BỘ CÔNG THƯƠNG
CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN
Đề tài nghiên cứu KHCN cấp Bộ Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY CHUẨN KỸ THUẬT
QUỐC GIA VỀ KHUNG KINH DOANH ĐIỆN TỬ
ÁP DỤNG CHO MỘT SỐ LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: NGUYỄN HỮU TUẤN
7653
01/02/2010
mới mẻ, hiện nay mới có một số ít các doanh nghiệp lớn thuộc các ngành như ngân
hàng, tàii chính, vận tải biển tiến hành áp d
ụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử EDI.
Song, việc nghiên cứu và ứng dụng khung kinh doanh điện tử ebXML mới chỉ được
một số bộ, ngành và doanh nghiệp nghiên cứu. Do vậy, việc nghiên cứu và đưa vào áp
dụng thực tiễn chuẩn quốc tế thông dụng về ebXML là một xu hướng tất yếu mang lại
hiệu quả thiết thực cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam.
Đề
tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về khung kinh doanh điện tử áp dụng cho một số loại hình doanh nghiệp” cấp Bộ này
đã được Cục TMĐT và CNTT triển khai thực hiện, nhằm nghiên cứu và đề xuất các
giải pháp hữu hiệu nhằm chuẩn hóa các quy trình kinh doanh, tài liệu kinh doanh giữa
các doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện đề tài, tập thể tác giả cũng tham khảo
nhiều kinh nghiệ
m quý báu từ việc triển khai ebXML của các nước trên thế giới như
Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v…và các tài liệu của UN/CEFACT.
2
Tập thể tác giả chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ các Vụ
Khoa học và Công nghệ, Cục TMĐT và CNTT, Vụ pháp chế - Bộ Công Thương, các
chuyên gia trong ban soạn thảo đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn
thành nhiệm vụ NCKH này.
Hà Nội, tháng 12/2009
Thay mặt tập thể tác giả
Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Hữu Tuấn
5. Dịch vụ đăng ký ebXML (ebRS) 35
6. Hồ sơ thỏa thuận và giao thức hợp tác ebXML 35
III. Phân tích yêu cầu xây dựng dự thảo bộ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 36
1. Về quản lý 36
2. Về kỹ thuật 36
3. Về mặt triển khai 36
4. Một số kế
t quả cần đạt được 36
CHƯƠNG III - XÂY DỰNG QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA 37
I. Giải pháp thực hiện 37
1. Giải pháp tổ chức 37
4
2. Giải pháp thực hiện kỹ thuật 37
II. Nội dung dự thảo QCKTQG 43
CHƯƠNG IV - MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 44
I. Một số khuyến nghị 44
1. Nghiên cứu xây dựng thử nghiệm hạ tầng tiêu chuẩn cho KDĐT 44
2. Nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các công nghệ mới để chuẩn hóa các tài
liệu kinh doanh 44
3. Tă
ng cường công tác tuyên truyền, phổ biến 44
4. Tăng cường tham gia vào hoạt động của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế 45
II. Kết luận 45
PHỤ LỤC 1: DỰ THẢO QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ KHUNG
KINH DOANH ĐIỆN TỬ ÁP DỤNG CHO MỘT SỐ LOẠI HÌNH DOANH
NGHIỆP………………………………………………………………………………46
5
CÁC HÌNH VẼ
HTTT Hệ thống thông tin
KDĐT Kinh doanh điện tử
SXKD Sản xuất kinh doanh
TMĐT Thương mại điện tử Từ viết tắt
(Phần tiếng Anh)
Tiếng Anh
Chú giải
B2B Business to Business Doanh nghiệp với doanh nghiệp
CRM Customer Relationship
Management
Quản trị quan hệ khách hàng
ERP Enterprise Resources
Planning
Hoạch định tài nguyên doanh
nghiệp
e-Business Electronic Business Kinh doanh điện tử
e-Commerce Electronic Commerce Thương mại điện tử
SCM Supply Chain
Management
Quản trị chuỗi cung ứng
UN/EDIFACT United Nations for
Electronic Data
Interchange for
Administration,
Commerce and Transport
Tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu điện
tử dùng trong lĩnh vực Hành
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN
I. Sự cần thiết của việc thực hiện đề tài
Trong những năm gần đây, xu hướng ứng dụng tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu điện
tử trong các hoạt động thương mại theo mô hình doanh nghiệp với doanh nghiệp
(B2B) diễn ra mạnh mẽ, việc nghiên cứu và phát triển các tiêu chuẩn ngày càng được
các tổ chức và doanh nghiệp quốc tế quan tâm với mục đích nâng cao hi
ệu quả mà
thương mại điện tử (TMĐT) đem lại và hạn chế tối đa rủi ro trong các giao dịch trực
tuyến, thúc đẩy hiệu quả quá trình hoạt động từ việc tự do sáng tạo và các thủ tục xuất
nhập cảng cho tới việc đặt hàng và mua hàng thông qua Internet.
