Báo cáo kết quả xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phơi nhiễm trường điện từ đối với cá đài phát thanh và truyền hình - Pdf 13

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
CỤC VIỄN THÔNG
----------------------------------------
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ
PHƠI NHIỄM TRƯỜNG ĐIỆN TỪ ĐỐI VỚI CÁC ĐÀI
PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH
MÃ SỐ: 25-11-KHKT-TC
Chủ trì: Nguyễn Xuân Hải – Cục Viễn thông
Những người tham gia:
TS. Nguyễn Phi Tuyến
ThS. Nguyễn Văn Khoa
KS. Nguyễn Đức Nam
TS. Nguyễn Hoài Anh
Hà Nội - tháng 12 năm 2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC CÁC HÌNH VẼ
MỤC LỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU
Ngày nay công nghệ thông tin vô tuyến đã phát triển rất mạnh mẽ, đóng góp một vai trò
vô cùng quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống, mang lại nhiều tiện ích và góp
phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong những năm vừa qua, việc áp dụng công nghệ
thông tin vô tuyến vào trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam cũng phát triển rất
nhanh, sánh ngang với các nước trên thế giới.
Vấn đề sức khỏe con người luôn được quan tâm, đặc biệt là xã hội càng phát triển, hiểu
biết của con người về khoa học kỹ thuật càng cao cũng như đời sống vật chất tinh thần càng
cao thì càng quan tâm đến sức khoẻ của mình. Theo nghiên cứu thực tế thì sóng vô tuyến điện
có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, do đó để đảm bảo không ảnh hưởng đến sức
khoẻ con người thì các thiết bị phát sóng vô tuyến điện phải đảm bảo tuân thủ các quy định
nghiêm ngặt về an toàn bức xạ vô tuyến điện.
Về mặt bồi dưỡng và chế độ phụ cấp đối với người làm việc trong môi trường nguy

Chương 3. Nghiên cứu công tác tiêu chuẩn hoá của các nước và các tổ chức quốc tế.
Chương 4. Nghiên cứu việc áp dụng tiêu chuẩn và phương pháp đo kiểm, đánh giá phơi
nhiễm trường điện từ đối với các đài phát thanh và truyền hình của một số nước trên thế giới.
Chương 5. Nghiên cứu đề xuất xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phơi nhiễm
trường điện từ đối với các đài phát thanh và truyền hình áp dụng tại Việt Nam.
Chương 6. Kết luận, kiến nghị.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù nhóm chủ trì đề tài đã hết sức cố gắng nghiên
cứu, tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi các sai sót, nhóm chủ trì đề tài rất mong nhận được
ý kiến góp ý của các chuyên gia cũng như các nhà quản lý và bạn đọc.
Trân trọng cảm ơn.
NHÓM CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM ĐỊNH ĐÀI VÔ TUYẾN
ĐIỆN
1.1. Luật Tần số vô tuyến điện
Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 và chính
thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.
Một số khái niệm liên quan đến đài vô tuyến điện được quy định tại Điều 3 Luật Tần số
vô tuyến điện như sau:
- Đài vô tuyến điện là một hoặc tổ hợp thiết bị vô tuyến điện, bao gồm cả thiết bị phụ trợ kèm
theo được triển khai để thực hiện nghiệp vụ vô tuyến điện. Đài vô tuyến điện được phân loại
theo nghiệp vụ mà đài vô tuyến điện đó hoạt động thường xuyên hoặc tạm thời.
- Bức xạ vô tuyến điện là năng lượng sinh ra ở dạng sóng vô tuyến điện từ một nguồn bất kỳ.
- Phát xạ vô tuyến điện là bức xạ của một đài phát vô tuyến điện.
- Thiết bị vô tuyến điện là thiết bị thu, phát hoặc thu - phát các ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ
viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng sóng vô tuyến điện.
Trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tại khoản 1
Điều 5 như sau: “Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức
thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về tần số vô tuyến điện; ban hành quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về thiết bị vô tuyến điện, phát xạ vô tuyến điện, tương thích điện từ, an toàn bức xạ

