BÁO CÁO ĐỀ TÀI MÔN
TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI 1:
Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong
các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất cách mạng
và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đề tài 2:
Vận dụng những chuẩn mực đạo đức trong tư
tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đạo đức lối sống
cho sinh viên hiện nay
1
MỤC LỤC
Trang
Đề tài 1…………………………………………………………………….4
A. Mở đầu 4
B. Nội dung 5
I. Khái quát về tư tưởng hồ chí minh 5
1. Khái niệm tư tưởng 5
2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh 5
II Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh …….5
1. Nhân tố khách quan 5
1.1 Bối cảnh xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh 5
a. Tình hình thế giới 6
b. Tình hình Việt Nam 7
1.2 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 8
a. Giá trị truyền thống dân tộc 8
b. Tinh hoa văn hóa nhân loại 9
2
c. Chủ nghĩa Mác -Lênin 11
2. Nhân tố chủ quan …12
III. Nhân tố quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí
còn sống", một con người hội đủ khát vọng của các dân tộc dù màu da, tiếng nói, chủng tộc, tôn
giáo, văn hóa khác nhau….
Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn, là ngọn cờ chói
lọi lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên
những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá sẽ
mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, của nhân dân ta. Chúng ta phải tiến
hành cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách sâu rộng,
4
thiết thực, hiệu quả trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, khơi dậy và phát huy các giá trị
đạo đức, truyền thống tốt đẹp, đấu tranh khắc phục sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
lối sống; chặn đứng, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội.
Để “Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, chúng ta cần nắm được cơ sở hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất cách mạng và
khoa của tư tưởng Hồ Chí Minh.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh.
1. Khái niệm tư tưởng.
Trong thuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, khái niệm “tư tưởng” không phải là ý thức tư
tưởng của một cá nhân, một cộng đồng mà có nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan
niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học (thế giới qua và phương pháp luận)
nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên
cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.
2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh.
Dựa trên những định hướng cơ bản của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng Cộng Sản Việt Nam, các nhà khoa học đã dưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh
là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt
Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự
vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng
thời là sự kết hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai
mới là mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa và các nước Chủ nghĩa Đế quốc, phong trào giải
phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ nhưng chưa ở đâu giành được thắng lợi. Chủ nghĩa Mác-Lê nin
6
phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, thâm nhập vào phong trào cách mạng thế giới, trở thành hệ tư
tưởng tiên tiến của thời đại.
Chủ Nghĩa Tư bản phát triển không đều, một số nước Tư bản gây chiến tranh chia lại
thuộc địa dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ nhất (8-1914 đến 11-1918), và nó là một nguyên nhân
bùng nổ cuộc Cách Mạng Tháng 10 (1917). Thắng lợi của Cách Mạng Tháng 10 Nga với sự ra
đời của nhà nước công nông đầu tiên đã mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ Chủ Nghĩa Tư
Bản lên Chủ Nghĩa Xã Hội trên phạm vi quốc tế thúc đẩy sự phát triển của phong trào giải phóng
dân tộc trên toàn thế giới, làm phát sinh mâu thuẫn mới giữa Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ Nghĩa
Xã hội.
Sự xuất hiện chủ nghĩa Lênin có vai trò quan trọng đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minhvà tạo tiền đề bỏ qua Chủ Nghĩa Tư Bản lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam.Tư tưởng Hồ Chí
Minhđược hình thành dần dần từ cảm tính đến lý tính nhằm tìm ra con đường giải phóng cho dân
tộc Việt Nam. Việc xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh là nhu cầu tất yếu khách quan của cách
mạng Việt Nam.
b. Tình hình Việt Nam
* Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là xã hội phong kiến độc lập, nền nông nghiệp
lạc hậu, trì trệ.Chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản
động… không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế
giới. Không tạo ra tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu xâm
lược của chủ nghĩa thực dân.
