Xây dựng quy trình phòng bệnh Newcastle và Gumboro
bằng vacin cho gà Sao
Nguyễn Thị Nga*, Phùng Đức Tiến, Cao Đình Tuấn, Nguyễn Hồng Dung,
Dương Thị Oanh, Phạm Minh Hường và Nguyễn Thị Nhung
1
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi
*Tác giả để liên hệ: TS. Nguyễn Thị Nga, Trưởng Phòng Thú y, Trung tâm NC gia cầm Thụy
Phương
-Viện Chăn nuôi. Tel. 7570812/0904330351; Email:
ABSTRACT
Formulating the preventing Newcastle and Gumboro diseases procedure for Guinea fowl by
vacinating
Based upon the fluctuations of active and passive antibody amount, the schedule of vacine usage was
planed for Guinea fowls. For layers, ND-IB vacine drops were administered at 10 and 25 days old and ID-
Emultion injection was done at 45 and 170 days old. For broilers, ND-IB vacine drops were administered at
10 and 25 days old and ID- Emultion injection was done at 45 days old.
Guinea fowls did not have immunological responses against Gumboro despite the normal development
of the Fabricius bag. While intensifying toxicification, they express no symtoms, panthogenic history and
negative responses against standard antigens as well as antibody. With farming practices, it is not necessary
to use vacine for prevention of Gumboro.
These results have been applied at the Thuy phuong Poultry Reseach Center and some other provinces
still ensuring the high survival of 90-98.73%.
Keywords: Guinae fowl; vacine; Fabricius bag; Gumboro
Đặt vấn đề
Gà Sao (Guinea fowl) được nhập về Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương từ
tháng 4/2002, đó loại gà được thuần hoá từ hoang dã có chất lượng thịt thơm ngon. Theo
tài liệu của một số nước như Nemoci drubeze - Cộng hoà Sec, năm 1997, Diseases of
birds - Nhật (2000). Manual of Standards Diagnostic Test and Vaccines (2000). A
gyongytyuk - Hungrari (2004) thì Guinea fowl hoàn toàn kháng được bệnh Gumboro,
Marek, Leuco. nhưng đối với bệnh Newcastle thì rất mẫn cảm. Bệnh Newcastle và Bệnh
Gumboro đều do virus gây nên. Bệnh có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới, gây thiệt hại
- Sử dụng phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch (AGP) để xác định sự có mặt của
kháng thể chống lại bệnh Gumboro
- Số lượng gà Sao thí nghiệm: mỗi thí nghiệm gồm 200 con thí nghiệm + 20 con nuôi
đối chứng
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1
Theo dõi biến động hàm lượng kháng thể thụ động và chủ động chống bệnh
Newcastle
Gà con từ đàn bố mẹ được tiêm vacin Newcastle, lấy máu ở các thời điểm: 1, 3, 5, 7,
9 ngày tuổi, số lượng mẫu: 10 mẫu/lần. Khi nào hàm lượng kháng thể giảm xuống dưới 3
log 2 thì sử dụng vacin
- Theo dõi biến động hàm lượng kháng thể Newcastle sau khi sử dụng vacin
- Lấy mẫu ở các thời điểm: 7, 14, 21, ngày sau khi sử dụng ND-IB và sau khi sử dụng
vacin nhũ dầu 14, 21, 35 và cứ sau 1 tháng lấy mẫu kiểm tra 1 lần, số lượng mẫu: 10%
tổng đàn
- Khi hàm lượng kháng thể giảm dưới 3 log 2 thì sẽ sử dụng vacin nhắc lại hoặc tiêm
ND-Imultion, theo hướng dẫn của Mary Young, Robyn Alders, Sally Grimes, Peter
Spradbrow, Paula Dias, Amílcar da Sliva and Quintino Lobo; Controlling newcastle
disease in Village Chickens, 2002
Thí nghiệm 2
Theo dõi biến động hàm lượng kháng thể thụ động và chủ động chống bệnh Gumboro
- Theo dõi biến động hàm lượng kháng thể thụ động.