- Thiết bị đầu cuối.
- Thiết bị mạng.
- Thiết bị đo lường tính giá cước.
- Kết nối mạng viễn thông.
- Dịch vụ viễn thông.
- Hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động.
- Chất lượng phát xạ của thiết bị vô tuyến điện.
- An toàn bức xạ vô tuyến điện của thiết bị vô tuyến điện, thiết bị ứng dụng sóng
vô tuyến điện, đài vô tuyến điện.
- An toàn tương thích điện từ của thiết bị vô tuyến điện, thiết bị viễn thông, thiết
bị công nghệ thông tin, thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện và thiết bị điện,
điện tử.
- Lắp đặt, vận hành, đo kiểm thiết bị mạng, hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động,
quản lý dịch vụ viễn thông.
- Các quy chuẩn kỹ thuật viễn thông khác theo quy định của Bộ Thông tin và
Truyền thông.
Quy định về kiểm định đài vô tuyến điện được nêu tại Khoản 2 Điều 35 như sau:

2. Kiểm định thiết bị viễn thông là việc đo kiểm, chứng nhận hoặc công bố sự phù hợp
với các quy chuẩn kỹ thuật viễn thông của thiết bị viễn thông đã được lắp đặt trước khi đưa và
hoạt động. Việc kiểm định thiết bị viễn thông được thực hiện như sau:
a) Thiết bị mạng thuộc Danh mục thiết bị viễn thông bắt buộc kiểm định do Bộ Thông
tin và Truyền thông ban hành trước khi đưa vào hoạt động phải thực hiện việc đo kiểm và
chức nhận sự phù hợp hoặc đo kiểm và công bố sự phù hợp theo quy định;
b) Thiết bị đo lường tính giá cước thuộc Danh mục thiết bị viễn thông bắt buộc kiểm
định do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành trước khi đưa vào hoạt động phải được thực
hiện việc đo kiểm và chức nhận sự phù hợp theo quy định;
c) Đài vô tuyến điện thuộc Danh mục đài vô tuyến điện bắt buộc kiểm định về an toàn
bức xạ vô tuyến điện do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành trước khi đưa vào sử dụng
phải thực hiện việc đo kiểm và chứng nhận sự phù hợp hoặc đo kiểm và công bố sự phù hợp

4. Đài truyền hình
(3)
Từ ngày 01/01/2013 5
Ghi chú:
(1) Áp dụng đối với các Trạm gốc điện thoại di động mặt đất công cộng mà trong bán kính
100m tính từ anten bất kỳ của các trạm gốc lắp đặt tại vị trí đó có công trình xây
dựng trong đó có người sinh sống, làm việc.
(2) Áp dụng đối với Tổng đài của mạng viễn thông cố định mặt đất công cộng, Tổng
đài của mạng viễn thông di động mặt đất công cộng có ghi cước phục vụ cho việc
tính cước, lập hoá đơn của dịch vụ điện thoại.
(3) Áp dụng đối với các đài phát thanh, truyền hình có công suất phát cực đại từ 150W
trở lên.
Các khái niệm liên quan đến việc kiểm định đài vô tuyến điện trong Thông tư số 16/2011/TT-BTTTT được
quy định như sau:
- Đài vô tuyến điện bắt buộc kiểm định là một hoặc tổ hợp thiết bị vô tuyến điện, bao gồm cả
thiết bị phụ trợ kèm theo được triển khai để thực hiện nghiệp vụ vô tuyến điện và phải tuân
thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ vô tuyến điện.
- Kiểm định thiết bị viễn thông và đài vô tuyến điện (sau đây gọi tắt là kiểm định) là việc đo
kiểm và chứng nhận thiết bị viễn thông và đài vô tuyến điện phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia. Việc kiểm định không thay thế và không làm giảm trách nhiệm của tổ chức, doanh
nghiệp đối với chất lượng, an toàn của thiết bị viễn thông, đài vô tuyến điện theo quy định của
pháp luật.

