quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi - Pdf 11

Đề tài báo cáo
Quản lý môi trường trong hoạt
động chăn nuôi
DANH SÁCH NHÓM
STT Họ và tên Mã sinh viên Lớp
1 Nguyễn Thị Quỳnh Anh 553330 K55MTD
2 Võ Thị Ngọc Huyền 553366 K55MTD
3 Trần Thị Thu Hương 553372 K55MTD
4 Nguyễn Thị Lan 553378 K55MTD
5 Phạm Thị Lê 553379 K55MTD
6 Nguyễn Thị Luyến 553391 K55MTD
7 Hoàng Ngọc Trà My 553396 K55MTD
8 Hoàng Thị Nhi 553404 K55MTD
9 Đỗ Thị Thảo 553416 K55MTD
10 Đào Lệ Thu 553421 K55MTD
11 Nguyễn Thị Kim Tuyến 553437 K55MTD
I. Đặt vấn đề
I.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thách thức về môi trường đối với sự phát triển chăn nuôi là thách thức chung
của tất cả các nước trên thế giới. Giải bài toán ô nhiễm môi trường cho hoạt động chăn
nuôi là con đường hướng tới ngành chăn nuôi “xanh”, phát triển bền vững ở nước ta.
Cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại
chăn nuôi tập trung. Ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn trong nông nghiệp. Tuy
nhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức.
Hiện mới chỉ có khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại, trong đó khoảng 10%
chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh; hộ có công trình khí sinh học (hầm biogas) chỉ đạt
8,7%; khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ
có cam kết bảo vệ môi trường chỉ chiếm 0,6%. Đối với các trang trại chăn nuôi tập
trung, mặc dù phần lớn đã có hệ thống xử lý chất thải nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt
để. Tình trạng trên đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước, không khí ở
nông thôn. Ước tính, hiện có tới 80% các bệnh nhiễm trùng ở nông thôn có liên quan

sức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động phát
triển chăn nuôi. Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại, thì chăn nuôi cũng đang nảy sinh rất
nhiều vấn đề về chất lượng môi trường, đe dọa sức khỏe của cộng đồng dân cư địa
phương và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên mà nguyên nhân chính là do sự
phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi, cộng với trình độ quản lý các loại chất thải
chăn nuôi của người dân thấp.Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới
(FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn
nhất. Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng
trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới
xuất khẩu.
• Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh.
Tổng số lượng đàn gia súc, gia cầm cũng tăng lên nhanh chóng: tổng số đàn lợn
tăng từ 26,6 triệu con năm 2007 lên 27,4 triệu con năm 2010 ; đàn gia cầm tăng
từ 226 triệu con năm 2007 lên 300,5 triệu con năm 2010.
Bảng 1.Số lượng một số gia súc, gia cầm tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011
Năm Trâu Bò Ngựa Dê, cừu Lợn Gia cầm
Nghìn con Triệu con
2000 2897.2 4127.9 126.5 543.9 20193.8 196.1
2001 2807.9 3899.7 113.4 571.9 21800.1 218.1
2002 2814.5 4062.9 110.9 621.9 23169.5 233.3
2003 2834.9 4394.4 112.5 780.4 24884.6 254.6
2004 2869.8 4907.7 110.8 1022.8 26143.7 218.2
2005 2922.2 5540.7 110.5 1314.1 27435.0 219.9
2006 2921.1 6510.8 87.3 1525.3 26855.3 214.6
2007 2996.4 6724.7 103.5 1777.7 26560.7 226.0
2008 2897.7 6337.7 121.2 1483.4 26701.6 248.3
2009 2886.6 6103.3 102.2 1375.1 27627.7 280.2
2010 2877.0 5808.3 93.1 1288.4 27373.3 300.5
Sơ bộ 2011 2712.0 5436.6 88.1 1267.8 27056.0 322.6
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011

1.926 8,2
3 Bắc trung bộ và duyên hải
miền trung
3.173 13,5
4 Tây nguyên 812 3,4
5 Đông Nam Bộ 4.089 17,4
6 Đồng bằng sông cửu long 3.281 13,9
Nguồn: Cục chăn nuôi, 2010
Hình ảnh chăn nuôi lợn trong hộ gia đình
• Trong những năm gần đây việc phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại tập
trung phát triển mạnh: xu hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán theo hộ
gia đình dần chuyển theo chăn nuôi trang trại tập trung theo hướng sản xuất
hàng hóa diễn ra mạnh ở nước ta. Trong giai đoạn 2006 đến 2010 thì số lượng
các trang trại chăn nuôi ở nước ta phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như quy
mô. Năm 2006 cả nước có khoảng 17.721 đến năm 2010 đã tăng lên 23.558
trang trại. Việc tập trung chăn nuôi theo trang trại đem lại hiệu quả kinh tế cao
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hóa nhưng những trang trại theo hướng
chuyên môn hóa cao đã gây ra sự ô nhiễm môi trường.
Chăn nuôi gia đình theo hộ gia đình
Do các chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, chuỗi thức ăn
và sức khỏe con người. Trong quá trình chăn nuôi gia súc và gia cầm, quá trình lưu trữ
và sử dụng chất thải tạo nên nhiều chất độc như là SO
2
, H
2
S, CO
2
, NH
3
,…. Và các vi

