nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật thu hoạch bông bằng máy thu hoạch cầm tay - Pdf 25


BỘ CÔNG THƯƠNG
TẬP ĐOÀN DỆT - MAY VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU BÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NHA HỐ
*****

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT THU
HOẠCH BÔNG BẰNG MÁY CẦM TAY
(Báo cáo nghiệm thu tại Hội đồng Khoa học Bộ Công Thương)

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Bông và PTNN Nha Hố
Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Thị Nhã
9697

-nt-
3 Bùi Xuân Diệu
Kỹ sư, trồng trọt
-nt-
4 Lê Thị Như Hải
Kỹ sư, trồng trọt
-nt-
5 Bùi Văn Huấn
Kỹ sư trồng trọt
-nt-
10. Mục tiêu của đề tài
10.1. Mục tiêu tổng quát
• Xác định được một số biện pháp kỹ thuật thích hợp để thu hoạch bằng
máy thu hoạch cầm tay, giảm chi phí công thu hoạch, nâng cao hiệu quả
kinh tế.
10.2. Mục tiêu cụ thể
• Xác định được loại máy thu hoạch cầm tay phù hợp
• Xác định được thời gian và số lần thu hoạch/vụ trong điều kiện chín tự
nhiên.

Xác định được thời gian và số lần thu hoạch/vụ trong điều kiện chín phun
ethrel.
11. Nội dung nghiên cứu của đề tài
1. Nghiên cứu xác định một số thông số kỹ thuật (tiêu hao năng lượng, năng
suất thu hoạch, chất lượng bông thu hoạch) để chọn loại máy thu hoạch
cầm tay thích hợp
2. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thu hoạch bông bằng máy cầm tay trong
điều kiện bông chín tự nhiên
3. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thu hoạch bông bằng máy cầm tay trong
điề

3.4. Xử lý số liệu ……………………………………………………………………. 16
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ……………………………… 17
4.1. Nghiên cứu xác định một số thông số kỹ thuật để chọn loại máy thu hoạch cầm
tay thích hợp ………………………………………………………………………
17
4.2. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thu hoạch bông bằng máy cầm tay trong điều
kiện bông chín tự nhiên ……………………………………………

23
4.2. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thu hoạch bông bằng máy cầm tay trong điều
kiện phun ethrel ……………………………………………………………………
27
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
…………………………………………………… 35
5.1. Kết luận ……………………………………………………………………… 35
5.2. Đề nghị …………………………………………………………………………. 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………… 36
PHỤ LỤC ………………………………………………………… 371
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu hoạch bông theo phương pháp thủ công không chỉ tốn lao động, mệt
mỏi, nhàm chán mà còn tốn nhiều chi phí. Trong những năm gần đây, sự khan
hiếm lao động sản xuất bông xảy ra thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng
khi thu hoạch cùng thời điểm với các loại cây trồng khác. Do nguồn lao động
ngày càng khan hiếm nên việc cơ giới hóa khâu thu hoạch bông là quan trọng ở
nhiều nước trên thế giới và Việ
t Nam cũng không phải ngoại lệ.

Xuất phát từ thực tiễn trên, năm 2012 chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên
cứu xây dựng quy trình kỹ thuật thu hoạch bông bằng máy cầm tay”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định được một số biện pháp kỹ thuật thích hợ
p để thu hoạch bằng
máy thu hoạch cầm tay, giảm chi phí công thu hoạch, nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được loại máy thu hoạch cầm tay phù hợp
- Xác định được thời gian và số lần thu hoạch/vụ trong điều kiện chín tự
nhiên.
- Xác định được thời gian và số lần thu hoạch/vụ trong điều kiện chín
phun ethrel.
3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
2.1.1. Cơ giới hóa và chi phí thu hoạch bông
Thu hoạch thủ công không chỉ tốn lao động, mệt mỏi, nhàm chán mà còn
tốn nhều chi phí (1/3-1/5 tổng chi phí sản xuất). Trong những năm gần đây, sự
khan hiếm lao động sản xuất bông xảy ra thường xuyên và ngày càng nghiêm
trọng khi thu hoạch cùng thời điểm với các loại cây trồng khác. Do nguồn lao