Điều 6. Các trường hợp kiểm định
1. Kiểm định lần đầu:
a) Đối với thiết bị viễn thông và đài vô tuyến điện thuộc “Danh mục thiết bị viễn thông và đài vô
tuyến điện bắt buộc kiểm định” mới lắp đặt thì trước khi đưa thiết bị viễn thông, đài vô tuyến
điện vào khai thác, sử dụng, tổ chức, doanh nghiệp phải tiến hành kiểm định theo thủ tục quy
định tại Điều 7 của Thông tư này.
b) Đối với thiết bị viễn thông, đài vô tuyến điện thuộc “Danh mục thiết bị viễn thông và đài vô

- Phủ sóng truyền hình mặt đất tới 95% dân cư;
- Phủ sóng phát thanh AM-FM tới 100% dân cư, đảm bảo hầu hết các hộ dân có thể thu, nghe
được các kênh chương trình phát thanh quảng bá.
* Đến năm 2015:
- Phủ sóng truyền hình mặt đất tới 100% dân cư, đảm bảo hầu hết các hộ dân có thể thu, xem
được các chương trình truyền hình quảng bá;
- Mạng truyền hình cáp được triển khai tại 100% trung tâm các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương.
* Đến năm 2020:
- Từng bước triển khai lộ trình số hóa mạng truyền dẫn, phát sóng truyền hình số mặt đất phù
hợp với điều kiện thực tế về thiết bị thu truyền hình số của người dân trên từng địa bàn cụ thể.
Về cơ bản sẽ ngừng phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ tương tự để chuyển sang phát
sóng truyền hình mặt đất công nghệ số khi 95% số hộ gia đình có máy thu hình có khả năng
thu được các kênh chương trình truyền hình quảng bá bằng những phương thức truyền dẫn,
phát sóng số khác nhau;
- Ngừng việc sử dụng công nghệ truyền hình cáp tương tự trước năm 2020 để chuyển hoàn toàn
sang công nghệ số với 100% các mạng cáp dọc các tuyến đường, phố chính tại trung tâm các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ngầm hoá;
- Công nghệ số được áp dụng rộng rãi trong truyền dẫn, phát sóng phát thanh;
- Đa số các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo có nhu cầu, được cung cấp thiết
bị thu các kênh chương trình phát thanh, truyền hình kỹ thuật số với giá cả phù hợp.
2.2. Công nghệ và các loại phát thanh, truyền hình tại Việt Nam
2.2.1. Các công nghệ phát thanh, truyền hình tại Việt Nam
Việt Nam đã áp dụng các công nghệ phát thanh, truyền hình tiên tiến trên thế giới. Hiện
tại các công nghệ được áp dụng trong hệ thống phát thanh, truyền hình ở Việt Nam bao gồm:
- Phát thanh truyền hình mặt đất: phát thanh, truyền hình kỹ thuật tương tự (analog) và kỹ thuật
số (digital). Phát thanh tương tự sử dụng băng tần AM, FM Band I và Band II. Truyền hình
tương tự sử dụng hệ tiêu chuẩn Pal D/K, truyền hình số sử dụng hệ tiêu chuẩn DVB-T và
DVB-H. Công nghệ truyền hình số di động T-DMB (hoạt động trên Band III VHF 174-
230MHz hoặc Band L 1452-1492MHz) cũng đang được Đài Truyền hình Việt Nam thử

- Máy phát thanh của đài tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Máy phát thanh của đài huyện, thị xã.
- Máy phát thanh do phường, xã quản lý.
- Máy phát thanh của các cơ quan, doanh nghiệp ngoài ngành phát thanh -truyền hình.
- Máy phát thanh của các cơ quan, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thương mại.
b) Phát thanh tương tự có phát kèm theo các dữ liệu phụ, phát thanh số mạng đa tần.
2.2.4. Các cấp đài phát hình tại Việt Nam :
a) Truyền hình tương tự (tính theo từng kênh tần số), truyền hình số mạng đơn tần
- Máy phát hình của Đài Truyền hình Việt Nam.
- Máy phát hình của đài tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Máy phát hình của đài huyện, thị xã.
- Máy phát hình do phường, xã quản lý.
- Máy phát hình của các cơ quan, doanh nghiệp ngoài ngành phát thanh -truyền hình.
- Máy phát hình của các cơ quan, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thương mại.
b) Truyền hình tương tự có phát kèm theo các dữ liệu phụ, truyền hình số mạng đa tần.
2.3. Khảo sát thực tế về các đài phát thanh, truyền hình trong nước
Hiện nay trên cả nước có khoảng trên 3.000 đài phát thanh, truyền hình với cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, đồng bộ, các Đài PTTH tỉnh, thành phố đều có trụ sở kiên cố và hiện
đại, mỗi đài đều có ít nhất 1 đến 4 máy phát sóng truyền hình, một máy phát sóng phát thanh
FM và máy phát sóng khác…
Do việc phân bố theo địa giới hành chính và địa hình khác nhau nhưng vẫn phải đảm
bảo yêu cầu phủ sóng tốt đến các địa bàn dân cư, do đó mỗi đài phát thanh, truyền hình có
công suất khác nhau và độ cao anten khác nhu. Các số liệu khảo sát về độ cao, công suất của
các đài phát thanh, truyền hình ở Việt Nam như được trình bày sau đây:
2.3.1. Đài phát thanh AM - Băng MF (526,25 - 1606,5 KHz)
Qua khảo sát các đài phát thanh AM thì chủ yếu các đài này có công suất lớn và rất lớn;
các đài này thuộc về các đài phát thanh - truyền hình cấp tỉnh (29 đài) và Đài Tiếng nói Việt
nam (36 đài); trong số 36 đài phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam có 35 đài có công suất từ
10KW trở lên; các đài có công suất nhỏ (02 đài) là thuộc về các đài phát thanh cấp huyện. Số
liệu tổng hợp về công suất và độ cao anten của các đài phát thanh AM như sau:

