Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
TIỂU LUẬN
ĐỀ XUẤT NGUỒN CẤP CHÍNH CHO NƯỚC TA TỪ HAI
NGUỒN CẤP NƯỚC CHÍNH
Giảng viên hướng dẫn : Hà Xuân Ánh
Sinh viên : Nguyễn Như Dũng
Mã sinh viên : 1251030205
Lớp tín chỉ : DT2210-X.4_LT
1
Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
MỤC LỤC
Mục Lục 1
Lời Mở Đầu 2
Nội dung 3
Phần 1 : Nước mặt 4
1.1 Nước mặt 4
1.2 Nước sông , ao hồ 5
Phần 2 : Nước ngầm 6
Phần 3 : Đề xuất 8
Kết Luận 9
2
Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên. Sự đa dạng và phong phú của các
loại tài nguyên đã đem lại cho nước ta những lợi ích kinh tế - xã hội không nhỏ, phục vụ
cho đời sống của người dân, cộng đồng và sự phát triển đất nước. Trong đó có tài nguyên
nước.
Nước là một trong những loại tài nguyên giàu có của nước ta. Nước là tài nguyên đặc
biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Nước không thể thiếu
cho sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật và nhân lợi trên Trái Đất. Nước quyết định
sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước, mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho
Dương, phía đông là biển nên nước ta luôn có lượng mưa hằng năm dồi dào, khoảng 650
km3 hay 1960 mm trải đều khắp bề mặt lãnh thổ. Phân bố không đều và biển đổi mạnh theo
thời gian.Quy luật phân bố lượng mưa trung bình nhiều năm không đều trong không gian,
phụ thuộc vào hướng của sườn đón gió Trung tâm mưa lớn nhất (4.000-5.000mm) xuất
hiện ở một số khu vực, như khu vực núi Nam Châu Lĩnh (Quảng Ninh), Vòm sông
Chảy (khu vực Bắc Quang), vùng núi Hải Vân, Trà My, Ba Tơ. Ngoài ra, còn một số trung
tâm mưa tương đối lớn (3.000 – 4.000mm), xuất hiện ở vùng núi cao Hoàng Liên Sơn - Pu
Si Lung, vùng núi biên giới Việt Trung ở tả ngạn sông Đà thuộc tỉnh Lai Châu, sườn phía
đông dãy Trường Sơn thuộc tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị (Voi Mẹp), Thừa Thiên
Huế (A Lưới) , đèo Ngang, vùng núi Ngọc Linh ở tỉnh Kon Tum và vùng núi Chư -Yang-
Sin ở tỉnh Đắc Lắc và Lang Biang ở tỉnh Lâm Đồng. Hai trung tâm mưa lớn nhất nước ta là
Bắc Quang và Bạch Mã đạt 5013 mm.
1.2. Nước sông , ao hồ
1.2.1 Đặc điểm
Chất lượng :
+ Chịu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu , các yếu tố khách quan bên
ngoài , chuyển qua nhiều vùng nên rất nhiều tạp chất
+ Dao động theo mùa , theo vùng địa lí
+ Chứa nhiều chất hữu cơ , vi trùng
+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nước thải đô thị và khu công nghiệp
+ Có độ màu tương đối cao
Trữ lượng : Được nuôi dưỡng bởi lượng mưa tương đối dồi dào và một lượng
lớn nước từ bên ngoài vào lãnh thổ nước ta .
1.2.2 Nước sông
4
Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
Sông là dòng chảy thường xuyên có kích thước tương đối lớn và nước sông được cung
cấp bởi nước từ khí quyển đến dạng lỏng ( mưa) hay rắn ( tuyết) trong phạm vi lưu vực
sông. Nguồn cung cấp chính cho sông là nước mưa, chế độ mưa có ảnh hưởng đến chế độ
dòng chảy. Nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất của tài nguyên nước
thế này, nhằm phát triển thủy điện, chống lũ, cung cấp nước cho hạ du vào mùa khô,
phát triển giao thông đường thủy và cải thiện môi trường,…đã có hơn 10.000 hồ
chứa nước các loại được xây dựng với tổng dung tích khoảng 37.000 triệu km3,
chiếm 4,4 % tổng lượng dòng chảy năm trung bình của các sông suối.
Đầm phá thường được hình thành ở vùng ven biển miền Trung. Nằm dọc ven biển
tỉnh Thừa Thiên Huế, hệ thống đầm phá dài khoảng 68 km, bao gồm phá Tam
5
Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
Giang, đầm Thủy Tú, vụng Cầu Hai và đầm Lăng Cô. Đầm phá là nơi nuôi trồng và
đánh bắt thủy sản nước lợ; đầm Trà Ổ và đầm Thị Nại ở tỉnh Bình Định; đầm Nại ở
tỉnh Ninh Thuận.