Tại Việt Nam hiện nay, các tiêu chuẩn, quy chuẩn nói chung và về TMĐT nói
riêng cũng đang được các cơ quan, tổ chức quan tâm nghiên c
ứu, ứng dụng trong thực
tế. Trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, Việt Nam cần phát triển và hoàn thiện
những hệ thống thông tin, được sử dụng những tiêu chuẩn công nghệ hài hòa với các
nước để thuận lợi hóa các tiến trình trao đổi thông tin trong nước và xuyên quốc gia.
Để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến CNTT và TMĐT, Quốc hội
Việt Nam đã thông qua Luật Giao dịch đ
iện tử (tháng 11 năm 2005), Luật Công nghệ
thông tin (tháng 6 năm 2006). Các văn bản dưới luật cũng đã và đang được các Bộ,
ngành quan tâm xây dựng, hoàn thiện và triển khai.
Internet phát triển cùng các chuẩn mở về CNTT và TMĐT. Trên cơ sở XML
(Extensible Markup Language) - ngôn ngữ đánh dấu mở rộng với cơ chế có khả năng
đảm nhận những đòi hỏi về trao đổi dữ liệu kinh doanh giữa các doanh nghiệp, được
coi là ngôn ng
ữ của cơ sở dữ liệu và là cơ sở để trao đổi thông tin có cấu trúc giữa các
phần mềm ứng dụng. Tiếp đó, ebXML được viết tắt bởi electronic business eXtensible
Markup Language cung cấp một khung kinh doanh điện tử trên toàn cầu, chủ yếu là
phục vụ cho môi trường kinh doanh giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Chuẩn
ebXML đưa ra một kiến trúc nền tảng (khung) của một chuẩn mở đối vớ
dụng cho một số loại hình doanh nghiệp.”
II. Cơ sở pháp lý
Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khung kinh doanh
điện tử áp dụng cho một số loại hình doanh nghiệp.” được thực hiện theo các văn bản
hướng dẫn liên quan tớ
i xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật và các định hướng của Việt
Nam trong việc đẩy mạnh ứng dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong TMĐT:
- Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 được Quốc hội
thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành vào 01/01/2007.
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
- Thông tư số 23/2007/TT-BKHCN ngày 28/9/2007 c
ủa Bộ Khoa học và Công
nghệ hướng dẫn xây dựng, thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật.
- Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010.