lượng
Tỷ
lệ %
Số lượng
Tỷ
lệ
%
Số
lượng
Tỷ
lệ %
Số
lượng
Tỷ
lệ %
Số
lượng
Tỷ
lệ %
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Có đánh giá
tác động môi
trường
1.047 2,8
Có cam kết
BVMT
5.098 13,8 36.599 0,6 23.528 3,2 11.979 2,4 21.179 2,3 0 0

4
(một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 23 lần CO
2
) chiếm
37%. Lượng khí CH
4
chủ yếu được tạo ra ở thú nhai lại, những vi khuẩn phân hủy
Cellulose trong cỏ để tạo ra năng lượng là một quá trình yếm khí, tiến trình đó gây ra
sự thoát khí CH
4
qua ợ hơi. Quá trình chăn nuôi còn tạo ra 65% lượng khí NO
x
(có
khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO
2
) và tạo ra 2/3 tổng lượng phát
thải khí NH
3
nguyên nhân chính gây mưa axit phá hủy các hệ sinh thái.
Thế giới hiện đang đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng, theo dự
đoán đến năm 2025 thì 64% dân số thế giới sẽ phải sống trong điều kiện căng thẳng về
nguồn nước. Trong khi đó sự phát triển ngành chăn nuôi làm tăng nhu cầu sử dụng nước
chúng chiếm khoảng 8% tổng lượng nước loài người sử dụng, đồng thời lượng nước thải
từ chăn nuôi đã là ô nhiễm môi trường bởi các chất kháng sinh, hoocmon, hóa chất sát
trùng,…làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Ngoài ra ngành chăn nuôi còn làm giảm lượng nước bổ sung cho các mạch
nước ngầm do mất rừng và đất bị thoái hóa, chai cứng giảm khả năng thẩm thấu. Tất
cả các tác động tiêu cực của ngành chăn nuôi đến môi trường dẫn đến kết quả tất yếu
là làm suy giảm đa dạng sinh học.
2.3. Nội dung quản lí môi trường trong chăn nuôi

pháp xử lý xác gia súc, gia cầm… Kết quả được hội đồng khoa học đánh giá cao, có tính khả
thi, được ứng dụng vào sản xuất.
Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước chuyên ngành thú y được xây dựng từ trung ương
đến địa phương: cấp Trung ương có 5 Trung tâm Thú y chuyên ngành; 7 Cơ quan Thú y
vùng; 17 Trạm Kiểm dịch động vật xuất khẩu, nhập khẩu đóng tại các cửa khẩu, cảng, sân
bay quốc tế. Cấp địa phương: 63/64 tỉnh, thành phố có Chi cục Thú y trực thuộc Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, 58/63 tỉnh, thành phố có tổ chức mạng lưới thú y cấp xã.
Tổng số cán bộ trên 54 ngàn người. Phối hợp hoạt động giữa các bộ phận chặt chẽ. Cơ sở vật
chất và nhân lực phục vụ cho công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng môi trường của Cục
Thú y khá tốt. hai trung tâm chuyên ngành đều có phòng môi trường, có nhiều năm kinh
nghiệm với trang thiết bị phân tích hiện đại như ELISA, HPLC, PCR
Hệ thống thú y Trung ương và các tỉnh thành phố có mối quan hệ chặt chẽ với với các
trường đại học, các viện nghiên cứu, các cơ quan trong và ngoài ngành trong các hoạt động
nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng.
Hiện nay, hệ thống văn bản quản lý nhà nước về môi trường tương đối nhiều, trong đó
có một số văn bản liên quan đến môi trường chăn nuôi. Những năm qua, từ trung ương đến
các địa phương, công tác tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đã được chú trọng
và bước đầu đã đạt được một số tiến bộ.
Với hệ thống tổ chức như trên, công tác quản lý môi trường nói chung và môi trường
trong chăn nuôi nói riêng do rất nhiều cơ quan đơn vị ở trung uơng và địa phương đảm
nhiệm. Do đó để bảo đảm hiệu quả trong công tác quản lý cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan nêu trên. Tuy nhiên, trên thực tế sự phối hợp còn nhiều bất cập. Do hệ thống tổ
chức chưa thống nhất, nên công tác quản lý nhà nước về môi trường trong chăn nuôi tại hầu
hết các địa phương vẫn còn nhiều bất cập. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành
chăn nuôi và môi trường còn thiếu chặt chẽ và thường xuyên, chưa phân cấp rõ ràng giữa
các tổ chức này để tránh sự chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ.
2.3.2. Luật pháp và các chính sách hỗ trợ trong chăn nuôi
* Luật pháp
- Tại Hiến pháp 1992 có quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân có nội
dung: các chủ trang trại phải thực hiện và tuân theo các quy định về bảo vệ môi