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và Hiệp định Patơnốt (1884) được ký kết,
xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn mới và trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Trong
lòng xã hội thuộc địa, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu thuẫn cũ, nó không thủ tiêu mâu thuẫn
cũ mà là cơ sở để duy trì mâu thuẫn cũ, làm cho xã hội Việt Nam càng thêm đen tối. Các phong
trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước… lãnh đạo họ là các sĩ phu
văn thân mang cốt cách phong kiến nhưng đều thất bại: như Trương Định, Đồ Chiểu, Thủ Khoa
dân, cứu nước
1.2. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
a. Giá trị truyền thống dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho
mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp, cao quý.
8
- Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Từ văn
hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch
sử: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,… đều đã phản ánh chân lý đó một
cách hùng hồn. chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam. Chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam được hun đúc nên bởi cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân
dân Việt Nam. Bởi vậy, ở mỗi người dân Việt Nam gắn mình với vận mệnh của Tổ quốc, của dân
tộc thì chủ nghĩa yêu nước ấy lại nhân sức mạnh của bản thân, biến thành một sức mạnh thúc đẩy
mình vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, mọi thử thách gian nan. Chính từ thực tiễn, Hồ Chí
Minh đã đúc kết chân lý ấy: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống
quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết
thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”. Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở
thành động lực tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời Hồ Chí
Minh - Nguyễn Ái Quốc, là cơ sở dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác -Lênin, tiếp thu lý luận cách
mạng và khoa học đó, để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, hoài bão của các thế hệ cách
mạng Việt Nam. “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã
đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Và khi Nguyễn Ái Quốc tìm được con đường
cứu nước đúng đắn thì chủ nghĩa yêu nước được nâng lên một tầm cao mới: giải phóng dân tộc,
giải phóng xã hội, giải phóng con người.
- Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách”
trong hoạn nạn, khó khăn. Truyền thống này được hình thành cùng với sự hình thành dân tộc, từ
hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm. Bước sang thế
kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống này vẫn bền vững. Vì
vậy Người đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhấn mạnh bốn
việc đời mà gắn bó với các dân, với nước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân chống
kẻ thù dân tộc.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn kế thừa nhiều tư tưởng của các nhà tư tưởng phương Đông
như: Lão tử, Mặc tử, Quản tử. Đặc biệt là tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn (dân tộc độc lập,
dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc).
Người viết : “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo
Giê xu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.Chủ nghĩa Mác –Lê nin có ưu điểm là phương pháp
làm việc biện chứng.Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều
kiện nước ta.
10
∗ Không những vậy, Hồ Chí Minh còn nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa
dân chủ và cách mạng phương Tây.
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng phương
Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách
mạng Pháp (1791), tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc
trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776). Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp:
tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang Pháp Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm
chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ. Người đã nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình
đẳng, bác ái. Người cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà Khai sáng Pháp như: Voltaire, Rousso,
Montesquieu.
Thiên chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Người quan niệm Tôn giáo là văn hoá.
Điểm tích cực nhất của Thiên chúa giáo là lòng nhân ái. Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư
tưởng văn hoá Đông - Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ
có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời
trước để lại.”
c. Chủ nghĩa Mác -Lênin.
Chủ nghĩa Mác Lê Nin là đỉnh cao trí tuệ nhân loại bao gồm 3 bộ phận cấu thành:
Triết học giúp Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan, phương pháp biện chứng, nhân
sinh quan, khoa học, cách mạng, thấy được những quy luật vận động phát triển của thế giới và xã
hội loài người.
III. Nhân tố quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư
tưởng Hồ Chí Minh.
1. Chủ nghĩa Mác -Lênin
Chủ nghĩa Mác -Lênin là nhân tố ảnh hưởng và tác động quyết định đến quá
trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở hình thành
thế giới quan và phương pháp luận khoa học của Hồ Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn
ái Quốc -Hồ Chí Minhđã có bước phát triển về chất từ một người yêu nước trở
thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Chính
trên cơ sở của lý luận Mác -Lênin đã giúp Người tiếp thu và chuyển hoá những
nhân tố tích cực, những giá trị và tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại để
tạo nên tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử. Vì vậy, trong
12
quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Mác –Lê nin có vai trò to
lớn, là cơ sở, nguồn gốc chủ yếu nhất.