- Êtăm, Buôn ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc (2 đài, 20KW).
- Lễ Khê, thị xã Sơn Tây, Hà Nội (8 đài 100KW).
- Mễ trì, Từ Liêm, Hà Nội (3 đài 50KW).
- Xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ, Hà Nội (4 đài 50KW).
Các đài phát thanh HF nêu trên có độ cao anten từ 12,5m đến 45m.
2.3.3. Đài phát thanh FM - Băng I VHF (54 - 68 MHz)
Qua khảo sát thực tế 37 đài phát thanh FM băng I ở Việt Nam hiện nay thì các đài này
đều là các đài phát thanh cấp phường - xã, công suất từ 10W đến 60W, độ cao anten là từ
4,5m đến 30m.
2.3.4. Đài phát thanh FM - Băng II VHF (87 - 108 MHz)
Đài phát thanh FM được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc từ cấp xã, huyện đến cấp tỉnh
và Trung ương. Công suất của các đài phát thanh FM cấp huyện, xã thường là từ 500W trở
xuống, các đài phát thanh cấp tỉnh và Trung ương có công suất từ 1000W trở lên đến 20KW.
Số liệu tổng hợp về công suất và độ cao anten của các đài phát thanh FM như sau:
Bảng . Tổng hợp về công suất và độ cao anten của các đài phát thanh FM
TT Công suất phát (W) Số lượng Độ cao anten (m)
1.
Từ 10 đến 100 835 8 - 105
2.
150 119 15 - 68
3.
200 105 15 - 80
4.
250 17 25 - 100
TT Công suất phát (W) Số lượng Độ cao anten (m)
5.
300 200 15 - 100
6.
400 2 30 - 36
7.

4.
250 11 25 - 60
5.
300 139 18 - 100
6.
500 66 22 - 102
7.
700 2 40
8.
750 1 110
9.
800 1 40
10.
1,000 54 10 - 125
11.
2,000 48 10 - 125
12.
2,200 1 100
13.
2,500 4 75 - 100
14.
5,000 27 50 - 120
15.
10,000 6 76 - 180
16.
20,000 3 110 - 218
17.
Tổng cộng 905
2.3.6. Đài truyền hình - Băng UHF (470 - 806 MHz)
Bảng . Tổng hợp về công suất và độ cao anten của các đài TH UHF

15.
50,000 2 180
16.
Tổng cộng 276
2.3.7. Đài truyền hình kỹ thuật số phát trên kênh 6 đến kênh 59
Hiện tại ở Việt Nam có 3 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình kỹ thuật số là Tập đoàn
Truyền thông Đa phương tiện (VTC), Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và Công ty cổ phần
Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG). VTC đã phủ sóng 39/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, công nghệ
chủ yếu là DVB-T; AVG có 6 đài phát sóng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh với công nghệ là
DVB-T, VTV có 7 đài phát sóng tại 7 tỉnh là Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Lào Cai, Phú Yên,
Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá. Số liệu tổng hợp về công suất và độ cao anten của các đài
truyền hình kỹ thuật số như sau:
Bảng . Tổng hợp về công suất và độ cao anten của các đài TH KTS
TT Công suất phát (W) Số lượng Độ cao anten (m)
1.
100 22
20 - 90
2.
150 6
60 - 80
3.
200 32
30 - 125
4.
250 2
100
5.
300 2
60
6.