III. Tình hình phát triển tiêu chuẩn công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử
1. Tổng quan về tình hình phát triển thương mại điện tử
Hiệ
n nay, trên thế giới và tại Việt Nam, thương mại điện tử (TMĐT) đang bùng
nổ và phát triển mạnh mẽ. TMĐT là công cụ hữu hiệu để giúp các doanh nghiệp tạo ra
những lợi thế cạnh tranh, đồng thời mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm, nâng cao
chất lượng dịch vụ để phục vụ cho cộng đồng và xã hội. Trong đó, TMĐT giữa doanh
nghi
ệp với doanh nghiệp (B2B) đang được ứng dụng phổ biến rộng khắp và đem lại
nguồn thu lớn nhất. Những lợi ích mà TMĐT đem lại cho các doanh nghiệp bao gồm:
- Nâng cao năng lực sản xuất: đây là lợi ích mang lại từ việc cắt giảm chi phí
giao dịch. Ví dụ, một công ty có thể tự động hóa các tiến trình xử lý giấy tờ bằng tay
sang dùng các form mua bán hàng hóa dịch vụ trên máy tính.
giảm vốn đầu tư ban đầ
u, linh hoạt, nhanh nhạy trong việc thực hiện dịch vụ.
2. Mối quan hệ ebXML với các tiêu chuẩn EDI và XML
Hiện nay, để kết nối hệ thống CNTT và thúc đẩy sự hợp tác trao đổi thông tin,
giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc quản lý các quy trình kinh doanh, các doanh
nghiệp thường ứng dụng các loại chuẩn đó là: chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử - EDI,
ngôn ngữ đánh dấu mở rộng – XML, ngôn ngữ đánh dấ
u mở rộng trong kinh doanh
điện tử ebXML. EDI được bắt đầu ứng dụng vào những năm 70 của thập kỷ trước, và
là tiêu chuẩn cho các giao dịch trực tuyến khối lượng lớn giữa các doanh nghiệp lớn và
các đối tác lớn, quan trọng. Đây là giải pháp tiêu chuẩn đầu tiên cho các doanh nghiệp
khi thực hiện trao đổi thông tin với nhau trong môi trường mạng. Giải pháp này có
nhiều ưu điểm nổi trội về chu
ẩn hóa trong quá trình thực hiện các dịch vụ kinh doanh,
đảm bảo an toàn dữ liệu và là một chuẩn mở. Nhưng trao đổi dữ liệu theo chuẩn EDI
này có nhiều hạn chế trong việc phát triển hệ thống đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ,
10
do EDI là một hệ thống khó và phức tạp cần phải có những chuyên gia chuyên biệt
cùng với những chi phí lớn để xây dựng và phát triển hệ thống, chi phí cho trao đổi dữ
liệu cao do phải dùng mạng riêng dạng VAN (Value Added Network).
Trong thời gian gầy đây với sự phát triển của Internet cùng các chuẩn mở, XML
ra đời, được thiết kế làm cho các giao dịch B2B được linh hoạt và mềm dẻo hơn. So
với EDI, XML dễ dàng áp dụng và sử dụng h
ơn. XML là ngôn ngữ đánh dấu được
dùng nhằm tạo ra những dữ liệu và văn bản thông minh với cơ chế có khả năng đảm
nhận những đòi hỏi về trao đổi dữ liệu kinh doanh giữa các doanh nghiệp, vì vậy nó
được coi là ngôn ngữ của cơ sở dữ liệu trên web và là cơ chế tốt để trao đổi giữa các
phần mềm ứng dụng (applications). XML bao gồm những cấu trúc thông tin và gi
ải
1
The United Nations Center for Trade Facilitation and Electronic Business (Trung tâm hỗ trợ
thương mại điện tử và thuận lợi hóa của Liên hợp quốc: được biết đến một cách rộng rãi qua
việc xây dựng và phát triển chuẩn UN/EDIFACT áp dụng cho việc trao đổi dữ liệu trong theo
dạng chuẩn EDI 11
phục các thành viên UN/CEFACT nên tiếp cận với OASIS
2
để cùng nhau tạo nên cấu
trúc cho một chuẩn mới phát triển dựa trên XML. Tháng 9 năm 1999, hai tổ chức này
đã đưa ra sáng kiến phát triển một khung dựa trên XML mở, có thể sử dụng thông tin
kinh doanh điện tử trên toàn cầu một cách nhất quán, có khả năng liên kết và hợp tác
an toàn, từ ứng dụng tới ứng dụng, ứng dụng tới người sử dụng và từ người sử dụng
tới các môi tr
ường ứng dụng – đó chính là chuẩn ebXML. Nhờ sự hợp tác của hai tổ
chức này, năm 2001, giải pháp xây dựng khung cho kinh doanh điện tử ebXML phiên
bản đầu tiên đã ra đời.