trong đó có 1 dự án vốn vay của Ngân hàng thế giới (WB) và 1 Dự án do chính phủ Hà Lan
tài trợ.
Nhờ các chính sách hỗ trợ tích cực nêu trên mà trong các năm gần đây, hàng trăm
ngàn công trình khí sinh học đã được xây dựng, từ đó góp phần quan trọng giảm thiểu ô
nhiễm môi trường do chất thải vật nuôi, đồng thời còn tạo ra nguồn năng lượng sạch thay thế
các chất đốt truyền thống, tạo sinh kế cho người nông dân.
2.4. Hạn chế của hoạt động chăn nuôi
- Các loại chất thải phát sinh lớn, không được xử lí triệt để gây ô nhiễm môi trường:
Trong những năm gần đây, tổng đàn gia súc, gia cầm đã tăng lên không ngừng, nhiều
cơ sở chăn nuôi hàng hoá đã ra đời, nhưng chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn chiếm ưu thế, nước thải chất
thải nhiều nơi không được xử lý, gây ô nhiễm môi trường. Số lượng gia súc, gia cầm tăng
nhanh song song với việc gia tăng lưu thông, vận chuyển gia súc, gia cầm và sản phẩm của
chúng từ vùng này sang vùng khác khiến cho tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, dịch
bệnh xảy ra ở nhiều nơi trong khi ở nhiều địa phương, công tác bảo vệ môi trường chưa
được quan tâm thực sự.
Bảng 4: Khối lượng chất thải rắn vật nuôi
TT Loại vật nuôi
Tổng số đầu con
năm 2010 (tr.con)
Chất thải rắn bình
quân
(kg/con/ngày)
Tổng chất thải
rắn/năm (tr.tấn)
1 Bò 5,92 10 21,61
2 Trâu 2,91 15 15,93
3 Lợn 27,37 2,5 24,96
4 Gia cầm 300,50 0,2 21,94
5 Dê, cừu 1,29 1,5 0,71
6 Ngựa 0,093 4 0,14

chuyên môn nghiệp vụ nên họ gặp nhiều khó khăn khi thực thi công việc. Cơ sở vật
chất và trang thiết bị tuy đã được đầu tư nhưng còn nhiều thiếu thốn, đặc biệt các địa
phương.
- Quản lí chất thải chăn nuôi là một lĩnh vực mới ở Việt Nam nên chưa có cơ chế chính
sách khuyến khích phối hợp về quản lí chất thải chăn nuôi với các cơ quan liên quan.
- Lưu lượng thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo vệ môi trường còn thiếu trong khi
địa bàn hoạt động rộng, số lượng sản xuất kinh doanh trên địa bàn nhiều.
- Nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương và toàn xã hội nói chung về công
tác bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi là chưa đúng mức và chưa thành
hành đông cụ thể.
2.5. Giải pháp
a. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường trong lĩnh
vực chăn nuôi.
- Để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trước tình hình mới, cần
sớm hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; phân công, phân
cấp rõ ràng chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ ngành và địa phương trong quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng.
- Thành lập các bộ phận chức năng theo dõi về môi trường nông nghiệp, nông thôn trực
thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT. Tại cấp huyện có cán bộ chuyên trách theo dõi quản
lý môi trường nông nghiệp và nông thôn thuộc phòng Nông nghiệp và PTNT.
- Xác định rõ nội dung của quản lý nhà nước về môi trường, xác định rõ chức năng,
quyền hạn và quan hệ phối hợp giữa "cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất" về môi
trường và "cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành” để tạo thuận lợi cho việc quản lý
mà không gây phức tạp cho cơ sở.
- Tăng cường số lượng, năng lực cho các tổ chức chuyên môn, chuyên trách về bảo vệ
môi trường trong các bộ, ngành, các Sở Nông nghiệp và PTNT. Củng cố đội ngũ cán
bộ môi trường cấp xã.
- Tăng cường phối hợp quản lý môi trường giữa các đơn vị liên quan, đặc biệt là các
đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên& Môi trường với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn.