(gần với nguồn bức xạ) cần phải đo cả trường điện và trường từ, tuy nhiên, trong trường xa,
quan hệ giữa hai trường là quan hệ tuyến tính nên chỉ cần đo một trường.
Bức xạ tần số radio là bức xạ không ion hóa. Bức xạ RF không làm thay đổi cấu trúc
phân tử của cơ thể theo cách như bức xạ ion hóa.
3.1.2. Ảnh hưởng đến sức khỏe
Ảnh hưởng trước tiên của việc phơi nhiễm trong trường RF cao là tăng nhiệt độ cơ thể.
Tuy nhiên, ảnh hưởng lâu dài của việc tăng nhiệt này vẫn còn đang được xem xét.
Ảnh hưởng thứ hai rõ rệt hơn đến sức khỏe là bỏng RF, xảy ra khi tiếp xúc với chấn tử
anten, fiđơ hoặc bộ phận ghép nối có điện áp RF cao.
a) Ảnh hưởng về nhiệt
Trong trường RF có thể chia thành các dải sau:
- Mật độ dòng năng lượng cao, thường là cơ hơn 10mW/cm2, tại đó xuất hiện hiệu
ứng về nhiệt rõ rệt;
- Mật độ dòng năng lượng trung bình, từ 1mW/cm2 đến 10mW/cm2, tại đó có các
hiệu ứng nhiệt yếu nhưng đáng kể; và
- Mật độ dòng năng lượng thấp, dưới 1mW/cm2, không tồn tại các hiệu ứng nhiệt
nhưng có các hiệu ứng khác.
Khi cơ thể hấp thụ đủ bức xạ RF, lượng bức xạ này sẽ chuyển thành nhiệt dẫn đến tăng
nhiệt độ của cơ thể. Lượng năng lượng mà cơ thể hấp thụ và sau đó chuyển thành nhiệt phụ
thuộc vào một số yếu tố. Các yếu tố đó là:
- Cường độ trường;
- Tần số bức xạ;
1 TCVN 3718-1:2005 - Quản lý an toàn trong bức xạ tần số radio - phần 1.
- Kích thước và hình dáng con người;
- Hướng của trường điện và trường từ so với trục dọc của cơ thể; và
- Người đó có đứng trên mặt đất hay không.
Phản ứng tạo ra trong người tùy thuộc vào vị trí được phân bố nhiệt trên cơ thể và điều
này phụ thuộc vào:
- Thể tích và loại mô chiếu (nghĩa là vùng cụ thể của cơ thể bị bức xạ đến);
- Cơ chế làm mát của cơ thể; và

điện sẽ làm giảm đôi chút dòng điện chạy xuống đất.
b) Bỏng RF
Bỏng RF có thể xảy ra do hồ quang hình thành giữa một bộ phận của cơ thể người và
một phần tử của hệ thống phát có điện thế cao so với đất. Bỏng cũng có thể xảy ra do dòng
điện cảm ứng trong cơ thể khi phơi nhiễm trong trường tự do.
Nói chung, bỏng RF xảy ra trên bàn tay người khi tiếp xúc với nhiều phần tử. Khi đó
dòng điện RF chạy qua cơ thể người xuống đất. Khi hồ quang hình thành thì gây bỏng sâu và
rất lâu lành. Trong một số trường hợp bị bỏng nặng dẫn đến hỏng cả chân lẫn tay.
Bỏng RF cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các phần tử không dẫn hướng. Ví dụ một
đoạn dây căng gần một anten bức xạ AM/FM có thể có dòng điện cảm ứng trong đó và tạo
điện thế gây bỏng khi tiếp xúc với dây.
Ngưỡng thu ở dải trung tần điển hình là từ 25mA đến 40mA, trong khi dòng điện
khoảng 90mA có thể gây giật. Để tránh bị bỏng RF do mật độ dòng điện vượt quá quy định,
mức 100mA thường được chấp nhận là giới hạn đối với dòng điện chạy qua chi bất kỳ của cơ
thể người. Đồng hồ đo dòng điện loại Holaday HI-3701 và HI-3702 được thiết kế để đo dòng
điện cảm ứng trong cơ thể.
Do đó, ảnh ưởng gia nhiệt nói chung trên cơ thể không chỉ xét đến ảnh hưởng về sức
khỏe mà còn cần có chú ý đặc biệt đến an toàn của con người ở những nơi có thể xảy ra bỏng
RF. Thông thường, nếu một người trong trạng thái có thể bị bỏng RF thì người đó cũng đang
ở trong trường RF cao và khu vực đó cần phải bị cấm.
3.1.3. Cơ sở để xây dựng mức phơi nhiễm lớn nhất đối với bức xạ RF
a) Giới thiệu
Mục đích của việc xây dựng mức phơi nhiễm lớn nhất đối với bức xạ RF là bảo vệ sức
khỏe con người khỏi các hiệu ứng có hại tiềm ẩn của việc phơi nhiễm trong trường điện từ
RF.
Các tài liệu khoa học của Tổ chức Y tế thế giới (WHO 1993) về dải tần từ 300Hz đến
300GHz làm cơ sở khoa học để xây dựng các giới hạn phơi nhiễm.
WHO cũng đã đưa ra các hướng dẫn quốc tế về các giới hạn phơi nhiễm được Hiệp hội
Bảo vệ Bức xạ quốc tế (IRPA 1988) công bố. Vì các hướng dẫn quốc tế chỉ đề cập đến dải tần
số từ 100kHz đến 300GHz nên Ủy ban đã mở rộng tần số xuống còn 3kHz. Tuy nhiên, tại các