ebXML được viết tắt bởi electronic business eXtensible Markup Language, là
kết quả của sự nỗ lực vượt bậc trong việc kết hợp Internet, XML và EDI nhằm tạo ra
một chuẩn chung trong TMĐT. ebXML cung cấp một khung kinh doanh điện tử trên
toàn cầu, chủ
yếu là phục vụ cho môi trường kinh doanh giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp. ebXML cung cấp một tập hợp các đặc tả với các nguyên tắc chung của khung
ebXML. ebXML được xây dựng dựa trên các công nghệ như là XML, HTTP, SOAP
và EDIFACT (Electronic Data Interchange for Administration, Commerce and
Transport).
Chuẩn ebXML đưa ra một kiến trúc khung nền tảng của một chuẩn mở đối với
việc trao đổi dữ liệu trong dịch vụ kinh doanh hiện đại, trên mọi platform, đảm bảo
15000. Hơn nữa, ebXML cho phép xây dựng nền tảng thương mại điện tử toàn cầu,
trong đó các doanh nghiệp với mọi quy mô và ở bất kỳ đâu cũng có thể tiến hành kinh
doanh bằng việc trao đổi các thông điệp dựa trên nền tả
ng XML.
Trên thực tế, ebXML không chỉ ứng dụng trong mô hình thương mại điện tử
B2B mà còn áp dụng cho nhiều mô hình thương mại điện tử khác. Nhiều quốc gia đã
xây dựng các dịch vụ truyền thông điệp (ebMS) là một thành phần của ebXML để
cung cấp các dịch vụ công và trao đổi các chứng từ, biểu mẫu với các cơ quan chính
phủ khác.
Việc nghiên cứu xây dựng và đưa ra các giải pháp áp dụng các tiêu chu
ẩn này
đòi hỏi sự nghiên cứu sâu sắc, và có những giải pháp tổng thể thích hợp thì mới triển
khai hiệu quả trong thực tế cuộc sống.
3. Dịch vụ web (web services) và ebXML
Hai tiêu chuẩn được ứng dụng rộng rãi trong kinh doanh điện tử đó là ebXML
và sự kết hợp của công nghệ Web Service như: SOAP, WSDL, UDDI and BPEL.
Trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Bắc Mỹ và Châu Âu các mạng
KDĐ
T được xây dựng để trao đổi các thông tin kinh doanh trong nhiều ngành công
nghiệp và dịch vụ thuộc các lĩnh vực: giao thông vận tải, công nghiệp ô tô, phân phối –
bán lẻ, giải trí,v.v… Các hệ thống EDI đã giúp cắt giảm rất nhiều chi phí cho các
doanh nghiệp sử dụng trên cơ sở giảm thiểu các thủ tục giấy tờ nhưng đòi hỏi nhà cung
cấp dịch vụ phải bỏ ra các khoản đầu tư rất lớ
n ban đầu để xây dựng như chi phí cho
phần mềm chuyên biệt để tạo ra các dịch vụ giá trị gia tăng và thực hiện các kết nối
các đối tác thông qua các kênh truyền riêng. Ngoài ra, những nhà cung cấp thường
phải sử dụng những hệ thống EDI khác nhau cho các khách hàng lớn của mình vì
không có khách hàng nào hoàn toàn tuân thủ tập chuẩn con EDI trong ngành của mình.