ục.
2.1.2. Tình hình thu hoạch bông ở một số nước
Trước năm 1997, khoảng 30% diện tích bông thế giới được thu hoạch
bằng máy. Bông ở các Australia, Israel và Mỹ được thu hoạch bằng máy hoàn
toàn (bảng 2.1). Thu hoạch bằng máy đã gia tăng ở Argentina và Brazil, được
chấp nhận ở Thổ Nhĩ Kỳ trong vài năm sau. Chi phí thu hoạch cũng khác nhau
ở các nước do năng suất và phương tiện thu hoạch khác nhau (Rafiq
Chaudhry, 1997).
Bảng 2.1. Tỷ lệ thu hoạch bông bằng máy và bằng tay ở 10 nước trồng bông
chính trên thế giới (Rafiq Chaudhry, 1997)
Tỷ lệ (%)
TT Tên nước
Thu hoạch tay Thu hoạch máy
1 Argentina 25 75
2 Australia - 100
3 Brazil 90-95 5-10
4 Trung Quốc 100 -
5 Hy Lạp 8 92
6 Ấn Độ 100 -
7 Pakistan 100 -
8 Thổ Nhĩ Kỳ 100 -
9 Mỹ - 100
10 Uzbekistan 60-70 30-40

5
Ở Mỹ, từ vài kiện được thu hoạch bằng máy vào năm 1942, tỷ lệ cơ giới
hóa thu hoạch bông tăng từ 25% vào năm 1953 lên 75% vào năm 1963, đến cuối
những năm 60 có đến 96% diện tích bông được thu hoạch bằng máy. Hiện nay, cơ
giới hóa giảm công lao động cho thu hoạch bông từ 95-98% tùy thuộc điều kiện
thời tiết và quy mô cánh đồng. Theo Warren Whatley, năm 1964 chi phí tổng số

Ngược lại với Úc, Mỹ, ¾ diện tích đất sử dụng để trồng bông ở Trung
Quốc phụ thuộc vào phương pháp đòi hỏi tiêu tốn nhiều lao động. Các ruộng
bông thường có diện tích manh mún, nhỏ lẻ. Ngoại trừ vùng Tân Cương thiếu
lao động nông nhàn trong sản xuất bông (Lei và cs, 2004), ở
các vùng khác có
rất nhiều công lao động thời vụ ở giai đoạn thu hoạch và làm cỏ bông. Lei (2004)
đánh giá, Trung Quốc có số lượng khổng lồ các gia đình trồng bông, khoảng 45
triệu hộ bận rộn với sản xuất bông, trung bình 0,13 ha/ hộ. Với hầu hết các hộ
trồng bông, đặc biệt là các hộ ở những vùng mà cây bông không phải là cây
trồng chính, các ruộng bông nằm rải rác thì bông được thu hoạch bằng tay hoàn
toàn. Lý do thực tế là sử
dụng máy loại lớn trên các ruộng bông nhỏ rải rác, thậm
chí cả ruộng có diện tích trung bình cũng không đem lại hiệu quả kinh tế.
Theo Nhật báo Trung Quốc ngày 10/11/2011, năm 2011 chi phí thu hoạch
bông tăng 40% (từ 1,4 tệ/kg năm 2010 lên 2 tệ/kg năm 2011), trong khi đó giá
bông lại giảm 22% (từ 10,8 tệ xuống 8,4 tệ/kg) gây không ít khó khăn cho người
trồng bông. Mặt khác, tình trạng thiếu lao động trong thời kỳ thu hoạch diễn ra
ngày càng nghiêm trọng ở Trung Quốc. Tân C
ương, vùng sản xuất bông chính
của Trung Quốc cần thuê 400.000 lao động thu bông, tuy nhiên số lao động thời
vụ từ khu vực lân cận đến đây ngày một giảm, trung bình 10%/năm. Hằng năm,
Thanh Hải cần bổ sung 70.000 lao động thời vụ, nhưng năm 2011 chỉ có 35.000
lao động. Trung bình một lao động thu hoạch liên tục từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối
(14,5 giờ, nghỉ 30 phút buổi trưa) thu được khoảng 80-100kg bông (tương đương
45-55kg/công 8 giờ), với năng suất trung bình của vùng 5.100kg/ha thì mỗi ha
cần đến 90-100 công lao động 8 giờ hoặc 1 người thu liên tục trong 2 tháng cũng
không xong. Cũng trong năm 2011, gần một nửa diện tích bông của khu vực này
được thu hoạch bằng máy, thay thế khoảng 35.000 lao động và làm giảm đáng kể