Chủ nghĩa Mác -Lênin là đỉnh cao của tư duy nhân loại; là thế giới quan,
phương pháp luận khoa học và cách mạng, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, của các Đảng cộng sản và công nhân trong đấu tranh xóa bỏ
mọi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ
nghĩa.
Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác -Lênin. Đối với Người,
đến với chủ nghĩa Mác -Lênin cũng có nghĩa là đến với con đường cách mạng vô
sản. Từ đây, Người tìm thấy con đường cứu nước chân chính, triệt để: "Muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô
sản" và "chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai
cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách
mạng thế giới".
Đến với chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh có bước
nhảy vọt lớn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp dân
tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu nước lên
một trình độ mới trên lập trường của chủ nghĩa Mác -Lênin.Trong suốt cuộc đời
dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Những tác phẩm của Người là "Bản án chế độ
thực dân Pháp" (xuất bản năm 1925) và "Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông
Dương" đã vạch trần bản chất và những thủ đoạn bóc lột, đàn áp, tàn sát dã man
của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa, nêu rõ nỗi đau khổ, của
kiếp nô lệ, nguyện vọng khát khao được giải phóng và những cuộc đấu tranh của
các dân tộc thuộc địa.
Khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng
quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách
sáng tạo, chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn cơ bản của các nước thuộc địa, đó là mâu
thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc, thực dân thống trị và bè lũ tay sai với toàn thể nhân
dân, dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo Theo Người, ở Việt Nam cũng
như ở các nước phương Đông, do trình độ sản xuất kém phát triển nên sự phân hóa
giai cấp và đấu tranh giai cấp không giống như ở các nước phương Tây. Từ đó,
Người có quan điểm hết sức sáng tạo là gắn chủ nghĩa dân tộc chân chính với chủ
nghĩa quốc tế, và nêu lên luận điểm: "Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất
14
nước". Người còn cho rằng, chủ nghĩa dân tộc nhân danh Quốc tế Cộng sản là "một
chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời".
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp.Người khẳng định, phải đi từ giải
phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp; dân tộc không thoát khỏi kiếp ngựa trâu thì
ngàn năm giai cấp cũng không được giải phóng. Đường lối của cách mạng Việt Nam
là đi từ giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến lên
chủ nghĩa xã hội; kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản
của toàn bộ sự nghiệp cách mạng đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên
minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Cũng từ luận điểm cơ bản đó, Hồ Chí Minh đã có những phát hiện sáng tạo về Đảng
Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư; xác
định quy luật hình thành của Đảng là kết hợp chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào
công nhân và phong trào yêu nước". Đảng vừa đại diện cho lợi ích của giai cấp,
Hồ Chí Minh đã không ngừng quan sát, nhận xét thực tiễn, làm phong phú thêm hiểu biết
của mình, hình thành nên những cơ sở quan trọng để tạo nên những thành công trong những lĩnh
vực hoạt động lý luận.
Người cũng đã khám phá ra quy luật hoạt động vận động của xã hội, đời sống văn hóa
và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể để khái quát thành lý luận, đem lý luận
cỉ đạo thực tiễn và được chỉ đạo trong thực tiễn. Nhờ vậy mà lý luận của Hồ Chí Minh mang giá
trị khách quan, cách mạng và khoa học.
b. Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt đông thực tiễn
Phong cách độc lập, tự chủ, sáng tạo là đặc trưng nổi bật, bao trùm nhất, điển hình cho
phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Đặc trưng này được thể hiện ngay khi người còn ngồi trên ghế
nhà trường, cho đến khi lựa chọn con đường cứu nước.Chính nét đặc sắc này đã làm nên phong
cách tư duy của người vừa mang tính độc lập vừa có tính thời đại, vừa có giá trị phổ biến bền
vững vừa có tính độc lập rất riêng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một người giàu trí tuệ mà còn là một người giàu tình
cảm, có ý chí nghị lực phi thường. Ở người, ý chí, tình cảm cách mạng và tri thức khoa học
thống nhất trong tư duy, trong hành động và trong quá trình vạch ra đường lối cho cách mạng
Việt Nam.