Sự ra đời của Internet đã mở ra một cuộc cách mạng mới cho TMĐT phát triển, đặc
biệt là mô hình doanh nghi
Service-Oriented Architecture (SOA) với 3 bên: service providers, service requesters,
and service registries (Xem hình). Bên cung cấp dịch vụ (Service providers) đăng ký
mô tả dịch vụ trong service register cho mụ
c đích khám phá dịch vụ (service
discovery). Bên yêu cầu (khai thác) dịch vụ (service requesters) tìm kiếm dịch vụ
trong service register đối với các dịch vụ thỏa mãn yêu cầu. Các bên yêu cầu dịch vụ
có thể giao tiếp với Bên cung cấp dịch vụ trực tiếp và sử dụng các dịch vụ của Bên
cung cấp dịch vụ.
Tương tự Web Services, ebXML cũng có Service register để thu thập các Mô tả
dịch vụ (service descriptions). Khác với Web Services, các đối tác kinh doanh không
được đánh dấu phân bi
ện như là Bên cung cấp dịch vụ (service providers) hay là Bên
yêu cầu dịch vụ (Service requesters), mà được đối xử theo vai trò (role) của các đối tác
kinh doanh. Dịch vụ khám phá (Service discovery) và dẫn xuất tương tự như Web
Service.
Hình 1: So sánh Web Services và ebXML về mô tả dịch vụ, khám phá dịch vụ, triệu gọi dịch vụ. 14
Đối với Web Services, tương tác giữa các bên được triển khai theo kiểu thẳng.
Giao tiếp giữa các bên sử dụng SOAP dựa trên nền tảng giao thức IP và công nghệ
XML. Chính xác là SOAP làm cho Web Services có khả năng tương tác giữa các nền
tảng khác nhau và các ngôn ngữ lập trình khác nhau. UDDI là giao thức được sử dụng
bởi service registry để mô tả thông tin về các dịch vụ. Một trong những thông tin quan
trọng trong mô tả kinh doanh/nghiệp vụ là URI đối với thông điệp WSDL
. WSDL là
một file định dạng XML mô tả cách thức các dịch vụ có thể được gọi theo cách nhìn
của kỹ nghệ phần mềm.
Lời gọi Web Services tương tự như lời gọi hàm từ xa RPC (Xem hình 2). Phía
Thông điệp SOAP có thể chứa SOAP header, phần SOAP header cung cấp cơ chế cho
việc thêm thông tin về thông điệp. Ví dụ, thông tin về định truyến thông điệp, xác thực
và quản lý giao dịch.
IV. Mục tiêu đề tài
- Nghiên cứu thự
c trạng triển khai kinh doanh điện tử ebXML trong nước cũng
như kinh nghiệm quốc tế và các vấn đề kỹ thuật trong triển khai xây dựng khung kinh
doanh điện tử ebXML.
- Đề xuất giải pháp áp dụng khung kinh doanh điện tử ebXML cho một số loại
hình doanh nghiệp.
- Xây dựng được dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khung kinh doanh
điện tử áp dụng cho một số loại hình doanh nghiệ
p.
V. Nội dung thực hiện
Đứng trước yêu cầu cấp bách về việc đẩy mạnh hỗ trợ các doanh nghiệp nâng
cao năng lực và khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập kinh tế, việc nghiên cứu
xây dựng bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khung kinh doanh điện tử áp dụng cho
một số loại hình doanh nghiệp phù hợp với hoàn cảnh Việt nam là rất cần thiết.
Nội dung đề tài tập trung vào các công việc chủ yếu sau:
16
- Tổng hợp tài liệu và kinh nghiệm Quốc tế liên quan đến quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về khung kinh doanh điện tử ebXML áp dụng cho một số loại hình doanh
nghiệp.
- Nghiên cứu hệ thống tiêu chuẩn ISO/TS 15000, EDI/ XML và các đặc tả về
khung kinh doanh điện tử ebXML.
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp giải pháp áp dụng khung kinh doanh điện tử
ebXML thích hợp với điều kiện của Việt Nam.
