong đó bán chịu hàn hoá được coi là biện
pháp để mở rộng tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả nhất. Tuy nhiên nguồn vốn
của các DN có hạn, vì vậy cần phải có nguồn tài trợ của ngân hàng thông qua
nhượng lại các phiếu bán hàng trả góp.
Một số điểm cần lưu ý trong việc thực hiện cho vay gián tiếp:
- Trước khi thực hiện hợp đồng mua lại các phiếu bán hàng trả góp,
ngân hàng phải thoả thuận với người bán các điều kiện bắt buộc khi thực hiện
việc bán hàng trả góp và ngân hàng chỉ mua những hồ sơ bán hàng theo đúng
các điều kiện đã thoả thuận.
- Ngân hàng phải giữ lại từ 10% - 30% so với số tiền phải thanh toán
cho người bán và sẽ hoàn lại cho người bán khi người mua thanh toán hết nợ.
Quy định này là cần thiết để nâng cao trách nhiệm của người bán trong việc
giám định các hồ sơ bán chịu.
- Hợp đồng mua lại các phiếu bán hàng trả góp là các hợp đồng được
phép truy đòi, có nghĩa là khi người mua không thanh toán được nợ thì người
bán có trách nhiệm phải thanh toán cho ngân hàng.
- Phần lớn lãi thu được từ khoản tín dụng này ngân hàng được hưởng và
chỉ dành cho người bán một mức hoa hồng nhất định.
- Nghiệp vụ bảo lãnh (factoring): là nghiệp vụ mua các khoản nợ thương
mại (các khoản phải thu), trong đó bên mua (factor) nhận việc thu nợ và chấp
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
16
Chuyên đề tốt nghiệp
nhận rủi ro tín dụng. Factoring, thực chất là hình thức tài trợ vốn lưu động cho
các DN.
hiện qua các chỉ tiêu: lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ, doanh số cho vay,
doanh số thu nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy
định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn, trung và dài hạn trong
nền kinh tế ngân hàng
Như vậy, để có được chất lượng tín dụng tốt, các nhà ngân hàng phải tiến
hành phân tích, kiểm tra đánh giá kỹ lưỡng mỗi khách hàng trước khi cho
vay, phải tiếp cận với hoạt động các DN để có những cái nhìn đúng đắn về
tình hình sản xuất kinh doanh đang diễn ra tại các DN này, từ đó đưa ra hạn
mức cho vay, phương thức trả lãi và các điều khoản liên quan nhằm mang lại
sự hài lòng cho khách hàng nhưng cũng giảm thiểu rủi ro cho đồng vốn.
Chất lượng tín dụng xét trên giác độ nền kinh tế
Trong bất kỳ giai đoạn nào, sự vận động của nền kinh tế đều đi theo
định hướng phát triển của các chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Hoạt động ngân hàng nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy, nó
cũng phải nằm trong khuôn khổ những định hướng phát triển chung. Như vậy
chúng ta có thể thấy: Chất lượng tín dụng trên giác độ nền kinh tế là sự đáp
ứng các nhu cầu về vốn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của từng
vùng, địa phương nhằm xây dựng cơ sở vật chất, giải quyết việc làm, phát
triển kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân.
Chất lượng tín dụng trên giác độ khách hàng
Tạo nên một khoản vay có chất lượng không chỉ cần có sự nỗ lực của
phía ngân hàng mà khách hàng lại là chủ thể quyết định phần lớn vấn đề này.
Sau quá trình phân tích, thẩm định kỹ lưỡng, ngân hàng quyết định cho vay,
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
tiếp đó là ký hợp đồng, giải ngân. Nhưng sau khi nhận được tiền, khách hàng
lại sử dụng số vốn đó vào một mục đích khác không như trong phương án sản
xuất. Như vậy khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đã bị đe doạ bởi sự không
trung thực của khách hàng.
của ngân hàng đối với các DNVVN
Các chỉ tiêu của ngân hàng
- Trước hết là việc chấp hành các bước cụ thể trong quy trình tín dụng,
đây là việc làm cơ bản mà về nguyên tắc là không thể bỏ qua bất kỳ một công
đoạn nào. Nó là cơ sở pháp lý đảm bảo cho món vay được an toàn, hiệu quả.
Hiện nay, một quy trình tín dụng thường gồm năm bước cơ bản: tiếp nhận và
lập hồ sơ, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân và cuối cùng là
giám sát và thanh lý tín dụng.
- Kết cấu nguồn cho vay: một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng đó là dàn trải rủi ro. Như vậy, chúng ta có thể thấy cơ
cấu của nguồn cho vay là rất quan trọng trong việc hạn chế rủi ro cho ngân
hàng. Để thực hiện được yêu cầu này, một ngân hàng cần phải đa dạng hoá
các đối tượng khách hàng của mình, làm như vậy ngân hàng vừa tránh được
rủi ro lại vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế đa dạng.