trang bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Tăng cường công tác giám sát của đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp đối với các cơ
quan quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường.
d. Công tác thông tin tuyên truyền
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
đặc biệt các quy định về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi nhằm nâng cao
nhận thức về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân. Đẩy mạnh công tác xã hội
hóa, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường.
- Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo, tọa đàm nhằm cung cấp thông tin cho người dân,
giải đáp các vấn đề môi trường, phản ánh kịp thời các vấn đề môi trường đang tồn tại
hoặc mới phát sinh. Công khai các cá nhân, tổ chức, các vụ việc vi phạm pháp luật
bảo vệ môi trường tại địa phương.
- Tuyên truyền, tập huấn cho người nông dân các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi,
giết mổ bằng công nghệ phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường chăn nuôi.
- Sử dụng các phương tiện truyền thông như đài, báo, loa phát thanh… để tuyên truyền
nâng cao nhận thức của người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường trong hoạt
động chăn nuôi, thú y.
e. Các biện pháp kỹ thuật
Nghiên cứu, ứng dụng các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi như một số biện
pháp xử lý chất thải chăn nuôi đơn giản, hiệu quả mà chi phí thấp:
+ Sử dụng hầm biogas: vừa xử lý được chất thải chăn nuôi bảo vệ môi trường, vừa tạo
ra khí gas để cung cấp nhu cầu đun nấu, phát điện cho các cơ sở chăn nuôi.
Hầm xử lý nước thải chăn nuôi
+ Phân tách thành pha rắn, pha lỏng: chất thải chăn nuôi có thể thu gom. Đóng thùng và
bán cho các khu vực trồng trọt vừa giảm được lượng phân thải, vừa tăng thêm thu
nhập cho người dân, mà giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
+ Nuôi giun quế để tận dụng lượng phân thải chăn nuôi: thức ăn của giun quế là các chất
thải của gia suc như; trâu, bò, ngựa, voi Giun quế có khả năng sinh trưởng nhanh do
đó có thể nhanh chóng thu được sản phẩm.

ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái, chuỗi thức ăn, sức khỏe con người,… đe dọa đến
sự phát triển bền vững của đất nước. Nguyên nhân là do những hạn chế trong hoạt
động chăn nuôi ở nước ta như: các loại chất thải phát sinh lớn, không được xử lý triệt
để gây ô nhiễm môi trường, thiếu các quy hoạch chăn nuôi cụ thể, ý thức chấp hành
luật không cao, thiếu các văn bản quy phạm pháp luật quản lý môi trường chăn nuôi
và bộ máy quản lý còn nhiều bất cập.
Từ những hạn chế đó, các nhà quản lý môi trường đã đưa ra những nôi dung về
quản lý môi trường trong chăn nuôi phù hợp với hiện trạng chăn nuôi hiện nay như:
thông qua các dự án đầu tư của nhà nước và quốc tế, nhiều biện pháp về xử lý chất
thải chăn nuôi đã và đang được áp dụng có hiệu quả, trong đó phải kể đến chương
trình khí sinh học đã và đang mang lại nhiều lợi ích quan trọng về môi trường, kinh tế
xã hội; về luật và chính sách: hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường trong chăn nuôi, xây dựng và ban hành các quy chuẩn,… Và nội dung
chính là về khoa học kỹ thuật: nghiên cứu, ứng dụng các biện pháp xử lý chất thải
chăn nuôi như sử dụng hầm biogas, phân tách nguồn thải thành pha rắn và pha lỏng,
nuôi giun quế để tận dụng lượng phân thải chăn nuôi, sử dụng các vi sinh vật để phan
hủy các chat thải chăn nuôi, phương pháp tạo phân hữu cơ,…
Ngoài ra, công tác tuyên truyền và giáo dục cho người dân nhằm nâng cao nhận
thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường trong hoạt động của ngành chăn nuôi là công
việc không thể thiếu và đem lại hiệu quả cao… Phối hợp phù hợp các công cụ quản lý
môi trường trên sẽ giúp cho ngành chăn nuôi phát triển bền vững hơn.
IV. Tài liệu tham khảo
- Bài giảng “ Quản lý môi trường”- Nguyễn Thị Hồng Ngọc- Trường ĐH
Nông nghiệp Hà Nội.
- Chăn nuôi Việt Nam 2000- 2010, NXB KHTN và CN
- Tổng cục thống kê Việt Nam
- Cục chăn nuôi Việt Nam />- />%2fenvironment.mard.gov.vn%2fupload%2f20%2fbaocao%2f27-09-
2011_cnty.doc&ru=http%3a%2f%2fenvironment.mard.gov.vn%2fupload
%2f20%2fbaocao%2f27-09-
2011_cnty.doc&ld=20130321&ap=1&app=1&c=snapdov12a&s=snapdov12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status