- Xây d
ựng được dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khung kinh doanh
- Xây dựng được dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật qu
ốc gia về khung kinh doanh
điện tử áp dụng cho một số loại hình doanh nghiệp và khuyến khích phát triển ứng
dụng thương mại điện tử tại Việt Nam.
17
- Thúc đẩy hoạt động kinh doanh, tăng cường năng lực và nhận thức doanh
nghiệp trong việc tiếp cận, chuẩn hóa các quy trình kinh doanh và lợi ích từ các công
cụ hỗ trợ kinh doanh. 18
CHƯƠNG II - KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH YÊU CẦU
I. Kinh nghiệm quốc tế và thực trạng của Việt Nam trong triển khai khung kinh
doanh điện tử ebXML
1. Kinh nghiệm quốc tế trong triển khai kinh doanh điện tử ebXML
1.1 Hàn Quốc
a. Phát triển các tiêu chuẩn dựa trên EDIFACT/XML
Ở Hàn Quốc tất cả các loại tiêu chuẩn thông điệp điện tử (EDI, XML và
XML/EDI) đều được chuẩn hóa bởi Ủy ban EDIFACT Hàn Quốc - KEC (Korean E-
Document Standard Committee). Theo báo cáo tại AFACT 2008, tính đến tháng
8/2008 KEC đã phê chuẩ
n 610 thông điệp chuẩn (262 EDI, 53 XML/EDI, 295 XML)
cụ thể trong các ngành lĩnh vực như sau:
EDI XML/EDI XML
Thương mại 37 27 25
Bảo hiểm 4 4 8
Vận tải đường biển 38 0 3
Vận tải đường bộ 6 0 6
đến nay KIEC đã chứng thực cho khoảng 62 hệ thống hóa đơn thuế đ
iện tử của 53
công ty và tổ chức. Hiện tại, KIEC vẫn hỗ trợ cho hoạt động thúc đẩy hệ thống pháp lý
trong việc sử dụng Hóa đơn thuế điện tử.
1.2. Thái Lan
Khung kinh doanh điện tử ebXML không chỉ ứng dụng trong lĩnh vực trao đổi
chứng từ kinh doanh trong các doanh nghiệp. Các thành phần của ebXML rất linh hoạt
và có thể triển khai độc lập. Thành phần phổ biến nhất c
ủa ebXML là dịch vụ truyền
thông điệp (ebMS) được ứng dụng khá mạnh trong Chính phủ điện tử bằng việc hỗ trợ
truyền các thông điệp kết nối, trao đổi thông tin giữa các cơ quan chính phủ.
Tại Thái Lan, nhằm trao đổi thông tin cũng như liên kết các dịch vụ một cách có
hiệu quả, Chính Phủ đã đưa ra một loạt các quy tắc chung nhằm đơn giản hóa và thuận
l
ợi hóa các quy trình kinh doanh dựa trên chuẩn thông tin XML. Các quy tắc chung
này dựa trên những tiêu chuẩn quốc tế đã được sử dụng rộng rãi, bao gồm:
- Phương pháp phân tích và cấu trúc thông tin và quy trình trao đổi dữ liệu của
UN/CEFACT.
- Đặc tả kỹ thuật thành phần lõi (ISO 15000 – 5) của UNCEFACT về cấu trúc
các mẫu thông tin.
- Quy tắc thiết kế và đặt tên XML của UN/CEFACT.
Các quy tắc này được các bộ, ngành cơ quan Nhà nước Thái Lan áp dụng rộng
rãi nhằm đẩy mạnh thương m
ại hóa, cũng như đơn giản hóa quá trình trao đổi thông
tin. Cụ thể như sau:
- Hải quan Thái Lan trao đổi các thông điệp điện tử dựa trên giao thức HTTPS
thông qua dịch vụ thông điệp ebMS 2.0 dựa trên nền trao đổi thông điệp ebXML.