Lấy máu lúc gà được 1, 3, 5 ngày tuổi, chắt huyết thanh để làm phản ứng kết tủa
khuyếch tán trên thạch (AGP)
- Theo dõi biến động hàm lượng sau khi sử dụng vacin Gumboro
Sau khi sử dụng vacin được 7, 14, 21 ngày lấy máu kiểm tra AGP
Công cường độc
Công cường độc sau khi tiêm ND-Imulsion lần 1 được 30 ngày tuổi: số lượng công
cường độc là 10 con sử dụng vacin và 10 con không sử dụng vacin Newcastle. Giống để
sử dụng công cường độc: Newcastle VN91. Kiểm tra hàm lượng kháng thể Newcastle
6,300 ± 0,316
10 100
7 10 3 4 2 1
5,100 ± 0,331
10 100
8 10 1 4 4 1
3,500 ± 0,283
9 90
9 10 3 5 2
2,900 ± 0,246
7 70 DiÔn biÕn hµm l−îng kh¸ng thÓ thô ®éng Newcastle
0
1
2
3
4
5
6
7
8
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Ngµy tuæi
HiÖu gi¸
HI Tb
Biểu đồ 1. Biến động hàm lượng kháng thể thụ động Newcastle ở gà Sao con
Hàm lượng kháng thể thụ động Newcastle ở gà Sao khá cao ở 1 ngày tuổi đạt 7,6 log
dùng vacin
Số mẫu
kiểm tra
2 3 4 5 6
HI trung bình
(Mean ± SE)
Số mẫu
%
7 20 4 10 6
3,100±0,246
16 80 ND-IB
lần 1
14 20 8 8 4
3,800±0,263
20 100
7 20 2 10 8
3,300±0,225
18 90
14 20 4 14 2
3,900±0,189
20 100
ND-IB
lần 2
21 20 6 10 2 2
4,000±0,314
20 100
Lúc 10 ngày tuổi chúng tôi sử dụng ND-IB lần 1 cho đàn gà, sau khi nhỏ vacin 7 và
14 ngày kiểm tra hàm lượng kháng thể. 7 ngày sau khi sử dụng vacin hàm lượng kháng
ND-Imulsion lần 1 (45 ngày tuổi)
14 20 4 8 6 2
4,300±0,316
20 100
21 20 2 6 8 4
6,700±0,316
20 100
30 20 4 10 6
7,100±0,246
20 100
60 20 6 8 6
7,000±0,272
20 100
90 20 2 4 10 4
6,800±0,306
20 100
120 20 8 8 2 2
3,900±0,215
20 100
ND-Imulsion lần 2 (170 ngày tuổi)
30 20 2 10 8
7,300±0,225
20 100
60 20 1 3 7 9
7,200±0,312
20 100
90 20 2 5 7 6
6,800±0,246
20 100
120 20 3 5 5 2 5
Sau khi sử dụng vacin nhũ dầu 30 ngày tiến hành công cường độc tại Trung tâm chẩn
đoán thú y quốc gia với 10 con sử dụng vacin và 10 con đối chứng không sử dụng vacin
(kiểm tra HI âm tính với bệnh Newcastle). Sử dụng giống công cường độc Newcastle
VN91 với liều 10
4
LD50, 0,5ml/con. Sau 5 ngày công cường độc đàn gà đối chứng bị chết
100% với các triệu chứng và bệnh tích như sau:
Bảng 4. Triệu chứng của gà Sao sau khi công cường độc
Ngày sau khi
công cư
ờng độc
Triệu chứng Số gà chết
1 Chưa biểu hiện 0
2 Bắt đầu xuất hiện 1 số con ủ rũ, bỏ ăn, sã cánh 0
3 Bỏ ăn, ủ rũ, rải rác ỉa phân xanh, trắng, một số con có hiện
tượng thần kinh như đầu lắc lư, hoặc chúi đầu xuống đất
2
4 Gà ủ rũ toàn đàn, ỉa chảy nặng, toàn đàn nằm bẹp xuống
sàn
4
5 Gà chết 4
Như vậy gà thí nghiệm chỉ có biểu hiện lâm sàng về tiêu hoá và thần kinh còn các
triệu chứng về hô hấp thì không thấy
Bảng 5. Bệnh tích của gà Sao sau khi công cường độc
Cơ quan mổ khám
Lô đối chứng Lô thí nghiệm