16
Mọi suy nghĩ, sáng tạo của người đều xuất phát từ thực tiễn, cách mạng và thời đại. Xuất
phát từ yêu cầu của thực tiễn mà người đưa ra những luận điểm đúng đắn nhằm giải quyết
những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một vĩ nhân với phong cách tư duy độc lập, tự chủ,
sáng tạo gắn với thực tiễn là bởi vì người “đã biết làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng những di
sản quý báu của văn hóa nhân loại. Người biết kế thừa các học thuyết một cách có phê phán,
chọn lọc, không bao giờ sao chép máy móc cũng không bao giờ phủ nhận một cách giản đơn mà
có sự phân tích sâu sắc để tìm ra yếu tố tích cực, làm giàu thêm vốn kiến thức và hành trang tư
tưởng của mình”.
Quan điểm biện chứng của Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong cách tiếp cận với các học
thuyết cách mạng. Hồ Chí Minh luôn coi các học thuyết chỉ là công cụ để thực hiện mục tiêu giải
phóng dân tộc và đem lại hào bình, tự do, hanh phúc cho nhân dân. Trong “con đường dẫn tôi
18
Đề tài 2:
Vận dụng những chuẩn mực đạo đức trong tư tưởng Hồ
Chí Minh để xây dựng đạo đức lối sống cho sinh viên
hiện nay
19
Lời mở đầu
Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng, sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã gần 20 năm, tính từ Đại hội VI ( l2 /l986 ) đến nay.
Khoảng thời gian đó đã đủ để sinh thành một thế hệ. Người đã đi xa nhưng ai cũng cảm thấy
như Người vẫn ở bên cạnh chúng ta, cổ vũ khuyến khích những việc làm tốt, nhắc nhở giúp đỡ
chúng ta những yếu kém, hạn chế, sửa chữa những khuyết điểm sai lầm để tiến bộ trưởng
thành.
Trong thời kỳ phát triển mới hiện nay của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định:
Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá trở thành nền tảng tinh thần của xã hội.
Bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, bất cứ một hoạt động nào của tổ chức và cá
nhân một người, đạo đức cũng thể hiện vai trò quan trọng của nó.Thiếu vắng hoặc yếu kém về
đạo đức, con người không có nhân tính đầy đủ, không phát triển được nhân tính để thành
người và làm người. Suy thoái đạo đức, xã hội không thể phát triển bền vững trên tất cả các
lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hoá và xã hội.
Trong hệ thống các động lực phát triển xã hội, đạo đức là một động lực tinh thần không
thể thiếu. Và chúng ta, thế hệ của tương lai, những sinh viên phải làm gì để có thể duy trì một
nếp sống đạo đức tốt đẹp hơn. Vậy ta hãy vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đạo
đức lối sống cho sinh viên hiện nay.
20
I. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cho sinh viên
đức. Riêng đối với thế hệ trẻ, việc tu dưỡng này còn quan trọng hơn, vì họ là “người chủ tương
lai của nước nhà”, là cái cầu nối các thế hệ – “người tiếp sức cách mạng cho thế hệ già, đồng
thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”. Chính vì vậy, từ rất sớm Hồ Chí
Minh đã đặc biệt quan tâm giáo dục đạo đức, chăm lo rèn luyện đạo đức cho sinh viên. Nói
chuyện với sinh viên, Người khẳng định: “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có
đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những
không làm được gì có ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có
tài ví như ông Bụt không làm hại gì nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”.
2.2. Kiên trì tu dưỡng theo các phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh
Cũng như cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân khác, đối với tầng lớp sinh viên,
thanh niên trí thức, Hồ Chí Minh đã sớm xác định những phẩm chất đạo đức tối cần thiết để
họ có phương hướng phấn đấu, rèn luyện. Trong Bài nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần
thứ hai (ngày 7–5–1958), những phẩm chất đó được Người tóm tắt trong “sáu cái yêu”: yêu
Tổ quốc; yêu nhân dân; yêu chủ nghĩa xã hội; yêu lao động; yêu khoa học và kỉ luật: Bởi vì tiến
lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỉ luật”.