SAR là đại lượng thích hợp để đánh giá hiệu ứng sinh học tùy thuộc vào độ tăng nhiệt
kết hợp với sự hấp thụ năng lượng RF. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào cường độ trường điện bên
trong nên SAR cũng có thể được sử dụng để đánh giá các ảnh hưởng phụ thuộc vào cường độ
trường điện trong các mô. Do đó, mặc dù các giới hạn phơi nhiễm chủ yếu dựa trên các xem
xét về nhiệt đối với dải tần số trên 10MHz, nhưng mục đích bảo vệ chống các ảnh hưởng
không nhiệt cũng được xem xét.
Mục đích khác là để loại bỏ các nguy hiểm của sốc và bỏng RF cho công chúng nói
chung. Phép đo liều lượng cho thấy rằng trong các điều kiện nhất định, SAR cục bộ tại bàn
chân và bàn tay, đặc biệt là tại mắt cá chân và cổ tay, có thể vượt quá WBA-SAR khoảng 300
lần ở một số tần số nhất định. Do đó, các mức phơi nhiễm do nghề nghiệp được thiết lập để
giảm hiện tượng sốc nhẹ và phản ứng đột ngột. Dưới 10MHz, cường độ trường từ không nhấp
nhô ít bị hạn chế hơn cường độ trường điện vì nó không góp phần vào nguy hiểm sốc hoặc
bỏng RF; lý do chính để quan tâm là giới hạn của cường độ trường điện trong phơi nhiễm do
nghề nghiệp.
Dựa vào các xem xét về cơ chế tương tác đằng sau các hiệu ứng sinh học, phải tính đến
cả tần số và mật độ. Các ảnh hưởng phụ thuộc nhiệt độ đã được cụ thể hóa và có thể sử dụng
làm cơ sở cho các giới hạn phơi nhiễm. Bằng chứng về cơ chế không nhiệt của các hiệu ứng
sinh học không được bỏ qua, nhưng không có ảnh hưởng không nhiệt được ghi lại nào cho
thấy là có tác động có hại cho sức khỏe.
d) Hấp thụ năng lượng
Tổng lượng hấp thụ, phân bố và tỷ lệ hấp thụ năng lượng điện từ trong cơ thể sống là
một hàm của nhiều yếu tố. Các đại lượng như cường độ trường điện bên trong (V/m), dòng
cảm ứng trong cơ thể (A), mật độ dòng điện cảm ứng (A/m
2
) và mức hấp thụ riêng SAR
(W/kg) có liên quan với nhau. SAR thường được sử dụng để so sánh các hiệu ứng sinh học
trong các điều kiện phơi nhiễm khác nhau. SAR có thể được sử dụng để xác định sự phân bố
năng lượng (được hấp thụ) bên trong. Với một số hạn chế, SAR cũng có thể được sử dụng để
đánh giá tốc độ thay đổi của nhiệt độ theo thời gian với điều kiện là đã biết các đặc tính trao
đổi nhiệt, kể cả đáp tuyến điều chỉnh nhiệt của cơ thể con người hiện đang được xem xét.