Ngược lại, những trung tâm mưa nhỏ thường được hình thành ở những vùng thấp, khuất gió hoặc nằm song song với hướng gió ẩm. Một số trung tâm mư a ít xuất hiện ở các khu vực dưới đây:- Dưới 1000 mm xuất hiện ở ven biển Ninh Thuận và Bình Thuận, trong đó có một số nơi 500 - 600 mm, như ở khu vực Cà Ná, Ninh Thuận Từ 1000 - 1200 mm xuất hiện ở m ột số thung lũng sông hay cao nguyên khuất gió mùa ẩm, như thung lũng sông Kỳ Cùng ở tỉnh Lạng Sơn, thung lũng thượng nguồn sông Mã, cao nguyên Sơn La, M ộc Châu ở tỉnh Sơn La, các cao nguyên đá vôi Đồng Văn, Mèo Vạc ở tỉnh Hà Giang, thung lũng trung lưu sông Ba, khu vực ven biển Khánh Hòa và khu vực nằm giữa sông Tiền và sông Hậu ở tỉnh Đồng Tháp - An Giang…Sự phân bố mưa trong năm rất không đều và được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. • Ở Bắc Bộ mùa mưa bắt đầu từ tháng V, VI và kết thúc sớm vào tháng IX, X ;• Ở Bắc Trung Bộ mùa mưa có xu thế xuất hiện muộn và ngắn dần từ bắc vào nam, với mùa mưa bắt đầu vào các tháng V, VI – X, XI ở phần phía bắc và xuất hiện muộn vào các tháng IX, X –XII ở phía n am;• Ở Nam Trung Bộ mùa mứ xuất hiện
muộn và ngắn nhất so với các vùng khác, vào tháng IX – XII ở phần lớn các nơi, riêng ở phía Tây tỉnh Quảng Nam xuất hiện vào tháng VIII – XI và vào tháng V – X ở Ninh Thuận – Bình Th
PHẦN 2 : NƯỚC NGẦM
2.1 Đặc điểm
2.1.1 Chất lượng
+ Nước ngầm do nước mưa thấm vào đất qua các tầng chứa nước nên nước ngầm
có hàm lượng chất lơ lửng nhỏ
+ Thường có các khoáng chất : Fe , Mn , hàm lượng kim loại phụ thuộc vào cấu
tạo địa chất từng khu vực nhưng đều lớn hơn tiêu chuẩn cho phép .
+ Nhiệt độ ổn định từ : 18˚C - 27˚C .
+ Chất lượng tốt hơn nước mặt
Tuỳ theo vị trí và độ sâu của giếng đào hoặc giếng khoan mà ta thu được các
loại nước ngầm sau đây :
• Nước ngầm không áp : Thường là nước ngầm mạch nông , ở độ sâu 3-
10m . Loại này thường bị nhiễm khuẩn nhiều , trữ lượng ít và chịu ảnh
hưởng trực tiếp từ thời tiết .
• Nước ngầm có áp : Thường là nước ngầm mạch sâu hơn 20 m , chất
lượng nước tốt hơn và trữ lượng nước tương đối phong phú . Tại vị trí
nào đó khi khoan ta sẽ thu được giếng phun .
Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, ) có hàm lượng Hg, As trong nước vượt quá giới hạn cho phép
cho nước sinh hoạt.
- Thành phần các vi khuẩn trong nước đều nhỏ hơn giới hạn cho phép, các chất độc hại có
nguồn gốc tự nhiên có hàm lượng dưới mức quy định. Do đó, nước ngầm nhạt có chất
lượng phù hợp với tiêu chuẩn nước dùng trong ăn uống và sinh hoạt.Ở vùng đông bằng
châu thổ, nước ngầm ở độ sâu từ 1 – 200m, ở miền núi nước ngầm thường ở độ sâu 10 –
150m, còn ở vùng núi đá vôi nước ngầm ở độ sâu khoảng 100m. Đặc biệt vùng Tây
Nguyên, nước ngầm thường sâu vài trăm mét.Lượng mưa hằng năm lớn do đó nước giếng
sẽ dễ dàng bị ô nhiễm do nước mưa mang những chất độc hại vào nguồn nước sâu trong
lòng đất. Có nguy cơ nhiễm mặn cao ở các vùng ven biển khi thủy triều xâm nhập.
7
Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
PHẦN 3 : ĐỀ XUẤT
Từ 2 nguồn cấp chính là : nước ngầm và nước mặt , chúng ta có thể thấy :
+ Chất lượng của nước ngầm tốt hơn chất lượng của nước mặt
+ Nước mặt phải xử lí, sử dụng nhiều hoá chất làm sạch , qua nhiều quá trình hơn
nước ngầm . Trong khi đó , chỉ cần khử trùng hoặc khử kim loại độc từ nước ngầm là
có thể sử dụng được
+ Trữ lượng của nước ngầm cũng khá phong phú , tuy không dồi dào như nước mặt
+ Nguồn nước ngầm có khả năng khai thác trong thời gian dài .
Vậy đề xuất cho nguồn cấp cho quốc gia là nguồn nước ngầm vì những lí do
trên .
Tuy vậy , hiện nay tình hình nước ngày càng ô nhiễm , cần sử dụng hợp lí
nguồn nước , cần phối hợp cả 2 nguồn cấp để phục vụ các yêu cầu xã hội : sản
xuất , sinh hoạt ,…
8
Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
KẾT LUẬN
Tài nguyên nước của nước ta là hữu hạn , phần lớn bắt nguồn từ các nước xung quanh .
Do sự biến đổi của tự nhiên , các tác động tiêu cực của kinh tế cũng như sự đô thị hoá đã
20
Tiểu luận cấp thoát nước | Nguyễn Như Dũng
21