Theo Hồ Chí Minh, để có được những phẩm chất như vậy, sinh viên phải rèn luyện cho
mình những đức tính như: Trung thành, tận tụy, thật thà, trung thực và chính trực, phải xác
định rõ nhiệm vụ của mình, “không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự
hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà nhiều hơn?
Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hi sinh phấn đấu chừng nào”. Trong học tập, rèn luyện, phải
kết hợp lí luận với thực hành, học tập với lao động; phải chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa
cá nhân, chống tư tưởng háo danh, hám lợi. “Chống tâm lí ham sung sướng và tránh khó
nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng xa xỉ, chống
cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”. Phải trả lời được câu hỏi: Học
để làm gì? Học để phục vụ ai? Phải xác định rõ tác nào là tốt, thế nào là xấu? Ai là bạn, ai là
22
thù?”… Người chỉ rõ: “Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn.
Bất kì là ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quát ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những
tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành
động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù… Điều gì phải, thì phải cố làm cho kì được, dù
lòng ham muốn vật chất. Đó là tư cách người cán bộ cách mạng, và tự mình Người đã gương
mẫu thực hiện. Suốt đời, Người sống trong sạch thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư, luôn vì nước, vì dân, vì con người, không gợn chút riêng tư. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
viết: “Hồ Chủ tịch không có cái gì riêng. Cái gì của nước, của dân là của Người. Quyền lợi tối
cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân là sự lo lắng đêm ngày của Người. Gia đình của
Người là đại gia đình Việt Nam.
Là lãnh tụ cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những
nghi thức trang trọng cầu kì, suốt đời giữ một nếp sống thanh bạch tao nhã, giản dị, khiêm
tốn, khắc khổ, cần lao và tranh đấu để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Nói về những đức tính vĩ
đại của Hồ Chí Minh, X. Agienđê – vị Tổng thống anh hùng của nước Cộng hoà Chilê đã khái
quát: “Nếu như muốn tìm một sự tiêu biểu cho tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó
là đức tính vô cùng giản dị và sự khiêm tốn phi thường”.
+ Ba là, học đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân và hết
lòng, hết sức phục vụ nhân dân; luôn thân ái, vị tha, khoan dung và nhân hậu với con người
Hồ Chí Minh có tình thương yêu bao la đối với con người. Tình thương đó gắn liền với niềm
tin tuyệt đối vào sức mạnh và trí tuệ của nhân dân. Người luôn dạy cán bộ, đảng viên việc gì
có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh; phải gần dân, hiểu
dân, phải học dân, kính trọng nhân dân; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người phê phán
quyết liệt đầu óc “quan cách mạng” và tự mình thường xuyên đi xuống cơ sở để tìm hiểu “lắng
nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng”. Là người có
uy tín rất cao và sức hấp dẫn rất lớn, song không bao giờ Hồ Chí Minh đặt mình cao hơn nhân
dân, chỉ tâm niệm suốt đời là công bộc của nhân dân, “như một người lính vâng lệnh quốc dân
ra trước mặt trận”.
Với tình thương yêu bao la, Hồ Chí Minh giành cho tất cả, chia sẻ với mọi người những nỗi
đau riêng. Người nói, trong “mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả
những nỗi đau khổ riêng của mọi người, mọi gia đình thì thành nỗi đau khổ của tôi”.
Lòng nhân ái, khoan dung, nhân hậu của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ đại nghĩa của dân tộc, nên
có sức mạnh và cảm hoá to lớn trong việc xây dựng và tái tạo lương tri. Ở Hồ Chí Minh,
24
thương người là một tình cảm lớn. Cho nên, khi làm cách mạng, Hồ Chí Minh đặt vấn đề tự do