Nhằm đảm bảo cho giao dịch được an toàn, Hải quan Thái Lan đã thiết kế và phát triển
chuẩn ebXML phù hợp kết hợp áp dụng chữ ký số cho các tất cả các dữ liệu trao
đổi.
UneDocs và khung XML theo bộ quy tắc thiết kế và đặt tên XML của
UN/CEFACT.
• Triển khai thử nghiệm dịch vụ hậu cầu điện tử một cửa cho ngành giao
thông
Bên cạnh đó các cơ quan khác như Bộ Nông nghiệp và Thủy Sản, Bộ Y tế, Bộ
thương mại, Bộ Công nghiệp Thái Lan cũng áp dụng các dịch vụ online dựa trên nền
XML cho các ho
ạt động như: giấy chứng nhận sức khỏe, giấy phép xuất nhập khẩu
động vật, giấy chứng nhận xuất xứ…
21
1.3. Nhật Bản
a. Hiệp hội các ngành công nghệ thông tin và điện tử Nhật Bản (JEITA)
Hoạt động của JEITA bao gồm lĩnh vực điện tử và công nghệ thông tin. Trong
JEITA, trung tâm EDI đóng vai trò thúc đẩy quá trình chuẩn hóa với cả người bán và
người mua hướng tới những tiêu chuẩn EIAJ-EDI phục vụ cho các giao dịch kinh
doanh.
Vào tháng 12/2003, JEITA đã khai trương ECALGA (Liên minh TMĐT cho
các hoạt động kinh doanh toàn cầu), một biểu tượng của EDI cho kỷ nguyên mớ
i.
ECALGA cung cấp các giải pháp đối với nhu cầu mới về EDI trong ngành điện tử,
thông qua những thông điệp mới được phát triển, giúp phản ánh việc trao đổi thời gian
thực của các thông tin dự báo và tồn kho. Đồng thời, ECALGA thay đổi tiêu chuẩn
EIAJ-EDI dựa trên tiêu chuẩn ebXML. ECALGA phối hợp tất cả các quy trình kinh
doanh giữa các doanh nghiệp trong những lĩnh vực khác nhau, bao gồm nhưng không
chỉ giới hạn các hoạt động lập k
ế hoạch, thiết kế, phát triển, sản xuất, phân phối và bán
hàng.
b. Hội đồng các nhà xuất nhập khẩu Nhật Bản (JSC)
JSC đã tích cực tham gia vào các hoạt động nhằm phổ biến và thúc đẩy
Để tiến hành các hoạt động xúc tiến ứng dụng ebXML cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, ECOM đã công bố đặc tả mới của dịch vụ truyền thông đi
ệp ebXML
(ebXML Messaging Service) và giải pháp hệ thống kết nối client-server tới OASIS .
2. Thực trạng Việt Nam trong triển khai các hoạt động kinh doanh điện tử giữa
các doanh nghiệp và giải pháp.
Tại Việt Nam, hầu hết doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế có quy mô lớn
đang được các nhà quản lý các cấp chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ nhằm tăng
năng suất, chất lượng để nâng cao hiệu quả SXKD. Nhiều tậ
p đoàn, tổng công ty,
doanh nghiệp kinh tế hàng đầu thuộc các ngành như điện lực, viễn thông, dầu khí,
thép, dệt may, sản xuất và phân phối, v.v… đã từng bước phát triển các ứng dụng
CNTT và TMĐT phục vụ công tác điều hành và quản lý sản xuất với mức đầu tư khá
cao (từ vài trăm ngàn USD đến hàng triệu USD). Với tổng mức đầu tư lớn và tiếp cận
được công nghệ hi
ện đại, các ứng dụng TMĐT và CNTT cùng các dịch vụ giá trị gia
tăng được phát triển nhanh chóng, có hệ thống và mang lại hiệu quả rõ rệt. Theo đánh
giá của nhiều chuyên gia, nhờ đầu tư hiệu quả, quy mô hoạt động và mạng lưới khách
hàng của các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp kinh tế đã tăng nhanh chóng (ngành
tài chính – ngân hàng tăng hiệu quả 30-50%/ năm, ngành viễn thông tăng 50-70%
lượng khách hàng, ngành sản xuất và chế biế
n giảm 3-5% chi phí vận chuyển và hậu
cần, v.v…). Việc áp dụng TMĐT và CNTT không những giúp doanh nghiệp nâng cao
hiệu quả hoạt động, giảm chi phí, tăng năng suất lao động mà còn giúp doanh nghiệp
cải thiện năng lực cạnh tranh cũng như quản lý tốt hơn hệ thống tài nguyên, hệ thống
phân phối, duy trì khách hàng và đối tác.