7

8
Côte d’Ivoire, Iran, Madagascar, Mali, Myanmar, Philippines, Senegal, Sudan,
Syria, Thái Lan, Togo, Uganda và Việt Nam, một số ít nước thu hoạch một phần
bằng máy (bảng 2.2).
Chi phí thu hoạch được tính toán bằng nhiều cách khác nhau ở các nước
khác nhau, nó được tính trên số giờ máy, khối lượng bông hạt thu được, số ngày
công và chi phí trên đơn vị diện tích. Trong khi số giờ máy chỉ áp dụng cho những
nơi cơ giới hóa thì khối lượng bông hạt và số ngày công được dùng phổ biến để
tính chi phí thu hoạch bông.
Với tình trạ
ng tương tự hiện nay của Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước
khác, điều được mong chờ là việc sử dụng máy thu hoạch sẽ làm giảm thiểu
công thu hoạch bằng tay cũng như gia tăng giá trị sản xuất. Do điều kiện thời tiết
khí hậu của nước ta làm cho cây bông sinh trưởng quanh năm, nở quả không tập
trung, địa hình không bằng phẳng, diện tích manh mún, điều ki
ện kinh tế của
người trồng bông khó khăn… Vì vậy, máy thu hoạch loại lớn được sử dụng ở
Mỹ, Úc không phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. Chỉ những loại máy thu hoạch
cầm tay đã sử dụng ở Trung Quốc, Ấn Độ là phù hợp với điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội của những khu vực trồng bông ở nước ta. Tuy nhiên, phạ
m vi
nghiên cứu và phát triển kỹ thuật thu hoạch bông bằng máy nói chung và máy
cầm tay nói riêng ở nước ta còn chưa được chú ý.
2.1.3. Nghiên cứu về hóa chất hỗ trợ thu hoạch trên bông
Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp, việc làm quả chín nhanh và chín
đồng loạt để thu hoạch cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng. Các sản phẩm hỗ trợ thu
hoạch mang một số chức năng, quan trọng nhất là ức chế tái sinh, thúc đẩy nở
quả,
làm rụng lá và làm khô hạt trong những tình trạng nhất định (Larson và
Gwathmey, 2002; Patterson và Smith, 2001). Nhiều loại hóa chất hỗ trợ thu hoạch

ẩm có thể gây ra sinh trưởng quá mức làm
kéo dài thời gian ra hoa đậu quả, để cây ra hoa, đậu quả tập trung có thể dùng
mepiquat chloride (MC), giống chín sớm hay giảm độ ẩm. Những yếu tố này
cũng được xem xét khi phun chất làm rụng lá, người trồng bông cần hiểu biết về

10
thời kỳ phun để điều chỉnh cho phù hợp với các đặc điểm sinh trưởng. Siebert và
Stewart (2006) thấy rằng không có ảnh hưởng bất lợi đến năng suất khi phun
chất làm rụng lá cho giống chín sớm ở giai đoạn 17-40% quả nở và năng suất
cao nhất đạt được trên giống chín muộn khi phun ở giai đoạn 42-64% quả nở.
Collins (2007) cho rằng năng suất tối ưu có th
ể đạt được trên nhiều giống khi
phun ở giai đoạn 50% quả nở, tuy nhiên chỉ đạt được năng suất này khi thu
hoạch vào giai đoạn 2 - 4 tuần sau phun. Thu hoạch chậm có thể làm giảm chất
lượng và hiệu quả thu hoạch vì phơi nhiễm với các điều kiện thời tiết bất lợi,
dịch hại (Larson, 2002). Mưa làm tăng khả năng tái sinh nếu mùa thu hoạch gặp
mưa liên t
ục (Martin-Duval, 1997). Vì vậy, kỹ thuật thúc đẩy chín sớm, tập trung
cho phép người sản xuất thu hoạch kịp thời, tránh được các rủi ro do môi trường.
Trên thế giới, Ethrel được nhiều nước như Úc, New Zealand, Hoa Kỳ, Hà
Lan… sử dụng trong và sau thu hoạch làm trái cây chín đồng đều, rút ngắn thời
gian chín và giảm tổn thất sau thu hoạch, tạo sản phẩm trái vụ Khi gặp nước,
ethrel chuyển thành etylen - một hormon có vai trò chính trong quá trình chín
của quả nên khi phun vào cây, quả, ethrel xâm nhập vào tế bào bị
nước có trong
tế bào phân hủy thành etylen. Ethephon {2-chloroethyl phosphonic acid}
(Prep®, Bayer Crop Science, Research Triangle Park N.C.) dạng thương phẩm
của ethrel làm gia tăng nở quả bông (Gwathmey và Hayes, 1996; Jones, 2001;
Logan và Gwathmey, 2002) và gia tăng khối lượng bông hạt trong lần thu hoạch
đầu tiên (Gwathmey và Hayes, 1996).