Xoang mũi Khô, không có dịch nhầy Khô, không có dịch nhầy
5 10 Âm tính
14 20 Âm tính
21 20 Âm tính
35 20 Âm tính
Khi gà được 42 ngày tuổi, đó là lứa tuổi gà bình thường rất mẫn cảm với bệnh
Gumboro chúng tôi tiến hành công cường độc. Sau 10 ngày theo dõi chúng tôi thu được
kết quả như sau:
Bảng 7. Kết quả công cường độc
Chỉ tiêu theo dõi Gà sử dụng vacin Gà không sử dụng vacin
Trạng thái của gà
ăn uống khoẻ mạnh bình thường
ăn uống khoẻ mạnh bình thường
Kháng thể Âm tính Âm tính
Kháng nguyên Âm tính Âm tính
Mổ khám Không có bệnh tích ở cơ. Túi
Fabricius bình thường, các cơ
quan khác bình thường
Cơ đùi và cơ ngực có điểm xung
huyết nhẹ. Túi Fabricius hơi sưng,
các cơ quan khác bình thường
Lịch sử dụng vacin phòng bệnh Newcastle cho gà Sao
Dựa vào biến động hàm lượng kháng thể thụ động cũng như kháng thể chủ động sau
khi sử dụng vacin và qua áp dụng trong thực tế sản xuất chúng tôi đưa ra lịch sử dụng
vacin phòng bệnh Newcastle cho gà Sao. Kết quả trình bày qua Bảng 8.
Bảng 8. Lịch sử dụng vacin phòng bệnh Newcastle cho gà Sao
Loại vacin Ngày tuổi sử dụng Cách sử dụng
ND-IB lần 1 10 Nhỏ mắt mũi
ND-IB lần 2 25 Nhỏ mắt mũi
97,42
1445 mái
362 Trống
97,52 1445 mái
362 Trống
97,86
Kết luận
Hàm lượng kháng thể thụ động Newcastle ở gà Sao con khá cao ở 1 ngày tuổi đạt 7,6
log 2, ở 5 ngày tuổi đạt 6,3 log 2 và giảm dần xuống 2,9 log 2 vào lúc 9 ngày tuổi.
Sau khi công cường độc Newcastle, đàn gà sử dụng vacin được bảo hộ 100% còn đàn
gà không sử dụng vacin chết 100%. Như vậy gà Sao có thể đề kháng tốt với virus
Newcastle cường độc sau khi sử dụng vacin
Lịch sử dụng vacin cho gà Sao:
Đối với gà sinh sản: ND-IB nhỏ vào lúc 10 và 25 ngày tuổi
ND-Imulsion tiêm vào lúc 45 và 170 ngày tuổi
Đối với gà nuôi thịt: ND-IB nhỏ vào lúc 10 và 25 ngày tuổi
ND-Imulsion vào lúc 45 ngày tuổi
Gà Sao không có đáp ứng miễn dịch với bệnh Gumboro, mặc dù túi Fabricius vẫn
phát triển bình thường
Gà Sao hoàn toàn kháng được bệnh Gumboro do đó không cần phải sử dụng vacin
phòng bệnh Gumboro cho giống gà này
Tài liệu tham khảo
Hà Bằng Mưu (2000). Một số kết quả nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch của gà Kabir khi thử nghiệm phòng
bệnh 3 lần kết hợp các chế phẩm vacin chống bệnh Gumboro và Newcastle của hãng Merial, 2000
Japanese Society on Poultry Diseases. Diseases of birds (2000). Pp: 7-16; 34-36.
Manual of Standards Diagnostic Test and Vaccines (2000). Part 2. Section 2.7. Chapter 2.7.1.
Mary Young, Robyn Alders, Sally Grimes, Peter Spradbrow, Paula Dias, Amílcar da Sliva and Quintino
Lobo (2002). Controling Newcastle Disease in Village Chickens- A laboratory Manual.
Szalay István; Barna Judit; Korosiné Molnar Andrea; Agyongtyuk (2004). Pp: 103.