-2
W/kg ở tần số 20MHz đối với người trưởng thành, gầy, chịu phơi nhiễm ở 10W/m
2
. Việc
ghép năng lượng từ đóng góp của riêng trường từ không thể vượt quá mức SAR này. Vì vậy,
có thể thay đổi các mức làm việc dẫn xuất đối với cường độ trường điện và trường từ trong
các trường hợp khi sự phơi nhiễm chiếm ưu thế hơn từ các thành phần trường điện hoặc
trường từ hoặc một trong các thành phần này một cách đơn lẻ.
Đáp tuyến sinh học của phơi nhiễm trong trường RF không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào
mật độ các trường bên ngoài cơ thể, mà còn phụ thuộc vào các trường bên trong cơ thể có liên
quan tới giá trị SAR lấy trung bình trên toàn cơ thể và sự phân bố bên trong cơ thể con người.
Sự phơi nhiễm trong trường điện từ đồng nhất (sóng phẳng) thường gây ra sự hấp thụ và phân
bố năng lượng không đồng nhất cao trong cơ thể. Giá trị SAR trung bình theo không gian là
phương tiện thuận lợi để đánh giá mối quan hệ giữa hiệu ứng sinh học và phơi nhiễm RF và
để so sánh giữa các hiệu ứng ở các điều kiện phơi nhiễm khác nhau.
Đối với các tần số thấp khoảng từ 100kHz đến 10MHz, cơ chế tương tác chiếm ưu thế
là cảm ứng của dòng điện và trường điện trong cơ thể con người. Do đó, các giới hạn phải bảo
vệ chống lại các ảnh hưởng trực tiếp lên cơ thể con người ví dụ như khả năng dòng điện gây
ra sự kích thích các cơ và hệ thần kinh.
Ngoài ra, ở các tần số thấp hơn, phải tính đến các ảnh hưởng gián tiếp có thể xảy ra. Các
ảnh hưởng này bao gồm sốc và bỏng RF gây ra do tiếp xúc vơi scác vật dẫn tích điện ở trong
trường.
e) Mối quan hệ với sức khỏe
WHO (1993) đã công bố xem xét và đánh giá chi tiết của các tài liệu khoa học dựa vào
đó để đưa ra các giới hạn phơi nhiễm. Các đánh giá được thực hiện từ các báo cáo khoa học
về việc có các hiệu ứng sinh học gây nguy hiểm cho sức khỏe hay không. Phản ứng trên các
con vật thí nghiệm cho thấy rằng chúng là các sinh vật nhạy cảm nhất trước các ảnh hưởng có
hại đến sức khỏe (ví dụ như ngừng hoạt động, giảm khả năng hoạt động, giảm sức chịu đựng,
nhận thấy có trường phơi nhiễm và có biểu hiện không thoải mái). WHO kết luận rằng phơi
nhiễm cao (dưới 1h) trong trường điện từ hấp thụ trong toàn bộ cơ thể với mức SAR trung