Một số mô hình thành công và điển hình ở Việt Nam hiện nay là của Tập đoàn
Điệ
n lực Việt Nam về điều tiết các hoạt động điện lực toàn quốc, Công ty Cổ phần
Công nghệ và truyền thông Việt Nam (VNTT) với mô hình dịch vụ điện toán đám
Hệ thống cho phép Vinamilk quản lý tất cả các số liệu từ các nhà phân phối trên
các môi trường trực tuyến (hệ thống qua đường truyền Internet sử dụng chương trình
SAP) hoặc ngoại tuyến (sử dụng phần mềm Solomon của Microsoft). Thông tin tậ
p
trung sẽ giúp Vinamilk đưa ra các quyết định kịp thời cũng như hỗ trợ chính xác việc
lập kế hoạch. Việc thu thập và quản lý các thông tin bán hàng của đại lý nhằm đáp ứng
kịp thời, đem lại sự thỏa mãn cho khách hàng ở cấp độ cao hơn.
Sau một thời gian thử nghiệm, từ tháng 1 năm 2007 Vinamilk đã chính thức đưa
vào sử dụng Oracle E-Business Suite (EBS) phiên bản 11.5 và SAP CRM và tháng 4
năm 2007 chương trình ERP cũng
đã được chính thức vận hành. Với hệ thống quản trị
doanh nghiệp tổng thể này, Vinamilk có thể quản lý đươc tình hình tài chính – kế toán,
mua sắm, bán hàng, sản xuất và phân tích kết quả hoạt động của công ty với 16 đơn vị
trực thuộc từ Hà Nội đến Cần Thơ. Đây là giải pháp ERP lớn nhất được triển khai ở
Việt Nam.
Hệ thống SAP được xây dựng trên nền tảng công ngh
ệ SAP NetWeaver. Tại
Vinamilk, NetWeaver tích hợp thông tin từ hệ thống ERP sử dụng:
• Oracle EBS – giải pháp giúp giải quyết việc kết nối với nhà cung ứng
(supplier) và các quy trình khác trong nội bộ doanh nghiệp bao gồm các
module chuẩn như: Tài chính (Finance), Quản lý đơn hàng (Order
Management), Mua hàng (Procurement), Sản xuất (Manufacturing) Các
giải pháp của ứng dụng Oralce hiện nay đều tích hợp giải pháp tích hợp
B2B. Đặc biệt là hệ thống truyền thông điệp giữa các ứng dụng
đã tích hợp
sẵn trong Oracle Application server (AS).
• Microsoft Exchange: Hệ thống email
24
• Solomon (đã được đổi tên lại là Microsoft Dynamics SL) sử dụng tại các
sản phẩm đó và người giao hàng sẽ giao đúng sản phẩm có mã vạch đó), chuẩn GLN
của GS1 để định danh bên mua hàng (Buyer), nhà cung cấp (Supplier). Ngoài ra, việc
sử dụng một số tiêu chuẩn khác như UN/EDIFACT và XML cũ
ng đang được nghiên
cứu áp dụng. Các loại mã khác như mã nơi đặt hàng, nơi giao hàng, mã nhà cung cấp
đều theo chuẩn EANCOM13 của tổ chức GS1.