2003 (Trần Thanh Hùng, 2011). Tuy nhiên, từ trước đến nay, sản xuất bông ở
Việt Nam chủ yếu thu hoạch bằng tay, năng suất lao động th
ấp và tiêu tốn nhiều
công lao động thời vụ. Vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả khâu thu
hoạch bông là nhiệm vụ hết sức cần thiết.
Sử dụng chất hỗ trợ thu hoạch: hiện tại, ở nước ta chưa có một nghiên cứu
nào về cơ giới hóa khâu thu hoạch bông, nhưng đã có nhiều nghiên cứu về hoạt
chất hỗ trợ thu hoạch như sử dụ
ng chất điều hòa sinh trưởng PIX để điều khiển
quá trình sinh trưởng của cây, sử dụng ethel thúc đẩy nở quả làm cho bông chín
tập trung cũng là biện pháp hết sức quan trọng, có tác dụng giảm công thu hái,

12
công lao động là động lực khuyến khích người nông dân tích cực trồng bông. Sử
dụng ethrel phun cho bông vào giai đoạn nở quả đã có tác dụng thúc đẩy cây
bông nở quả tập trung và rút ngắn thời gian từ gieo đến tận thu từ 9 đến 12 ngày.
Phun ethrel cho bông với lượng 0,06% vào giai đoạn 50% số quả/cây nở không
làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng xơ bông (Đinh Quang Tuyến,
Dương Xuân Diêu, 2007). Trồng bông ở mậ
t độ 6 vạn cây/ha, bấm ngọn khi cây
bông đạt 12 cành quả và phun chất gây rụng lá ethrel với lượng 0,06% đã nâng
cao hiệu quả kinh tế và rút ngắn thời gian sinh trưởng từ gieo đến tận thu so với
đối chứng. Dương Xuân Diêu và cs (2008) đã phun ethrel 0,08% vào giai đoạn
50% số cây có quả đầu tiên nở làm rút ngắn thời gian của cây bông khoảng 10
ngày và không ảnh hưởng đến chất lượng xơ bông. Kết quả nghiên cứu của Dương
Xuân Diêu (2010) cũng cho th
ấy, mô hình sản xuất bông trang trại trong vụ hè thu
có tưới tại Ninh Thuận, kết hợp với các giải pháp điều khiển sinh trưởng và phun
ethrel có thể rút ngắn thời gian của một vụ bông còn khoảng 120 - 130 ngày
tương đương 1 vụ cây trồng ngắn ngày khác trong cùng điều kiện, từ đó có thể

- Trọng lượng: 800 g
- Công suất điện: 11W
- Điện áp 12V
- Tốc độ: 5400r/min
- Năng suất: tối đa 150kg/ngày
2.3.5. PADGILWAR - Ấn Độ
- Kích thước: 260*90*150mm
- Trọng lượng: 800 g
- Công suất điện: 11W
- Điện áp 12V
- Tốc độ: 5400r/min
- Năng suất: tố
i đa 150kg/ngày 14
3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Vụ khô và mưa năm 2012
- Địa điểm nghiên cứu: Nha Hố, Nhơn Sơn, Ninh Sơn, Ninh Thuận
3.2. Vật liệu nghiên cứu
- Máy thu hoạch: Renqiu 2010-Trung Quốc, Renqiu 2011-Trung Quốc,
Qingdao 2010-Trung Quốc, PV Dệt may-Việt Nam.
- Giống bông: VN01-2, VN04-4, TM1KS.
- Ethrel: Ethrel 480LS dạng thương phẩm, sản xuất tại công ty Bayer Việt
Nam.
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Nội dung nghiên cứu
1. Nghiên cứu xác định thông s

liều lượng 2l/ha.
3.3.2.2. Phương pháp vận hành và bảo dưỡng máy thu hoạch cầm tay (phụ lục 5)
3.3.2.3.Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Thời gian sinh trưởng từ gieo đến 50% số cây có quả đầu tiên nở và t