mật độ dòng điện kích thích lên các mô thần kinh và mô cơ.
Các giới hạn được thiết lập để đảm bảo tránh các ảnh hưởng này. Mặc dù sốc RF thường
tạo ra các ảnh hưởng trong phạm vi từ khó chịu đến bỏng nghiêm trọng cho các mô, nhưng
tình huống có thể phát sinh khi sốc và bỏng như vậy gây ra các tai nạn nghiêm trọng hơn. Các
phép đo trực tiếp dòng điện giữa người và đất hoặc vật thể, sử dụng ampe-mét đơn giản là đủ
để kiểm tra dòng điện lớn nhất có thể xuất hiện trong trường hợp cụ thể. Dòng điện nhỏ hơn
50mA có thể được coi là an toàn. Đối với phơi nhiễm không do nghề nghiệp dưới 10MHz, các
giới hạn phơi nhiễm cần đủ nhỏ để không thể xuất hiện sốc RF, vì sẽ là không hợp lý nếu yêu
cầu nhóm người này phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa để tránh các sốc như vậy.
WHO đã xem xét các số liệu liên kết phơi nhiễm trường điện và trường từ làm tăng rủi
ro gây ung thư hoặc dị dạng bẩm sinh trong các cư dân bị phơi nhiễm nhưng chưa kết luận và
chứng minh được rằng phơi nhiễm trường RF gây ra hoặc thúc đẩy ung thư, hoặc phát triển
các ung thư đang tồn tại. Các dữ liệu này không thể sử dụng để thiết lập các giới hạn phơi
nhiễm.
f) Mức phơi nhiễm dẫn xuất
Các giới hạn về mức hấp thụ riêng SAR trên thực tế là rất khó đo, để đo được SAR thì
phải thử nghiệm hoặc lập mô hình toán học để chứng tỏ sự phù hợp với các giới hạn SAR
đỉnh theo không gian. Các phép đo hoặc phép toán này phải dựa trên cơ sở mối quan hệ
không gian thông thường giữa anten của thiết bị và người sử dụng, trong đó thể hiện khi làm
việc bình thường, anten hoặc các kết cấu bức xạ khác đặt cách cơ thể của người sử dụng một
khoảng nhỏ hơn 20cm.
Trong nhiều trường hợp không thể đo được SAR. Trên thực tế các tham số như mức dẫn
xuất của cường độ trường điện (E) và trường từ (H) hiệu dụng, mật độ dòng năng lượng sóng
phẳng (S) tương đương và dòng điện cảm ứng (I) chạy qua cơ thể người là hàm số của tần số
và có thể dễ dàng đo được và sử dụng để chứng tỏ sự phù hợp.
3.2. IEEE (Mỹ)
Năm 1960, Hiệp hội Tiêu chuẩn Mỹ (American Standards Association) bắt đầu thực
hiện dự án xây dựng các tiêu chuẩn an toàn bức xạ dưới sự bảo trợ của Bộ Hải quân và IEEE.
Trước năm 1988, bộ tiêu chuẩn C95 do Uỷ ban Tiêu chuẩn được công nhận C95
(Accredited Standards Committee C95 - ASC C95) phát triển và được đệ trình ANSI chấp

phát sóng vô tuyến bằng cách sử dụng kíp nổ trong các quá trình vận hành dễ gây nổ
(Recommended Practice for Determining Safe Distances from Radio Frequency
Transmiting Antennas When Using Electric Blasting Caps During Explosive
Operations).
5. IEEE Std C95.5-2002 - Khuyến nghị về đo kiểm các trường điện từ gây nguy hiểm -
tần số radio và vi ba (IEEE Standard Recommended Practice for the Measurement of
Hazardous Electromagnetic Fields - RF and Microwave).
6. IEEE Std C95.6-2002 - Tiêu chuẩn về an toàn phơi nhiễm trường điện từ, dải tần từ 0
đến 3 kHz (IEEE Standard for Safety Levels With Respect to Human Exposure to
Electromagnetic Fields, 0-3 kHz).
7. IEEE Std 1460-1996 - Hướng dẫn về đo kiểm các trường điện và trường từ gần như
tĩnh (IEEE Guide for the Measurement of Quasi-Static Magnetic and Electric Fields).
8. EEE Std C95.7-2007 - Khuyến nghị về chương trình an toàn tần số vô tuyến điện, 3
kHz đến 300 GHz (IEEE Recommended Practice for Radio Frequency Safety
Programs, 3 kHz to 300 GHz).
Tiêu chuẩn C95.1-2005:
Tiêu chuẩn IEEE Std C95.1-2005 đưa ra các mức giới hạn phơi nhiễm đối với các
trường điện và trường từ cho toàn bộ cơ thể và trong khoảng thời gian trung bình. Các giới
hạn được thể hiện theo giá trị mức phơi nhiễm cực đại cho phép (Maximum Permissible
Exposure - MPE). Ngoài ra tiêu chuẩn cũng đưa ra giới hạn về dòng điện cảm ứng và dòng
điện tiếp xúc.
Các mức giới hạn an toàn cho phép trong môi trường có kiểm soát được quy định trong
bảng sau:
Bảng . Bảng quy định giới hạn MPE của tiêu chuẩn C95.1-2005 đối với môi trường có kiểm soát
Dải tần
(MHz)
RMS
cường độ
trường điện
(E)

M
16,3/f
M
(9000/f
M
2
,
100000/f
M
2
)
b
6
30-100 61,4 16,3/f
M
(10, 100000/f
M
2
)
b
6
100-300 61,4 0,163 10 6
300-3000 - - f
M
/30 6
3000-
30000
- - 100 19,63/f
G
1,07


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status