- Quy mô của hoạt động tín dụng: một ngân hàng không chỉ quan hệ với
các tổng công ty lớn mà quên đi thị trường tiềm năng các DNVVN, một ngân
hàng có chất lượng tín dụng cao là phải có được một đội ngũ khách hàng
đông đảo, đa dạng, hơn thế nữa tỉ lệ dư nợ trên một khách hàng cũng không
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
nên quá cao, vì như vây sẽ dẫn đến tốc độ quay vòng vốn của ngân hàng sẽ
giảm, rủi ro tiềm ẩn cao.
Các chỉ tiêu về phía khách hàng
- Một món vay có chất lượng cao chỉ khi khách hàng có ý muốn hợp tác
và là một khách hàng giữ chữ tín. Ngân hàng chỉ có thể đưa ra quyết định cho
vay sau khi đã tiến hành các bước phân tích, thẩm định tín dụng. Tuy nhiên,
ngân hàng có thể bị đánh lừa bởi các báo cáo kết quả kinh doanh “giả” nếu
các khách hàng không trung thực, và như vậy khoản vay đã gặp rủi ro ngay từ
khi giải ngân.
được điều đó chúng ta phải thông qua các chỉ tiêu sẽ nói tới dưới đây.
Hệ số sử dụng vốn vay
Công thức:
Tổng dư nợ
Hệ số sử dụng vốn vay = ------------------------------------
Tổng nguồn vốn huy động
- Hệ số này phản ánh kết quả sử dụng nguồn vốn huy động trong hoạt
động cho vay của các NHTM. Hệ số này luôn nhỏ hơn 1. Hệ số sử dụng vốn
cao là một tín hiệu tốt đối với hoạt động tín dụng, nhưng nếu hệ số này tiến
quá gần tới 1 thì ngân hàng cần đề phòng trường hợp mất khả năng thanh
toán. Nếu hệ số sử dụng vốn thấp cần tăng trưởng dư nợ hoặc giảm huy động
vốn bằng cách hạ lãi suất huy động hạn chế rủi ro nguồn vốn tác động đến
hiệu quả kinh doanh.
Tỉ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ
Công thức:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = --------------------- x 100 %
Tổng dư nợ
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất về chất lượng tín dụng ngân hàng. Nếu
tỷ lệ nợ quá hạn cao thì chứng tỏ ngân hàng đó hoạt động kém hiệu quả, chất
lượng tín dụng không cao. Ngược lại nếu tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất
lượng tín dụng cao, rủi ro đối với ngân hàng thấp.
Nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn thường chia làm hai loại:
* Nguyên nhân thứ nhất: Nợ quá hạn do kỳ hạn trả nợ ngắn hơn chu kỳ
sản xuất kinh doanh hoặc vì một lý do nào đó chưa thu được tiền bán hàng
nên đến kỳ hạn trả nợ khách hàng chưa có tiền trả, ngân hàng buộc phải
chuyển khoản nợ đó sang nợ quá hạn, loại nợ quá hạn này khả năng thu được
cao chứng tỏ đồng vốn của ngân hàng đã tham gia nhiều vào chu kỳ sản xuất
kinh doanh của DN. Với số lượng vốn nhất định, nhưng do tốc độ vòng quay
vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng không những đáp ứng được nhu cầu vốn
cho các doanh nghiệp mà còn thêm nguồn vốn để tiếp tục đầu tư cho các
doanh nghiệp khác thực hiện phát triển sản xuất kinh doanh. Vòng quay vốn
tín dụng nhanh chứng tỏ tốc độ quay vòng vốn của các DN vay vốn cao, các
DN hoạt động có hiệu quả với đồng vốn vay của ngân hàng.
1.3- Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng đối với
DNVVN
1.3.1- Các nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định
chi phối hoạt động tín dụng do Hội đồng quản trị của các ngân hàng đưa ra
nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, các hộ gia
đình và cá nhân trong phạm vi cho phép của những quy định của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
Các ngân hàng lập ra chính sách tín dụng nhằm mục đích:
Sinh viên: Phạm Thị Cúc Lớp: TCDN 46B
24
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chính sách tín dụng xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín
dụng. Đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt
động tín dụng.
- Chính sách tín dụng được đưa ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định
tín dụng đều khách quan, tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và phù hợp thông lệ chung của quốc tế. Không một tổ chức, cá nhân nào
được can thiệp trái pháp luật vào quyền tự chủ trong quá trình cho vay và thu
nợ của các NHTM. Chính sách tín dụng xác định:
* Các đối tượng có thể vay vốn của ngân hàng
* Phương thức quản lý các hoạt động tín dụng