gieo đến 95% số quả/cây nở (NSG): theo dõi cố định trên 20 cây/công thức/điểm
theo dõi;
- Thời điểm thu hoạch (NSG): 7-10 ngày sau khi cây đạt 50% quả nở;
- Thời điểm thu hoạch lần cuối (NSG): ngay sau khi cây đạt thời gian tận
thu;
- Số kg bông thu hoạch/ngày công (kg/8 giờ): khối lượng bông thu hoạch
được/ngày công.
- Điện năng tiêu thụ/máy/ngày công (Kw): dựa vào công suất của máy làm
việc trong 8 giờ đồng hồ.
- Hiệu su
ất làm việc của máy (%): Tỷ lệ giữa sản lượng bông thu
hoạch/ngày công so với lý thuyết.

16
- Sản lượng bông từng lần thu (tạ/ha): tổng lượng bông hạt thu hoạch
được/công thức qua các lần thu hoạch.
- Chất lượng bông thu hoạch: độ bền xơ, độ giãn, độ tạp: sau mỗi lần thu
hoạch lấy ngẫu nhiên 1 mẫu/công thức đem phân tích để xác định các chỉ tiêu.
- Thời gian thu hoạch (ngày công/ha): số thời gian cần thu hoạch/công
thức.
- Hiệu quả kinh tế
3.4. Xử lý số liệu
Phân tích, xử lý số liệu nghiên cứu theo phương pháp thống kê sinh học
được mô tả bởi A.A. Gomez và K.A. Gomez (1984), sử dụng các phần mềm
thích hợp trên máy vi tính (MSTATC, EXCEL, )

Chênh
lệch
năng
suất
(%)
Hiệu
suất
làm
việc
(%)
Đ/c (thu tay) - - 32,5 - -
Renqiu 2010-Trung
Quốc
0,09 6 48,9 150,5 24,5
Renqiu 2011-Trung
Quốc
0,09 6 53,5 173,9 26,8
Qingdao 2010-Trung
Quốc
0,09 6 46,9 144,3 23,5
PV dệt may-Việt
Nam
0,09 6 48,7 149,9 -
CV (%) - - 5,76 - -
LSD
0,05
- - 3,42 - -
Kết quả xác định các thông số về năng lượng tiêu hao, khối lượng và chất
lượng bông thu hoạch cho một số loại máy thu hoạch cầm tay được thể hiện ở
bảng 4.1 và 4.2. Các máy thu hoạch sử dụng trong thí nghiệm có cùng công suất

Độ bền xơ
(g/tex)
Độ giãn
xơ (%)
Độ tạp
(%)
Khả năng
đánh tơi
Đ/c (thu tay)
28,9 23.9 6.9 2,3 -
Renqiu 2010-
Trung Quốc
28,8
24,6 6,8 2,4
Tốt
Renqiu 2011-
Trung Quốc
29,3
25.4 6.9 2,2
Tốt
Qingdao 2010-
Trung Quốc
28,5
24,1 6,3 2,5
Tốt

19
PV dệt may-Việt
Nam
29,1

đồng, trong khi đó sử dụng máy thu hoạch loại cầm tay đã làm giảm số công
xuống còn 48,6-55,4 ngày công/ha, qua đó chi phí thu hoạch cũng giảm 21,5-
30,0% (bảng 4.3). Tính hiệu quả trên 1 tấn bông thu hoạch thì sử dụng máy làm
giảm 475.000-658.000 đồng. Trong các máy sử dụng, Renqiu 2011 làm giảm chi
phí thu hoạch tốt nhất (30,0%), giảm tương đương 1.680.000 đồng/ha, các loại
máy còn lại cũng làm giảm trên 20% chi phí thu hoạch. Riêng máy do PV dệt
may sản xuất chưa có giá bán nên ch
ưa tính được hiệu quả.

20
Bảng 4.3. Hiệu quả của việc thu hoạch bông bằng máy cầm tay tại Nha Hố, vụ
khô 2012
Công thức
thu
Công
thu/ha
Chi phí
công thu
(1000
đ/ha)
Chi phí hao
mòn và tiêu hao
điện năng (1000
đ/ha)
Chi phí
giảm so
với đc
(%)
Chi phí tính
trên 1 tấn

nghiệm, máy thu hoạch do Phân viện dệt may chế tạo có trọng lượng lớn hơn cả
(800g), các loại máy còn lại do các công ty của Trung Quốc chế tạo có trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status